VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Phù Đổng

Đền Gióng Phù Đổng, đền Thượng

Nơi thờ Thánh Gióng dựng ngay trên đất sinh ra ngài, một quần thể tám điểm di tích trải khắp mặt bằng của một làng cổ bên sông Đuống.

Điểm di tích thành phần
8
trải trên khoảng 60.343,7 mét vuông đất làng
Sắc phong
37 đạo
đạo sớm nhất năm 1634, có nguồn ghi con số khác
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013

Đứng trước đền Thượng, quý vị thấy trước mặt không phải sân gạch mà một mặt ao, giữa ao là một nếp nhà nhỏ bốn mái gọi là thủy đình. Qua ao mới tới cổng ngũ môn năm cửa, rồi phương đình, rồi ba lớp nhà xếp nối vào trong. Hai con rồng đá nằm chầu ở bậc lên, thân đá đã mòn nhẵn vì tay người vuốt qua nhiều đời.

Điều làm nơi này khác mọi ngôi đền khác thờ cùng một vị là ở chỗ đứng. Đây là đất sinh của Thánh Gióng theo thần tích, và vì vậy nơi thờ không gom vào một khuôn viên mà tản ra khắp làng thành tám điểm di tích thành phần, mỗi điểm ứng với một chặng trong truyện kể. Đi hết tám điểm ấy là đi hết đoạn đầu của một thần tích, còn đoạn cuối thì nằm ở một ngọn núi cách đây hơn ba mươi cây số.

IThánh Gióng Trên Đất Sinh

Vị được thờ là Thánh Gióng, danh hiệu đầy đủ trong sắc phong và thần tích là Phù Đổng Thiên Vương, có nơi ghi là Xung Thiên Thần Vương. Ngài là một trong bốn vị mà người Việt xếp vào hàng Tứ bất tử, cùng với Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ chính địa danh Phù Đổng, không phải chữ chép lại từ một bức hoành phi trong đền.

Theo giáo nghĩa

Trong hàng Tứ bất tử, mỗi vị giữ một lớp nghĩa riêng. Tản Viên là thần núi, Chử Đồng Tử là người trần đắc đạo, Liễu Hạnh là tiên nữ giáng thế, còn Thánh Gióng là vị thần của sức mạnh bộc phát. Thần tích không kể ngài tu luyện hay đắc đạo dần dần, mà kể một đứa trẻ ba năm không nói không cười, tới lúc cần thì lớn vụt lên trong một bữa, làm xong việc thì đi thẳng, không nhận thưởng, không để lại con cháu nối dõi. Cái lõi tín ngưỡng ở đây là lòng tin rằng sức che chở có thể tới từ chỗ người ta ít ngờ nhất, và tới rồi thì không đòi hỏi gì.

Vì vậy nơi thờ Thánh Gióng bao giờ cũng đi thành cặp: một nơi giữ phần sinh ra và một nơi giữ phần hóa đi. Phù Đổng là nơi thứ nhất.

Theo sử liệu

Thần tích gắn với chính mảnh đất này kể rằng mẹ Gióng ra vườn cà, ướm chân vào một vết chân lạ rồi mang thai, sinh ra một cậu bé ở làng Phù Đổng. Cậu bé nằm im tới năm ba tuổi, khi có lời rao tìm người cứu nước thì cất tiếng, ăn hết cơm cà của cả làng góp lại, lớn thành tráng sĩ. Mảnh vườn trong truyện chính là điểm di tích mang tên cố viên, còn chỗ tương truyền là nơi bà mẹ trở dạ là miếu Ban. Đây là lớp truyền tụng chứ không phải sử biên niên. Giá trị của nó nằm ở chỗ khác: người làng đã đem từng chi tiết của truyện gắn vào từng mảnh đất có thật, rồi giữ các mảnh đất ấy làm nơi thờ, và giữ được suốt nhiều thế kỷ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất là gộp đền Phù Đổng với đền Sóc ở vùng Sóc Sơn làm một, hoặc coi một trong hai là đền Gióng thật còn nơi kia là đền vọng. Cả hai đều không đúng.

