Từ đường làng nhìn vào, thứ đập vào mắt trước tiên không phải mái đền mà là một hồ nước hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt, bờ cong ôm lấy khoảng sân. Qua hồ là tam quan có cửa chính ba tầng mái và hai cột đại đăng đứng đối xứng. Qua tam quan, giữa sân, là tòa nhà khiến ngôi đền này khác các đền khác của xứ Nghệ: một khối gỗ dựng trên bốn cột lớn, chồng ba tầng, tỏa ra mười hai mái đều nhau.
Cách đó chừng ba trăm mét là khu mộ. Ở đó không chỉ có phần mộ của người được thờ, mà còn có mộ cha, mộ mẹ và mộ các con trai của ông, quây trong một vòng đá xanh. Hai chỗ ấy, ngôi đền và khu mộ, giải thích cả hai mặt của nơi này: một mặt là đền do nhà nước cũ dựng cho một vị đại thần, một mặt là nhà thờ tổ của một dòng họ.
IVị Đại Thần Và Ông Tổ Của Một Họ
Vị được thờ là Nguyễn Xí, sinh năm 1397 và mất năm 1465, người làng Thượng Xá, xuất thân trong một gia đình làm nghề muối. Ông theo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu và về sau được liệt vào hàng khai quốc công thần, làm quan trải bốn đời vua nhà Lê. Trận mạc của ông chỉ được nhắc tới đây một câu, vì đó không phải phần việc của bài này.
Sau khi ông mất, nhà vua truy phong ông là Thái sư Cương Quốc công và ra lệnh lập đền thờ ngay tại quê ông. Đó là điểm khởi đầu của nơi này, và cũng là điểm khiến nó khác một nhà thờ họ thông thường: đền không do con cháu dựng lên mà do nhà nước cũ dựng lên.
Trong lệ cũ, việc thờ một người có công được chia làm hai đường. Đường thứ nhất là quốc tế, tức việc tế do nhà nước đứng ra, đền do nhà nước cho dựng, ruộng tự điền do nhà nước cấp, ngày tế do lệ nhà nước định. Đường thứ hai là gia tế, tức việc cúng của con cháu trong nhà, theo ngày giỗ và theo gia lễ.
Hai đường ấy vốn tách nhau, nhưng ở Thượng Xá chúng nhập lại. Con cháu ông đông dần, lập thành cả một dòng lớn ở vùng ven biển xứ Nghệ, và ngôi đền của nhà nước cũ nằm ngay giữa vùng ấy. Qua nhiều đời, chính con cháu là người trông nom, tu bổ và hương khói, cho nên ngôi đền thành ra nơi hai đường gặp nhau: vẫn là đền thờ một vị đại thần, đồng thời là nhà thờ tổ của họ Nguyễn Đình gốc Thượng Xá. Ngày nay ban tế của kỳ lễ hội do hội đồng gia tộc đứng ra định liệu, và đó là dấu rõ nhất của sự nhập ấy.
Có một chi tiết trong tư liệu giúp giải thích vì sao dòng họ này đông và bám chặt vùng đất ấy đến vậy. Sau khi ông mất, phần lộc điền ban cho ông được ghi lại với con số hơn năm nghìn mẫu, phần lớn nằm ở vùng ven biển Cửa Lò Cửa Hội. Con cháu theo ruộng mà ở, khai phá dần rồi lập nên nhiều làng xã trong vùng suốt thế kỷ 15. Ngôi đền vì thế không đứng lẻ giữa đồng mà đứng giữa một mạng lưới làng xóm của chính dòng họ mình.
