VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Cổ Lễ

Thần Quang tự

Một ngôi chùa Phật mang dáng vòm nhọn của nhà thờ phương Tây, dựng bằng gạch vôi và mật mía, đứng trên nền một ngôi chùa gốc từ thời Lý.

Khởi dựng
thời Lý
thế kỷ 12, gắn với Quốc sư Nguyễn Minh Không
Dựng lại
1902
Hòa thượng Phạm Quang Tuyên, lối Nhất Thốc Lâu Đài
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1959 ngày 11 tháng 9 năm 2025

Đứng ở cổng chùa nhìn vào, quý vị sẽ khựng lại một nhịp. Trước mặt là một tòa nhà cao, tường dày, cửa và cuốn mái đều vuốt lên thành vòm nhọn, xa trông không khác gì một thánh đường phương Tây. Nhưng trên đỉnh không có thánh giá, và bước qua ngưỡng cửa thì bên trong là hương án, là tượng Phật, là câu đối chữ Hán. Bên phải tòa nhà ấy là một ngọn tháp mười một tầng đứng trên lưng một con rùa đá lớn, bên trái là mặt hồ phẳng, và giữa hồ là một quả chuông đồng khổng lồ đặt trên bệ đá.

Chùa Cổ Lễ vì thế là nơi khó xếp loại nhất trong các ngôi chùa lớn của vùng châu thổ. Cái quý vị nhìn thấy hôm nay không phải ngôi chùa gỗ thời Lý, mà là một công trình gạch được dựng lại từ đầu thế kỷ 20. Cái gốc thời Lý thì vẫn còn, nhưng nằm ở lớp khác, ở vị Thánh tổ được thờ, ở nếp thờ tự và ở tên chữ của chùa.

Chùa Cổ Lễ
Chùa Cổ Lễ. Ảnh: Bình Giang, giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

IThờ Phật và thờ Thánh

Tên chữ của chùa là Thần Quang tự. Ngoài ban Phật, chùa còn thờ Quốc sư Nguyễn Minh Không, và đây là điều cần nắm trước khi bước vào, vì nó quy định cả cách bài trí lẫn cách người trong vùng đi lễ.

Theo giáo nghĩa

Lối bài trí này gọi là tiền Phật hậu Thánh, tức phía trước thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông, phía sau thờ một vị Thánh tổ vốn là cao tăng có thật. Đây không phải sáng tạo riêng của Cổ Lễ mà là nếp chung của một nhóm chùa vùng hạ lưu sông Hồng cùng thờ Nguyễn Minh Không hoặc Dương Không Lộ. Trong nếp ấy, vị cao tăng được dân gian nâng lên hàng Thánh, có ngày sinh ngày hóa, có lễ rước và có văn tế riêng, tức là được thờ theo lối thờ thần chứ không chỉ theo lối thờ tổ nhà chùa.

Theo sử liệu

Nguyễn Minh Không, theo các tài liệu nghiên cứu Phật học, sống trong khoảng năm 1065 tới năm 1141, đời Lý. Ông nổi tiếng vì chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông và được phong Quốc sư. Dân gian còn xếp ông vào nhóm ba vị được gọi là Nam thiên Tam vị Thánh tổ, cùng với Dương Không Lộ và Từ Đạo Hạnh. Lớp truyện về tài đúc đồng và tài chữa bệnh của ông thuộc về truyền thuyết chứ không phải sử biên niên, nhưng chính lớp truyện ấy giải thích vì sao các chùa thờ ông đều gắn với chuông lớn và tượng đồng.

Ngoài Phật và Thánh tổ, tại tòa Linh Quang từ dựng năm 1937 bên trái hội quán còn thờ Đức Thánh Trần cùng hai vị đại khoa họ Đào là người con của chính làng Cổ Lễ. Tên hai vị họ Đào được các nguồn chép hơi khác nhau, bài trên tạp chí Văn nghệ Ninh Bình ghi đúng theo sử khoa bảng là Tiến sĩ Đào Toàn Bân và Trạng nguyên Đào Sư Tích, trang của Cục Di sản văn hóa ghi Đào Sư Tích và Đào Toàn Phú, còn bài trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi Bảng nhãn Đào Sư Mỗ và Tiến sĩ đệ tam giáp Đào Toàn Mỗ. Một ngôi chùa thờ cả bậc đại khoa của làng là dấu của vùng quê có truyền thống hiếu học, nơi nhà chùa và nhà nho không đứng tách nhau.

