Đứng ở cổng chùa nhìn vào, quý vị sẽ khựng lại một nhịp. Trước mặt là một tòa nhà cao, tường dày, cửa và cuốn mái đều vuốt lên thành vòm nhọn, xa trông không khác gì một thánh đường phương Tây. Nhưng trên đỉnh không có thánh giá, và bước qua ngưỡng cửa thì bên trong là hương án, là tượng Phật, là câu đối chữ Hán. Bên phải tòa nhà ấy là một ngọn tháp mười một tầng đứng trên lưng một con rùa đá lớn, bên trái là mặt hồ phẳng, và giữa hồ là một quả chuông đồng khổng lồ nằm im.
Chùa Cổ Lễ vì thế là nơi khó xếp loại nhất trong các ngôi chùa lớn của vùng châu thổ. Cái quý vị nhìn thấy hôm nay không phải ngôi chùa gỗ thời Lý, mà là một công trình gạch được dựng lại từ đầu thế kỷ 20. Cái gốc thời Lý thì vẫn còn, nhưng nằm ở lớp khác: ở vị thần được thờ, ở nếp thờ tự, ở tên chữ của chùa.

IThờ Phật Và Thờ Thánh
Tên chữ của chùa là Thần Quang tự. Ngoài ban Phật, chùa còn thờ Quốc sư Nguyễn Minh Không, và đây là điều cần nắm trước khi bước vào, vì nó quy định cả cách bài trí lẫn cách người trong vùng đi lễ.
Lối bài trí này gọi là tiền Phật hậu Thánh: phía trước thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông, phía sau thờ một vị Thánh tổ vốn là cao tăng có thật. Đây không phải sáng tạo riêng của Cổ Lễ mà là nếp chung của một nhóm chùa vùng hạ lưu sông Hồng cùng thờ Nguyễn Minh Không hoặc Dương Không Lộ. Trong nếp ấy, vị cao tăng được dân gian nâng lên hàng Thánh, có ngày sinh ngày hóa, có lễ rước và có văn tế riêng, tức là được thờ theo lối thờ thần chứ không chỉ theo lối thờ tổ nhà chùa.
Nguyễn Minh Không, theo các tài liệu nghiên cứu Phật học, sống trong khoảng năm 1065 tới năm 1141, đời Lý. Ông nổi tiếng vì chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông và được phong Quốc sư. Dân gian còn xếp ông vào nhóm ba vị được gọi là Nam thiên Tam vị Thánh tổ, cùng với Dương Không Lộ và Từ Đạo Hạnh. Lớp truyện về tài đúc đồng và tài chữa bệnh của ông thuộc về truyền thuyết chứ không phải sử biên niên, nhưng chính lớp truyện ấy giải thích vì sao các chùa thờ ông đều gắn với chuông lớn và tượng đồng.
Ngoài Phật và Thánh tổ, chùa còn có ban thờ Tiến sĩ Đào Toàn Bân và Trạng nguyên Đào Sư Tích, hai người con của chính vùng đất này, cùng ban thờ Đức Thánh Trần. Một ngôi chùa thờ cả người đỗ đạt của làng là dấu của vùng quê có truyền thống khoa bảng, nơi nhà chùa và nhà nho không đứng tách nhau.
IIHai Lớp Niên Đại Của Một Ngôi Chùa
Muốn đọc đúng chùa Cổ Lễ thì phải tách làm hai lớp. Lớp thứ nhất là gốc tích: hồ sơ di tích của cơ quan quản lý ghi chùa hình thành từ thời Lý, các bản tin về đợt xếp hạng năm 2025 ghi rõ hơn là thế kỷ 12, đời Lý Thần Tông. Lớp thứ hai là toàn bộ những gì đang đứng trên mặt đất, và lớp ấy thuộc về đầu thế kỷ 20.
Giữa hai lớp ấy có một chỗ đứt. Tài liệu của ngành văn hóa địa phương chép rằng năm Tân Hợi 1611 một trận lũ lớn đã vùi ngôi chùa cũ, rồi trong niên hiệu Hoằng Định, tức khoảng các năm 1601 tới 1619, dân trong vùng dựng lại chùa theo bố cục hình chữ công. Trận lụt năm 1611 ấy cũng chính là trận lụt sông Hồng đã làm đổi thay hàng loạt ngôi chùa cổ ở hạ lưu, trong đó có ngôi chùa Nghiêm Quang gốc của hai chùa Keo. Vùng đất này thấp, và nước sông là thứ viết lại lịch sử kiến trúc của nó nhiều lần.