Về sắc phong, tư liệu ghi các triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn đều có ban sắc cho vị thần này. Việc một triều đại mới vẫn tiếp tục ban sắc cho công thần của triều trước là chuyện thường trong lệ cũ, và nó cho thấy lớp thờ ở đây được thừa nhận liên tục chứ không đứt quãng.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất: nhiều người thấy nơi này còn được gọi là nhà thờ họ Nguyễn Đình rồi cho rằng đây là một nhà thờ họ bình thường, chỉ khác ở chỗ to hơn. Theo tư liệu thì gốc gác ngược lại. Đền được lập theo lệnh nhà vua ngay sau khi ông mất, tức khởi đầu là một công trình của nhà nước cũ, về sau mới dần trở thành nơi thờ tổ của dòng họ. Cái tên nhà thờ họ là lớp nghĩa đến sau, không phải lớp nghĩa đầu tiên.
Chỗ hay hiểu lầm thứ hai: Nguyễn Xí còn được thờ ở vài nơi khác nữa, trong đó có một ngôi đền bên vùng Nghi Xuân thuộc tỉnh Hà Tĩnh, cũng chia ba tòa và cũng thờ ông ở tòa trong cùng. Những nơi ấy là đền vọng, tức đền lập ở nơi khác để thờ vọng về. Cửa đền gốc là ở Thượng Xá, nơi có cả phần mộ, và đó là chỗ phân biệt.
IIGần Sáu Trăm Năm Của Một Ngôi Đền
Khác với nhiều đền miếu không rõ năm khởi dựng, nơi này có một mốc khá chắc, vì việc lập đền gắn với một mệnh lệnh của triều đình chứ không phải một việc tự phát của làng. Tuy vậy con số cụ thể vẫn có chỗ vênh, và chúng tôi nói thẳng ở dưới.
- 1397Nguyễn Xí sinh tại Thượng XáSinh trong một gia đình làm nghề muối ở làng Thượng Xá, vùng ven biển xứ Nghệ, nơi về sau dựng đền thờ ông.
- 1428Liệt vào hàng khai quốc công thầnSau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn kết thúc, ông được xếp vào hàng công thần mở nước của triều Lê. Đây là lý do về sau nhà nước cũ đứng ra lập đền.
- 1465Mất và được truy phongÔng mất, được truy phong Thái sư Cương Quốc công. Phần mộ đặt tại quê nhà, sau thành trung tâm của khu mộ dòng họ.
- 1467Lập đền theo lệnh nhà vuaĐền được dựng dưới triều Lê Thánh Tông, gồm ba lớp điện. Một số nguồn ghi mốc dựng đền vào khoảng năm 1478, xin xem phần nói rõ ở dưới.
- Các triều về sauSắc phong nối nhauCác triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn đều ban sắc cho vị thần này, giữ cho lớp thờ được thừa nhận liên tục qua nhiều đời.
- 1990Xếp hạng di tích quốc giaLăng mộ và đền thờ được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2020Di tích quốc gia đặc biệtXếp hạng theo Quyết định số 2280 ký ngày 31 tháng 12 năm 2020. Lễ đón bằng xếp hạng được tổ chức tại di tích vào năm 2022.
- Những năm gần đâyMở rộng khuôn viên khu mộKhuôn viên khu mộ được mở rộng lên hơn sáu nghìn tám trăm mét vuông, gấp nhiều lần diện tích trước đó, để đủ chỗ cho các kỳ tế lễ đông người.
Về năm dựng đền, các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Phần lớn tư liệu ghi đền được lập năm 1467 dưới triều Lê Thánh Tông, tức hai năm sau khi ông mất. Một số cách ghi khác đưa mốc muộn hơn, vào khoảng năm 1478. Sai lệch này thường do phân biệt giữa năm ra lệnh lập đền và năm hoàn thành công trình, hai việc vốn cách nhau vài năm với một công trình lớn. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa một con số.
Cũng cần nói rõ về mốc năm 2020 và năm 2022. Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ký cuối năm 2020, còn lễ đón bằng tổ chức năm 2022. Vì vậy quý vị gặp cả hai năm này trong các bài viết mà không phải là mâu thuẫn.