Hai nơi thờ cùng một vị nhưng giữ hai đoạn khác nhau của cùng một thần tích. Phù Đổng là quê sinh, nơi có vườn cà, có chỗ trở dạ, có lối đi ra trận trong truyện kể. Đền Sóc nằm dưới chân núi Vệ Linh, là chỗ truyền thuyết kể ngài cởi áo giáp sắt rồi bay về trời, tức nơi hóa. Hai hội Gióng của hai nơi cũng khác hẳn nhau về ngày tháng và về nghi thức, và năm 2010 cả hai cùng được ghi danh trong một hồ sơ chung chứ không phải hai hồ sơ riêng. Xin quý vị đọc trang riêng của đền Sóc để biết phần sau của câu chuyện.

Một chỗ nữa cũng hay nhầm: chùa Kiến Sơ nằm ngay sát đền Thượng, nhưng đó là một ngôi chùa Phật giáo có lịch sử riêng và không nằm trong tám điểm di tích thành phần của đền Phù Đổng.

IITừ Một Ngôi Đền Làng Đến Quần Thể Tám Điểm

Năm khởi dựng của đền không có văn bản đương thời xác nhận. Thần tích và tư liệu di tích đều gắn việc dựng đền với năm 1010, năm Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, nhưng đó là niên đại của truyền tụng. Những gì còn sờ được bằng tay thì trẻ hơn nhiều: đạo sắc sớm nhất mang niên đại 1634, tấm bia sớm nhất dựng năm 1660, và phần lớn bộ khung gỗ hiện thấy thuộc lớp thế kỷ 18 trở về sau.

  • 1010Tương truyền dựng đền
    Theo thần tích và tư liệu di tích, đền được dựng đời Lý Thái Tổ trên nền nơi thờ cũ của làng. Đây là niên đại truyền tụng, không có văn bản đương thời xác nhận.
  • 1634Đạo sắc phong sớm nhất
    Đạo sắc có niên đại sớm nhất trong bộ sắc phong của đền, mở đầu cho một chuỗi sắc kéo dài qua thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn.
  • 1660Bia đá sớm nhất còn lại
    Tấm bia đá cổ nhất của khu đền, mốc vật chất sớm nhất mà người đời sau còn đọc được trực tiếp trên đá.
  • 1683Dựng riêng đền Hạ
    Đền Hạ, tức đền Mẫu thờ mẹ Thánh Gióng, được tách ra dựng riêng. Theo tư liệu di tích, khoảng mười năm sau đền này được dời về vị trí hiện nay.
  • 1705Lạc khoản đời Lê Dụ Tông
    Nhiều hạng mục gỗ và đá trong khu đền mang lạc khoản niên đại này, cho biết một đợt dựng và sửa lớn dưới đời Lê Dụ Tông.
  • Cuối thế kỷ 19Dựng cổng ngũ môn
    Cổng năm cửa trước sân đền Thượng thuộc lớp kiến trúc cuối thời Nguyễn, muộn hơn hẳn các hạng mục phía trong.
  • 2010UNESCO ghi danh hội Gióng
    Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc được ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Phần lớn nguồn ghi tháng 11 năm 2010, một số trang ghi năm 2009, chi tiết nói rõ ngay dưới đây.
  • 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Phù Đổng được xếp hạng theo Quyết định số 2383 ký ngày 9 tháng 12 năm 2013.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Chỗ thứ nhất là số đạo sắc phong. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản và phần lớn bài giới thiệu đều ghi ba mươi bảy đạo thuộc các thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn, trong khi trang thông tin của chính địa phương lại ghi hai mươi mốt đạo. Khoảng chênh này nhiều khả năng đến từ phạm vi đếm, vì bộ sắc của cả quần thể và bộ sắc riêng của đền Thượng là hai con số khác nhau, nhưng chúng tôi chưa tra được bản kiểm kê nào nói dứt điểm nên ghi cả hai.