Sang đầu thế kỷ 20, ngôi chùa dựng lại thời Lê đã xuống cấp. Năm 1902, Hòa thượng Phạm Quang Tuyên hạ giải các nếp nhà cũ và dựng một công trình hoàn toàn mới, theo một lối mà tài liệu địa phương gọi là Nhất Thốc Lâu Đài. Các thế hệ kế tiếp làm thêm nhà hội quán, đền Thánh, đền Mẫu và vườn tháp mộ sư tổ. Chính Hòa thượng Phạm Quang Tuyên cũng có khu tháp mộ riêng trong khuôn viên di tích.
- Thế kỷ 12Khởi dựng thời LýHồ sơ di tích ghi chùa hình thành từ thời Lý, gắn với Quốc sư Nguyễn Minh Không. Bản tin về đợt xếp hạng năm 2025 ghi cụ thể là thế kỷ 12, đời Lý Thần Tông. Bảng dữ kiện của thư viện dùng mốc quy ước 1150 cho lớp niên đại này.
- 1611Lũ vùi ngôi chùa cũTài liệu của ngành văn hóa địa phương chép năm Tân Hợi 1611 nước lớn vùi lấp ngôi chùa gốc. Đây cũng là trận lụt sông Hồng đã làm đổi thay nhiều chùa cổ ở hạ lưu.
- Thế kỷ 17Phục dựng theo chữ côngTrong niên hiệu Hoằng Định, khoảng các năm 1601 tới 1619, dân trong vùng dựng lại chùa theo bố cục hình chữ công, tức lối chùa gỗ Bắc Bộ quen thuộc.
- 1902Hòa thượng Phạm Quang Tuyên dựng lạiCác nếp nhà cũ được hạ giải, một công trình gạch hoàn toàn mới được dựng theo lối Nhất Thốc Lâu Đài. Đây là mốc sinh ra diện mạo quý vị thấy hôm nay.
- 1921Xây cầu cuốn qua hồCây cầu cuốn dài 10,60 mét, rộng 4 mét, vắt ngang hồ Chu Tước phía trước chùa, nối trục đi từ ngoài vào.
- 1927 tới 1929Dựng tháp Cửu Phẩm Liên HoaCác nguồn ghi năm khởi dựng ngọn tháp khác nhau, một bên ghi 1927 và một bên ghi 1929. Chúng tôi ghi cả hai thay vì chọn bừa.
- 1936Đúc quả Đại Hồng ChungQuả chuông đồng nặng 9.000 kg, các nguồn ghi cao khoảng 4,2 mét, đường kính khoảng 2 mét, thành chuông dày 8 phân. Quả chuông này chưa từng được đánh.
- 2025Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng theo Quyết định số 1959 ngày 11 tháng 9 năm 2025, loại hình di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật. Trước đó chùa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia từ năm 1988.
Chùa vẫn hay được gọi là ngôi chùa nghìn tuổi, và nhiều người vì thế tưởng tòa nhà vòm nhọn đang đứng kia cũng cổ như vậy. Nói cho đúng thì tuổi nghìn năm thuộc về nơi thờ tự chứ không thuộc về công trình. Ngôi chùa gốc thời Lý không còn cấu kiện nào trên mặt đất. Bộ mặt hiện nay bắt đầu từ năm 1902 và hoàn chỉnh dần trong ba thập niên sau đó. Hai lớp niên đại ấy đều thật, chỉ là không được lẫn vào nhau.
IIIVòm Nhọn, Tháp Sen Và Quả Chuông Dưới Hồ
Các hạng mục của chùa trải thành một trục dài theo hướng đông tây, đi từ ngoài vào gồm tháp, cầu, tam quan, hội quán, đền thờ, chùa chính, nhà tổ, phương đình và gác chuông. Trục ấy dài và thoáng, khác hẳn lối chùa Bắc Bộ quen thuộc vốn dồn các nếp nhà lại gần nhau trong một khuôn vuông.
Tòa chính điện, tài liệu địa phương gọi là tòa Nhất Trụ, dài 29,30 mét và rộng 13,90 mét, gồm chín tòa nối nhau bằng mái vòm cuốn. Vật liệu là gạch, vôi, cát và mật mía, không dùng xi măng. Đây là chỗ đáng chú ý nhất về mặt nghề: cả khối nhà cao gần ba chục mét ấy đứng được là nhờ kết cấu vòm và nhờ một loại vữa cổ truyền, chứ không nhờ cốt thép.
Khối nhà cao, tường dày, cửa và mái vuốt lên thành vòm nhọn theo tinh thần kiến trúc Gothic phương Tây, nhưng bài trí bên trong hoàn toàn theo lối chùa Việt. Xây bằng gạch vôi mật mía, dài 29,30 mét, rộng 13,90 mét.