IIINội Công Ngoại Quốc Và Bộ Khung Gỗ
Đền dựng trên một gò đất cao, cách khu mộ chừng ba trăm mét, khuôn viên rộng khoảng một hecta rưỡi. Mặt bằng theo lối nội công ngoại quốc. Chữ ấy tả cách bố trí: các nếp nhà bên trong nối nhau thành hình chữ công, tức hai nhà ngang nối bởi một nhà dọc ở giữa, còn vòng ngoài là dãy hành lang và tường bao khép kín bốn bề thành một khung vuông như chữ quốc. Đây là lối mặt bằng trang trọng nhất trong kiến trúc thờ tự cổ truyền, thường chỉ dùng cho những nơi có tầm quốc gia.
Nằm ngay trước mặt đền, bờ cong ôm lấy khoảng sân trước. Hồ sơ di tích ghi rõ hồ này vừa tạo thế phong thủy cho đền vừa có tác dụng điều hòa không khí, tức chính tư liệu di tích đã nói tới ý phong thủy chứ không phải chỉ có người đời sau suy ra.
Tam quan có cửa chính chồng ba tầng mái, hai bên là hai cột đại đăng đứng đối xứng. Trên chính môn có một hàng chữ Hán lớn đắp nổi.
Lớp ngoài cùng của khu thờ, nơi đặt hương án và tiến hành phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày cũng như phần lễ có đông người dự.
Công trình đặc biệt nhất của cả khu. Dựng trên bốn cột gỗ lớn, chồng ba tầng, tỏa mười hai mái cân xứng nhau. Hệ kết cấu gỗ lắp ghép phức tạp, không dùng đinh sắt cho các mối nối chính.
Lớp trong cùng, đặt ban thờ chính của vị được thờ. Đây là nơi tiến hành phần trọng nhất của lễ đại tế.
Hai công trình kiểu tháp ba tầng nhiều mái, đặt đối xứng qua khoảng sân lộ thiên, một bên treo chuông một bên treo khánh.
Cách đền chừng ba trăm mét. Các ngôi mộ được bao bằng những phiến đá xanh lấy từ vùng Thanh Hóa, tất cả hai mươi bốn phiến, theo lời truyền trong họ là ứng với số người con của ông. Trong khu có mộ cha, mộ mẹ, mộ ông và mộ các con trai.
Phần đáng xem kỹ nhất về nghệ thuật là các mảng chạm. Trên bộ khung gỗ và trên các mảng vôi vữa đắp nổi, thợ xưa chạm kín hình tứ linh, tức long, ly, quy, phụng, cùng nhiều đồ án hoa lá và muông thú. Mái lợp ngói cổ, trên bờ nóc và bờ chảy đắp hình rồng, phượng và nghê. Toàn bộ hệ trang trí ấy đi theo quy ước của kiến trúc Nho học, tức mỗi con vật đứng một chỗ và mang một nghĩa cố định, chứ không bày tùy ý cho đẹp mắt.
Một điều đáng nói là tuổi của bộ khung. Ngôi đền đã gần sáu trăm năm và đã qua nhiều lần tu bổ, nhưng lối dựng bốn cột chồng ba tầng mười hai mái ở tòa trung điện vẫn là lối hiếm gặp trong đền miếu xứ Nghệ. Chính chi tiết ấy khiến nơi này được nhắc tới như một trong những ngôi đền có kiến trúc riêng biệt nhất vùng.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia. Riêng ở nơi này có một chỗ khác thường: chính hồ sơ di tích cũng nói tới ý phong thủy của hồ bán nguyệt, nên đoạn nói về cái hồ là tư liệu, còn phần còn lại vẫn là kiến giải của thư viện. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được.
Cái khó của mảnh đất này nằm ở địa hình. Vùng Thượng Xá là đất bằng ven biển, gần cửa Lò và cửa Hội, tức không có núi để tựa. Theo phép xem đất cổ truyền thì một nơi thờ tự cần có hậu chẩm ở sau và minh đường ở trước, mà cả hai thứ ấy ở đây đều không sẵn. Người dựng đền phải tự làm ra chúng, và cách họ làm chính là chỗ đáng đọc.