Chỗ thứ hai là năm UNESCO ghi danh. Hồ sơ chính thức và các bản tin lớn đều ghi tháng 11 năm 2010, một vài trang giới thiệu ghi năm 2009. Năm 2009 là năm hồ sơ được đệ trình, không phải năm ghi danh, và đây là chỗ dễ lẫn nhất trong cả bài.

IIITám Điểm Di Tích Và Nếp Nhà Đền Thượng

Khu di tích trải trên khoảng 60.343,7 mét vuông đất làng và gồm tám điểm di tích thành phần, không nằm chung một hàng rào. Muốn hiểu bố cục ở đây thì đừng đọc theo trục dọc của một ngôi đền, mà đọc theo mặt bằng của một cái làng, nơi mỗi điểm đánh dấu một chỗ trong truyện kể.

Đền Thượng

Ngôi đền chính, quay hướng nam, gồm thủy đình giữa ao, cổng ngũ môn năm cửa, phương đình, rồi ba lớp nhà tiền đường, trung đường và hậu cung nối vào trong.

Đền Hạ, tức đền Mẫu

Thờ mẹ Thánh Gióng, quay hướng tây, mặt bằng theo lối chữ Tam, hai dãy nhà hai bên mỗi dãy năm gian hai dĩ. Tách ra dựng riêng từ năm 1683.

Miếu Ban

Cách đền Thượng chừng hai trăm mét, tương truyền là chỗ bà mẹ trở dạ. Mặt bằng miếu có dáng hình chuông, bờ nóc đắp rồng và hoa.

Đình Hạ Mã

Ngôi đình nhỏ đánh dấu chỗ người đi lễ phải xuống ngựa trước khi vào đền, diện tích khoảng hai trăm mét vuông, nay chỉ còn phần móng.

Cố viên

Khu vườn cũ, theo thần tích là mảnh vườn cà nơi mẹ Gióng ướm chân vào vết chân lạ. Đây là điểm di tích mang tính truyện kể rõ nhất trong tám điểm.

Giá ngự

Chỗ đặt giá kiệu trong hội, cổng vào có hai trụ cao chừng sáu mét. Hạng mục hiện còn được dựng lại vào đầu thế kỷ 20.

Đống Đàm và Soi Bia

Hai bãi đất ngoài đồng, là nơi diễn ra hai lớp diễn xướng đánh cờ trong hội Gióng. Đây là hai điểm di tích không có công trình xây dựng, chỉ có mặt đất và lệ.

Nếp nhà của đền Thượng

Trong tám điểm ấy, đền Thượng là nơi tập trung phần lớn giá trị kiến trúc. Lối vào đặt ngược với thói quen thường gặp: trước cổng không phải sân mà là ao, giữa ao dựng một thủy đình bốn mái. Toà nhà nhỏ này thuộc lớp thế kỷ 17 và được giới nghiên cứu chú ý vì bộ chạm gỗ của nó không lấy đề tài rồng phượng làm chính mà lấy cảnh sinh hoạt dân gian, một lối chạm hiếm gặp ở công trình thờ tự.

Qua ao là cổng ngũ môn năm cửa, lớp kiến trúc muộn nhất của khu đền, dựng cuối thế kỷ 19. Sau ngũ môn là phương đình, rồi ba lớp nhà xếp nối nhau. Ở bậc lên có đôi rồng đá chầu hai bên, và lối bậc dẫn vào trong được lát những phiến đá chạm rồng, có nguồn ghi con số ba mươi chín phiến. Bộ khung gỗ bên trong mang nhiều lạc khoản niên đại 1705 đời Lê Dụ Tông, nghĩa là cái nhìn thấy hôm nay chủ yếu là mặt của thế kỷ 18, dựng chồng lên một nền thờ tự cổ hơn nhiều.