IIHai lớp niên đại của một ngôi chùa

Muốn đọc đúng chùa Cổ Lễ thì phải tách làm hai lớp. Lớp thứ nhất là gốc tích, hồ sơ di tích của cơ quan quản lý ghi chùa hình thành từ thời Lý, các bản tin về đợt xếp hạng năm 2025 ghi rõ hơn là thế kỷ 12, đời Lý Thần Tông. Lớp thứ hai là toàn bộ những gì đang đứng trên mặt đất, và lớp ấy thuộc về đầu thế kỷ 20.

Theo sử liệu

Giữa hai lớp ấy có một chỗ đứt. Tài liệu của ngành văn hóa địa phương chép rằng năm Tân Hợi 1611 một trận lũ lớn đã vùi ngôi chùa cũ, rồi trong niên hiệu Hoằng Định, tức khoảng các năm 1601 tới 1619, dân trong vùng dựng lại chùa theo bố cục hình chữ công. Trận lụt năm 1611 ấy cũng chính là trận lụt sông Hồng đã làm đổi thay hàng loạt ngôi chùa cổ ở hạ lưu, trong đó có ngôi chùa Nghiêm Quang gốc của hai chùa Keo. Vùng đất này thấp, và nước sông là thứ viết lại lịch sử kiến trúc của nó nhiều lần.

Sang đầu thế kỷ 20, ngôi chùa dựng lại thời Lê đã xuống cấp. Từ năm 1902, Hòa thượng Phạm Quang Tuyên hạ giải các nếp nhà cũ và bắt đầu kiến thiết một quần thể mới, trung tâm là tòa chính điện dựng trong khoảng năm 1914 tới 1920 theo lối mà tài liệu địa phương gọi là Nhất Thốc Lâu Đài. Đến thời Hòa thượng Thích Thế Long kế tiếp, chùa làm thêm tháp Cửu Phẩm Liên Hoa, Phật giáo Hội quán, đúc Đại Hồng Chung năm 1936 và dựng đền Linh Quang từ cùng phủ Mẫu năm 1937, hoàn chỉnh tổng thể 17 tòa với 126 gian trên khu đất gần hai hécta.

  • Thế kỷ 12Khởi dựng thời Lý
    Hồ sơ di tích ghi chùa hình thành từ thời Lý, gắn với Quốc sư Nguyễn Minh Không. Bản tin về đợt xếp hạng năm 2025 ghi cụ thể là thế kỷ 12, đời Lý Thần Tông. Bảng dữ kiện của thư viện dùng mốc quy ước 1150 cho lớp niên đại này.
  • 1611Lũ vùi ngôi chùa cũ
    Tài liệu của ngành văn hóa địa phương chép năm Tân Hợi 1611 nước lớn vùi lấp ngôi chùa gốc. Đây cũng là trận lụt sông Hồng đã làm đổi thay nhiều chùa cổ ở hạ lưu.
  • Thế kỷ 17Phục dựng theo chữ công
    Trong niên hiệu Hoằng Định, khoảng các năm 1601 tới 1619, dân trong vùng dựng lại chùa theo bố cục hình chữ công, tức lối chùa gỗ Bắc Bộ quen thuộc.
  • 1902 tới 1920Hòa thượng Phạm Quang Tuyên dựng lại
    Từ năm 1902 các nếp nhà cũ được hạ giải để tái thiết, tòa chính điện gạch vôi mật mía dựng trong khoảng năm 1914 tới 1920 theo lối Nhất Thốc Lâu Đài, làm nên diện mạo quý vị thấy hôm nay.
  • 1921Xây cầu cuốn qua hồ
    Cây cầu cuốn dài 10,60 mét, rộng 4 mét, vắt ngang hồ Chu Tước (có nguồn gọi là hồ Chu Tích) phía trước chùa, nối trục đi từ ngoài vào.
  • 1927 tới 1929Dựng tháp Cửu Phẩm Liên Hoa
    Các nguồn ghi năm khởi dựng ngọn tháp khác nhau, một bên ghi 1927 và một bên ghi 1929. Thư viện ghi cả hai thay vì chọn bừa.
  • 1936 và 1937Hội quán, Đại Hồng Chung và đền thờ
    Năm 1936 dựng Phật giáo Hội quán và đúc quả Đại Hồng Chung nặng 9.000 kg (sau dìm xuống hồ, năm 1954 vớt lên đặt trên bệ đá giữa hồ). Năm 1937 dựng đền Linh Quang từ và phủ Mẫu.
  • 2025Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 1959/QĐ-TTg ngày 11 tháng 9 năm 2025, loại hình di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật. Trước đó chùa được xếp hạng cấp quốc gia năm 1988, lễ hội vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia năm 2023.
Chỗ hay hiểu lầm