Ngọn tháp đứng trên lưng một con rùa đá lớn giữa hồ. Hồ sơ di tích ghi tháp có 11 tầng gồm một tầng đế, chín tầng hoa sen và một tầng đỉnh, cao 26,30 mét. Nhiều bản tin phổ thông lại ghi tháp chín tầng cao 32 mét với lối đi xoắn ốc 98 bậc trong lòng. Hai cách ghi này vênh nhau.
Cầu cuốn dựng năm 1921, dài 10,60 mét, rộng 4 mét, bắc qua hồ nước phía trước mà tài liệu địa phương gọi là hồ Chu Tước. Người đi lễ qua cầu rồi mới tới sân chùa.
Quả Đại Hồng Chung đúc năm 1936, nặng 9.000 kg, nằm trong lòng hồ nước phía sau hội quán. Chuông được hạ xuống nước để giữ gìn vào giữa thế kỷ 20 và từ đó nằm lại đó, chưa từng được đánh một lần nào.
Trên gác treo quả chuông đồng nặng 9.000 kg đúc năm 2003, làm theo phiên bản quả chuông năm 1936. Tầng trên còn một quả chuông đúc thời Lê, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ bảy năm 1799, nặng khoảng 300 kg.
Khu tháp mộ các vị sư tổ trong khuôn viên, trong đó có tháp mộ riêng của Hòa thượng Phạm Quang Tuyên, người dựng lại toàn bộ ngôi chùa từ năm 1902.
Vì sao một ngôi chùa lại mượn dáng vòm nhọn của nhà thờ? Câu trả lời nằm ở chỗ thời điểm. Đầu thế kỷ 20, kỹ thuật xây vòm đã phổ biến ở vùng châu thổ, trong khi gỗ lim khổ lớn mỗi lúc một hiếm. Người dựng chùa chọn cái dựng được, cao được và bền được, rồi giữ nguyên nội dung thờ tự bên trong. Cách làm ấy không riêng gì Cổ Lễ, nhưng ở đây nó được đẩy tới mức triệt để nhất.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Chùa nằm giữa vùng đồng bằng thấp của hạ lưu sông Hồng, nơi không có một ngọn núi nào để làm hậu chẩm. Trong phép xem đất, chỗ dựa ở vùng châu thổ được thay bằng hai thứ: nền đất nổi cao hơn ruộng chung quanh, và mặt nước bao lấy khu đất. Cả hai thứ ấy đều có ở đây, và mặt nước thì không phải nước tự nhiên mà là hồ đào, tức là người dựng chùa đã chủ động tạo ra cái mình cần.
Mặt nước phía trước được tài liệu địa phương gọi là hồ Chu Tước. Tên ấy đáng để ý. Trong tứ tượng, Chu Tước là con chim đỏ giữ phương Nam, ứng với khoảng trống phía trước công trình mà phép xem đất gọi là minh đường. Đặt một hồ nước ở đó rồi gọi thẳng nó là hồ Chu Tước là làm đúng sách: minh đường có nước thì khí tụ, và người đi lễ phải qua cầu, tức phải rời đất liền một quãng ngắn trước khi vào tới sân chùa. Quãng ngắn ấy có tác dụng cắt nhịp, đưa người từ nhịp chợ búa ngoài đường sang nhịp thờ tự.
Về trục và hướng, hồ sơ di tích cho biết các hạng mục trải dọc theo hướng đông tây. Đây là điểm khác với đa số chùa Bắc Bộ vốn quay mặt về nam. Đọc theo lối cũ, trục đông tây là trục của mặt trời mọc và lặn, hợp với một ngôi chùa mang tên Thần Quang, nghĩa là ánh sáng thiêng. Chữ trong tên và chiều của trục đất trùng nhau, và trong phép cũ sự trùng nhau ấy gọi là đắc cách, tức được đúng lối.
Cuối cùng là hai vật đứng đối nhau trên khu đất: ngọn tháp Cửu Phẩm Liên Hoa vươn lên và quả chuông chín tấn chìm xuống. Một cái là Hỏa và Mộc, thế bút đâm trời, chủ về văn vận và về đường tu tiến lên. Một cái là Kim nằm trong Thủy, kim khí nặng giấu dưới nước, chủ về sự giữ gìn và tích tụ. Người xưa không nhất thiết đã tính như vậy khi làm, nhưng đọc lại thì thấy khu đất này có đủ cả hai chiều lên và xuống, và đó là điều hiếm gặp ở một ngôi chùa đồng bằng.