Thứ nhất là chọn gò cao. Đền không dựng ở chỗ bằng mà dựng trên một gò đất nổi lên giữa vùng thấp. Ở đồng bằng, một gò nổi được coi là chỗ mạch đất dừng lại mà kết, và với vùng không có núi thì gò chính là núi. Chọn gò cũng là chọn chỗ không ngập, điều rất thiết thực với một vùng gần biển.
Thứ hai là đào hồ bán nguyệt. Không có sông lớn trước mặt thì đào lấy một mặt nước, và đào theo hình bán nguyệt với bờ cong quay vào đền, tức lấy nước ôm lấy công trình chứ không để nước cắt ngang. Trong phép xem đất, nước là thứ tụ khí, còn hình cung ôm vào là hình được coi là lành, khác với hình cung quay lưng ra. Cái hồ vì vậy làm cùng lúc ba việc: làm minh đường, làm gương soi mặt tiền, và làm chỗ thoát nước cho khuôn viên.
Thứ ba là khoảng cách giữa đền và mộ. Ba trăm mét là một khoảng vừa đủ để hai chỗ không lấn nhau mà vẫn thuộc một cụm. Theo lối nghĩ cũ, phần mộ là chỗ của âm phần, cần yên và cần tĩnh, còn đền là chỗ của người sống tới lễ, cần rộng và cần lối đi. Tách ra mà vẫn nhìn được nhau là cách xếp giữ được cả hai yêu cầu ấy.
Sau cùng là lớp nghĩa của khu mộ. Mộ cha, mộ mẹ, mộ ông và mộ các con nằm trong cùng một vòng đá. Đọc theo lối cổ truyền thì đó không còn là một huyệt lẻ mà là một khu âm phần của cả dòng, và việc quây bằng đá xanh đếm đúng số người con là cách người sau ghi lại thứ bậc trong nhà bằng vật liệu. Cần nói ngay rằng không văn bia nào chép việc chọn đất theo một phép xem cụ thể, nên đoạn này chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị nào quen lối đọc cổ truyền.
VLễ Hội Cuối Tháng Giêng Và Ngày Giỗ Kỵ
Nơi này giữ hai kỳ lễ khác hẳn nhau về tính chất, và sự khác ấy chính là hai mặt đã nói ở đầu bài. Kỳ lễ hội vào cuối tháng Giêng sang đầu tháng Hai là kỳ mở ra cho cả vùng. Kỳ giỗ kỵ vào cuối tháng Mười là việc trong nhà. Cả hai đều tính theo âm lịch.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| 29 tháng Giêng | Lễ khai quang | Nghi thức thanh tẩy, lau rửa đồ tế khí và ban thờ trước khi vào chính lễ. |
| 29 tháng Giêng | Lễ rước và lễ yết cáo | Đoàn rước đưa kiệu và cỗ lễ về đền, sau đó trình báo với thần và với tổ về việc mở kỳ lễ. |
| Ngày giữa kỳ lễ | Lễ đại tế | Nghi lễ trọng nhất, trình tự các bước do hội đồng gia tộc định liệu, nội dung là thỉnh tổ tiên cùng các vị tướng lĩnh về đền. |
| Mùng 1 tháng Hai | Lễ tạ | Tiến hành vào buổi chiều, khép lại kỳ lễ hội. |
| Trong kỳ lễ | Phần hội | Giao lưu văn nghệ, thi cắm trại, bóng chuyền và các trò chơi dân gian của các làng trong vùng. |
| 30 tháng Mười | Giỗ kỵ | Ngày giỗ chính của vị được thờ, tiến hành theo gia lễ, quy mô gọn hơn kỳ lễ hội đầu năm. |
Điều đáng chú ý nhất trong lễ tiết ở đây là ai đứng chủ. Ở phần lớn đền thờ danh nhân, ban tế do làng cử ra, hoặc do ban quản lý di tích tổ chức. Ở Thượng Xá, trình tự đại tế được tiến hành theo quy định của hội đồng gia tộc, tức của chính con cháu dòng họ. Một ngôi đền do nhà nước cũ dựng lên mà nghi thức trọng nhất lại do dòng họ định liệu, đó là dấu rõ nhất cho thấy hai đường quốc tế và gia tế đã nhập làm một ở nơi này.