Chùa vẫn hay được gọi là ngôi chùa nghìn tuổi, và nhiều người vì thế tưởng tòa nhà vòm nhọn đang đứng kia cũng cổ như vậy. Nói cho đúng thì tuổi nghìn năm thuộc về nơi thờ tự chứ không thuộc về công trình. Ngôi chùa gốc thời Lý không còn cấu kiện nào trên mặt đất. Bộ mặt hiện nay bắt đầu từ năm 1902 và hoàn chỉnh dần trong ba thập niên sau đó. Hai lớp niên đại ấy đều thật, chỉ là không được lẫn vào nhau.

IIIVòm nhọn, tháp sen và quả chuông giữa hồ

Các hạng mục của chùa trải thành một trục dài theo hướng đông tây, đi từ ngoài vào gồm tháp, cầu, tam quan, hội quán, đền thờ, chùa chính, nhà tổ, phương đình và gác chuông. Trục ấy dài và thoáng, khác hẳn lối chùa Bắc Bộ quen thuộc vốn dồn các nếp nhà lại gần nhau trong một khuôn vuông.

Tòa chính điện, tài liệu địa phương gọi là tòa Nhất Trụ hay Chính Cung, dài 29,30 mét và rộng 13,90 mét (có bài khảo cứu ghi dài 35 mét, rộng 22 mét, cao 29 mét), gồm chín tòa nối nhau bằng mái vòm cuốn. Vật liệu là gạch, vôi, cát, giấy bản và mật mía, không dùng xi măng. Đây là chỗ đáng chú ý nhất về mặt nghề vì cả khối nhà cao gần ba chục mét ấy đứng được là nhờ kết cấu vòm và nhờ một loại vữa cổ truyền, chứ không nhờ cốt thép.

Tòa chính điện

Khối nhà cao, tường dày, cửa và mái vuốt lên thành vòm nhọn theo tinh thần kiến trúc Gothic phương Tây, nhưng bài trí bên trong hoàn toàn theo lối chùa Việt. Xây bằng gạch vôi mật mía, hồ sơ di tích ghi dài 29,30 mét, rộng 13,90 mét.

Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa

Ngọn tháp bát giác đứng trên lưng một con rùa đá lớn giữa hồ núi. Hồ sơ di tích ghi tháp có 11 tầng gồm một tầng đế, chín tầng hoa sen và một tầng đỉnh, cao 26,30 mét. Nhiều bản tin và bài khảo cứu lại ghi tháp cao 32 mét với lối đi xoắn ốc 98 bậc trong lòng.

Cầu cuốn và hồ Chu Tước

Cầu cuốn ba nhịp dựng năm 1921, dài 10,60 mét, rộng 4 mét, bắc qua hồ nước phía trước mà hồ sơ di tích gọi là hồ Chu Tước (có tài liệu gọi là hồ Chu Tích). Người đi lễ qua cầu rồi mới tới tam quan.

Quả chuông giữa lòng hồ

Quả Đại Hồng Chung đúc năm 1936, nặng 9.000 kg, cao 4,2 mét, đường kính 2,03 mét. Chuông từng được hạ xuống đáy hồ để giữ gìn, tới năm 1954 được trục vớt và đặt trên bệ đá giữa hồ nước phía sau hội quán, chưa từng được đánh một lần nào.

Gác chuông

Gác chuông ba tầng tám mái ở cuối trục. Trên gác treo quả chuông đồng nặng 9.000 kg đúc năm 2003 theo phiên bản quả chuông năm 1936. Tầng trên cùng còn một quả chuông đúc năm 1799, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ bảy thời Tây Sơn, nặng khoảng 300 kg.

Vườn tháp mộ

Khu tháp mộ các vị sư tổ trong khuôn viên, trong đó có tháp mộ riêng của Hòa thượng Phạm Quang Tuyên, người khởi xướng dựng lại ngôi chùa từ năm 1902.