VHội Chùa Tháng Chín
Hội chính của chùa mở vào tháng chín âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của Thánh tổ Nguyễn Minh Không, chứ không mở vào dịp đầu xuân. Các nguồn thống nhất ghi hội diễn ra từ ngày 13 tới ngày 16 tháng chín âm lịch.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| 13 tháng Chín | Khai hội và dâng hương | Mở đầu kỳ hội, lễ dâng hương tại ban Phật và ban Thánh tổ, cáo yết xin phép mở hội. |
| 14 tháng Chín | Rước và tế | Đám rước quanh khu chùa và trong vùng, đội tế hành lễ trước đền Thánh theo nghi thức cổ truyền. |
| 15 tháng Chín | Ngày chính hội | Ngày trọng nhất, kỷ niệm ngày sinh Thánh tổ Nguyễn Minh Không, có múa chầu rối và các khoa cúng. |
| 16 tháng Chín | Bơi trải và trò hội | Cuộc đua thuyền trên sông trước chùa, cùng tổ tôm điếm và các trò diễn của các giáp trong vùng. |
| Rằm và mùng một | Lệ thường tháng | Ngoài kỳ hội, chùa đông người vào các ngày rằm mùng một và dịp đầu xuân theo lệ chung của chùa Bắc Bộ. |
Điểm đáng chú ý của hội này là bơi trải. Một cuộc đua thuyền đặt trong kỳ hội của nhà chùa cho thấy hội Cổ Lễ không thuần là hội Phật, mà mang cả phần hội làng của một vùng sông nước. Vị được kỷ niệm cũng không phải một vị Phật mà là một cao tăng đã thành Thánh tổ, nên nghi thức có cả phần tế theo lối thờ thần lẫn phần khoa cúng theo lối nhà chùa.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Chùa nằm ở xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình, thuộc địa phận tỉnh Nam Định cũ, cách thành phố Nam Định cũ chừng mười lăm cây số về phía đông nam. Đi cùng tuyến có thể ghé thêm các chùa thờ Thánh tổ khác trong vùng hạ lưu sông Hồng.
- Toạ độ
- 20.3215, 106.2634
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải công trình trưng bày, nên lệ của chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tòa chính điện, đi nhẹ nói khẽ ở khu đền Thánh, không trèo lên lưng rùa đá dưới chân tháp và không chạm tay vào các quả chuông. Lối lên trong lòng tháp Cửu Phẩm Liên Hoa hẹp và tối, quý vị đi một chiều để khỏi vướng người xuống. Mùa hội tháng chín có đám rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Cổ Lễ
Contribute photos, information or video for Co Le PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Cổ Lễ thờ ai
Chùa thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông ở phía trước và thờ Quốc sư Nguyễn Minh Không ở phía sau, tức lối tiền Phật hậu Thánh. Ngoài ra còn có ban thờ Đức Thánh Trần, ban thờ Tiến sĩ Đào Toàn Bân và Trạng nguyên Đào Sư Tích, hai người con của chính vùng đất này.
Vì sao chùa Cổ Lễ trông giống nhà thờ
Vì toàn bộ công trình hiện nay được Hòa thượng Phạm Quang Tuyên dựng lại từ năm 1902 theo một lối mượn kết cấu vòm nhọn của kiến trúc Gothic phương Tây, xây bằng gạch vôi và mật mía chứ không dùng gỗ. Phần thờ tự bên trong vẫn hoàn toàn theo lối chùa Việt, có hương án, tượng Phật và hoành phi câu đối.
Chùa Cổ Lễ có từ năm nào
Hồ sơ di tích ghi chùa hình thành từ thời Lý, các bản tin về đợt xếp hạng năm 2025 ghi cụ thể là thế kỷ 12. Nhưng không còn cấu kiện nào của ngôi chùa gốc trên mặt đất. Diện mạo đang thấy bắt đầu từ năm 1902 và hoàn chỉnh dần trong ba thập niên sau đó, nên phải tách hai lớp niên đại ấy.
Quả chuông chín tấn ở chùa Cổ Lễ nằm ở đâu
Quả Đại Hồng Chung đúc năm 1936, nặng 9.000 kg, nằm trong lòng hồ nước phía sau hội quán và chưa từng được đánh. Trên gác chuông của chùa treo một quả khác cùng trọng lượng, đúc năm 2003 theo phiên bản quả chuông năm 1936, cùng một quả chuông thời Lê năm 1799 nặng khoảng 300 kg.
Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao bao nhiêu và có mấy tầng
Các nguồn ghi không giống nhau. Hồ sơ di tích ghi tháp cao 26,30 mét với 11 tầng gồm một tầng đế, chín tầng hoa sen và một tầng đỉnh. Nhiều bản tin phổ thông ghi tháp chín tầng cao 32 mét, lòng tháp có 98 bậc xoắn ốc. Năm khởi dựng cũng vênh, một bên ghi 1927 và một bên ghi 1929.