Nội dung của lễ đại tế cũng phản ánh điều ấy. Bài tế thỉnh cả tổ tiên trong họ lẫn các vị tướng lĩnh cùng thời với người được thờ. Hai hạng ấy vốn thuộc hai hệ khác nhau, một bên là huyết thống, một bên là đồng liêu, nhưng ở đây được thỉnh chung trong một tuần hương.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Thượng Xá, xã Khánh Hợp cũ, nay là xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An
- Đường tới
- Đền nằm ở làng Thượng Xá, xã Khánh Hợp cũ, nay là xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An, trên vùng đất bằng gần cửa Lò và cửa Hội. Khu mộ cách đền chừng ba trăm mét, đi bộ được, nên thường xem liền một chuyến.
- Toạ độ
- 18.814, 105.6911
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, đồng thời là nhà thờ tổ của một dòng họ, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện, đi nhẹ nói khẽ ở trung điện và thượng điện, không chạm tay vào bộ khung gỗ, các mảng chạm và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban thờ. Sang khu mộ thì xin đi theo lối đã mở và không bước lên các phiến đá quây mộ. Nếu tới đúng kỳ lễ hội, xin quý vị đứng ngoài phạm vi ban tế và không đi cắt ngang giữa người tế với ban thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Xí
Contribute photos, information or video for Tomb and Temple of Nguyen XiThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền thờ Nguyễn Xí thờ ai
Thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, sinh năm 1397 và mất năm 1465, người làng Thượng Xá, được liệt vào hàng khai quốc công thần của triều Lê và làm quan trải bốn đời vua. Đền cũng là nhà thờ tổ của họ Nguyễn Đình gốc Thượng Xá, trong khu mộ có cả mộ cha, mộ mẹ và mộ các con trai của ông.
Đền thờ Nguyễn Xí dựng năm nào
Phần lớn tư liệu ghi đền được lập năm 1467 dưới triều Lê Thánh Tông, tức hai năm sau khi ông mất, theo lệnh của nhà vua. Một số nguồn đưa mốc muộn hơn, vào khoảng năm 1478. Sai lệch này thường do phân biệt giữa năm ra lệnh lập đền và năm hoàn thành công trình, nên chúng tôi ghi cả hai.
Nội công ngoại quốc nghĩa là gì
Là một lối bố trí mặt bằng thờ tự cổ truyền. Các nếp nhà bên trong nối nhau thành hình chữ công, tức hai nhà ngang nối bởi một nhà dọc ở giữa. Vòng ngoài là hành lang và tường bao khép kín bốn bề thành khung vuông như chữ quốc. Đây là lối mặt bằng trang trọng nhất, thường dành cho nơi thờ có tầm quốc gia.
Vì sao đền lại là nhà thờ họ Nguyễn Đình
Vì hai lớp nghĩa chồng lên nhau. Đền khởi đầu do nhà vua ra lệnh dựng cho một vị đại thần, tức thuộc đường quốc tế. Con cháu ông về sau đông dần và lập nhiều làng xã trong vùng, chính họ là người trông nom và hương khói qua nhiều đời, nên ngôi đền dần thành nơi thờ tổ của cả dòng, tức thêm đường gia tế.
Lễ hội đền Nguyễn Xí tổ chức ngày nào
Từ ngày hai mươi chín tháng Giêng sang mùng một tháng Hai âm lịch, gồm lễ khai quang, lễ rước, lễ yết cáo, lễ đại tế rồi lễ tạ vào chiều mùng một tháng Hai. Trình tự đại tế do hội đồng gia tộc định liệu. Ngoài kỳ này, đền còn ngày giỗ kỵ vào ba mươi tháng Mười âm lịch, tiến hành theo gia lễ.