Vì sao một ngôi chùa lại mượn dáng vòm nhọn của nhà thờ? Câu trả lời nằm ở chỗ thời điểm. Đầu thế kỷ 20, kỹ thuật xây vòm đã phổ biến ở vùng châu thổ, trong khi gỗ lim khổ lớn mỗi lúc một hiếm. Người dựng chùa chọn cái dựng được, cao được và bền được, rồi giữ nguyên nội dung thờ tự bên trong. Cách làm ấy không riêng gì Cổ Lễ, nhưng ở đây nó được đẩy tới mức triệt để nhất.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm giữa vùng đồng bằng thấp của hạ lưu sông Hồng, nơi không có một ngọn núi nào để làm hậu chẩm. Trong phép xem đất, chỗ dựa ở vùng châu thổ được thay bằng hai thứ gồm nền đất nổi cao hơn ruộng chung quanh và mặt nước bao lấy khu đất. Cả hai thứ ấy đều có ở đây, và mặt nước thì không phải nước tự nhiên mà là hồ đào, tức là người dựng chùa đã chủ động tạo ra cái mình cần.

Mặt nước phía trước được hồ sơ di tích gọi là hồ Chu Tước. Tên ấy đáng để ý. Trong tứ tượng, Chu Tước là con chim đỏ giữ phương Nam, ứng với khoảng trống phía trước công trình mà phép xem đất gọi là minh đường. Đặt một hồ nước ở đó rồi gọi thẳng nó là hồ Chu Tước là làm đúng sách, khi minh đường có nước thì khí tụ, và người đi lễ phải qua cầu, tức phải rời đất liền một quãng ngắn trước khi vào tới sân chùa. Quãng ngắn ấy có tác dụng cắt nhịp, đưa người từ nhịp chợ búa ngoài đường sang nhịp thờ tự.

Về trục và hướng, hồ sơ di tích cho biết các hạng mục trải dọc theo hướng đông tây. Đây là điểm khác với đa số chùa Bắc Bộ vốn quay mặt về nam. Đọc theo lối cũ, trục đông tây là trục của mặt trời mọc và lặn, hợp với một ngôi chùa mang tên Thần Quang, nghĩa là ánh sáng thiêng. Chữ trong tên và chiều của trục đất trùng nhau, và trong phép cũ sự trùng nhau ấy gọi là đắc cách, tức được đúng lối.

Cuối cùng là hai vật đứng đối nhau trên khu đất gồm ngọn tháp Cửu Phẩm Liên Hoa vươn lên và quả chuông chín tấn từng dìm dưới đáy hồ rồi đặt tĩnh tại trên bệ đá sát mặt nước giữa lòng hồ. Một cái là Hỏa và Mộc, thế bút đâm trời, chủ về văn vận và về đường tu tiến lên. Một cái là Kim đặt giữa Thủy, kim khí nặng neo giữa mặt nước, chủ về sự giữ gìn và tích tụ. Người xưa không nhất thiết đã tính như vậy khi làm, nhưng đọc lại thì thấy khu đất này có đủ cả hai chiều lên và xuống, và đó là điều hiếm gặp ở một ngôi chùa đồng bằng.

VHội chùa tháng Chín

Hội chính của chùa mở vào tháng Chín âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của Thánh tổ Nguyễn Minh Không, chứ không mở vào dịp đầu xuân, và đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023. Các nguồn thống nhất ghi hội diễn ra từ ngày 13 tới ngày 16 tháng Chín âm lịch.

Trình tự hội chùa Cổ Lễ theo âm lịch. Thứ tự các việc trong từng ngày có thể xê dịch theo từng mùa hội. Nguồn: Tài liệu của ngành văn hóa tỉnh và tạp chí nghiên cứu Phật học..
Ngày âm lịchNghi thứcNội dung
13 tháng ChínKhai hội và dâng hươngMở đầu kỳ hội, lễ dâng hương tại ban Phật và ban Thánh tổ, cáo yết xin phép mở hội.
14 tháng ChínRước và tếĐám rước quanh khu chùa và trong vùng, đội tế hành lễ trước đền Thánh theo nghi thức cổ truyền.
15 tháng ChínNgày chính hộiNgày trọng nhất, kỷ niệm ngày sinh Thánh tổ Nguyễn Minh Không, có múa chầu rối và các khoa cúng.
16 tháng ChínBơi trải và trò hộiCuộc đua thuyền trên sông trước chùa, cùng tổ tôm điếm và các trò diễn của các giáp trong vùng.
Rằm và mùng mộtLệ thường thángNgoài kỳ hội, chùa đông người vào các ngày rằm mùng một và dịp đầu xuân theo lệ chung của chùa Bắc Bộ.

Điểm đáng chú ý của hội này là bơi trải. Một cuộc đua thuyền đặt trong kỳ hội của nhà chùa cho thấy hội Cổ Lễ không thuần là hội Phật, mà mang cả phần hội làng của một vùng sông nước. Vị được kỷ niệm cũng không phải một vị Phật mà là một cao tăng đã thành Thánh tổ, nên nghi thức có cả phần tế theo lối thờ thần lẫn phần khoa cúng theo lối nhà chùa.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Chùa nằm ở xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình, thuộc địa phận tỉnh Nam Định cũ, cách thành phố Nam Định cũ chừng mười lăm cây số về phía đông nam. Đi cùng tuyến có thể ghé thêm các chùa thờ Thánh tổ khác trong vùng hạ lưu sông Hồng.
Toạ độ
20.3215, 106.2634
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải công trình trưng bày, nên lệ của chùa là lệ phải theo. Quý vị lưu ý ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tòa chính điện, đi nhẹ nói khẽ ở khu đền Thánh, không trèo lên lưng rùa đá dưới chân tháp và không chạm tay vào các quả chuông. Lối lên trong lòng tháp Cửu Phẩm Liên Hoa hẹp và tối, quý vị đi một chiều để khỏi vướng người xuống. Mùa hội tháng Chín có đám rước cắt ngang sân, xin nhường đường cho kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Cổ Lễ

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Cổ Lễ thờ ai

Chùa thờ Phật theo Phật giáo Bắc tông ở phía trước và thờ Quốc sư Nguyễn Minh Không ở phía sau, tức lối tiền Phật hậu Thánh. Ngoài ra tại đền Linh Quang từ bên cạnh hội quán còn thờ Đức Thánh Trần cùng hai vị đại khoa họ Đào của làng Cổ Lễ là Tiến sĩ Đào Toàn Bân và Trạng nguyên Đào Sư Tích.

Vì sao chùa Cổ Lễ trông giống nhà thờ

Vì toàn bộ công trình hiện nay được Hòa thượng Phạm Quang Tuyên khởi xướng dựng lại từ năm 1902 theo một lối mượn kết cấu vòm nhọn của kiến trúc Gothic phương Tây, xây bằng gạch vôi và mật mía chứ không dùng gỗ. Phần thờ tự bên trong vẫn hoàn toàn theo lối chùa Việt, có hương án, tượng Phật và hoành phi câu đối.

Chùa Cổ Lễ có từ năm nào

Hồ sơ di tích ghi chùa hình thành từ thời Lý, các bản tin về đợt xếp hạng năm 2025 ghi cụ thể là thế kỷ 12. Nhưng không còn cấu kiện nào của ngôi chùa gốc trên mặt đất. Diện mạo đang thấy bắt đầu từ năm 1902 và hoàn chỉnh dần tới năm 1937, nên phải tách hai lớp niên đại ấy.

Quả chuông chín tấn ở chùa Cổ Lễ nằm ở đâu

Quả Đại Hồng Chung đúc năm 1936, nặng 9.000 kg, từng được hạ xuống đáy hồ để giữ gìn, tới năm 1954 được trục vớt và đặt trên bệ đá giữa hồ nước phía sau hội quán, chưa từng được đánh. Trên gác chuông của chùa treo một quả khác cùng trọng lượng đúc năm 2003 theo phiên bản năm 1936, cùng một quả chuông năm 1799 thời Tây Sơn nặng khoảng 300 kg.

Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao bao nhiêu và có mấy tầng

Các nguồn ghi không giống nhau. Hồ sơ di tích ghi tháp cao 26,30 mét với 11 tầng gồm một tầng đế, chín tầng hoa sen và một tầng đỉnh. Nhiều bản tin và bài khảo cứu ghi tháp cao 32 mét, lòng tháp có 98 bậc xoắn ốc. Năm khởi dựng cũng vênh, một bên ghi 1927 và một bên ghi 1929.

›Đọc Tiếp