Trong hậu cung đặt tượng Thánh Gióng cùng hai hàng tượng văn quan võ tướng. Ngoài bộ sắc phong và hệ thống bia đá, đền còn giữ hoành phi, câu đối, lư hương, hạc thờ và tượng ngựa, phần lớn thuộc lớp niên đại thời Lê và thời Nguyễn.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đáng nói trước hết là chỗ này không được chọn theo phép tầm long điểm huyệt. Đền dựng ở đây vì thần tích nói người được thờ sinh ra ở đây, tức đất đã có sẵn trước khi có đền. Khi đọc thế đất Phù Đổng, ta đọc một mặt bằng làng được nâng lên thành nơi thờ, chứ không đọc một huyệt do thầy địa lý tìm ra.

Xét về nước, làng nằm trong vùng bãi ven sông Đuống, đất phẳng, không có núi để tựa. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi thiếu mạch núi thì mạch nước thay chỗ, và cách bù của đền Thượng rất rõ: đào một cái ao lớn ngay trước cổng rồi dựng thủy đình giữa ao. Cái ao ấy đóng vai minh đường có thủy tụ, còn nếp nhà nhỏ giữa ao thì giữ cho mặt nước không trống trơn, theo lối cũ gọi là điểm nhãn cho minh đường. Đây là một giải pháp quen của đình đền Bắc Bộ, nhưng ít nơi làm gọn và đẹp như ở đây.

Về hướng, đền Thượng quay hướng nam, hướng mà đền miếu châu thổ chuộng nhất vì đón gió lành mùa hè và tránh gió lạnh thổi từ phương bắc. Đáng chú ý là đền Hạ thờ mẹ Thánh lại quay hướng tây, không quay cùng hướng với đền Thượng. Đọc theo lối cũ, hai hướng khác nhau ấy giữ cho hai nơi thờ không đối diện nhau và không chắn nhau, mỗi nơi có minh đường riêng, quan hệ mẹ con được bày ra trên mặt đất bằng cách đặt cạnh chứ không đặt trước sau.

Sau cùng là điều làm Phù Đổng khác hẳn mọi di tích khác trong vùng: thế đất ở đây là thế của cả một làng chứ không của một khuôn viên. Cố viên ở một chỗ, miếu Ban ở một chỗ, đình Hạ Mã ở lối vào, giá ngự ở chặng rước, Đống Đàm và Soi Bia ở ngoài đồng. Tám điểm ấy nối lại thành một đường đi có thứ tự, và trong ba ngày hội thì đoàn rước đi đúng đường ấy. Nói theo lối phong thủy cổ truyền, khí ở đây không tụ vào một huyệt mà chạy theo một tuyến, và tuyến ấy chỉ sống dậy đủ khi có hội. Đó là một kiểu bố trí mà sách vở ít bàn tới, vì sách vở quen xét nhà cửa đứng yên chứ ít xét một mặt bằng được kích hoạt mỗi năm một lần.

VHội Gióng Tháng Tư

Hội Gióng đền Phù Đổng mở từ mùng bảy tới mùng chín tháng Tư âm lịch, ngày trọng nhất là mùng chín. Đây là một hội diễn xướng chứ không chỉ là một kỳ tế lễ: phần lớn thời gian của hội dành cho những lớp trình diễn có kịch bản chặt, do người của các thôn trong vùng đảm nhận theo vai được chọn từ trước.

Các thành phần chính của hội Gióng đền Phù Đổng. Trình tự cụ thể từng ngày có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại về hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc..
Thành phầnVai tròNội dung
Các ông hiệuNgười giữ vai chính trong diễn xướngGồm hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, hiệu trung quân, hiệu tiểu cổ. Người được chọn phải theo lệ kiêng khem và tập luyện trước hội.
Cô tướngVai nữ tướng bên đối diệnDo các bé gái trong làng đảm nhận, mặc áo mũ theo lệ riêng, ngồi kiệu trong đám rước.
Phường Ải LaoHát và múa hầu ThánhMột phường hát cổ chỉ diễn trong hội Gióng, giữ bản hát và lối múa riêng truyền qua nhiều đời.
Lớp diễn ở Đống ĐàmTrận cờ thứ nhấtDiễn trên chiếu trải giữa bãi, dùng bát úp làm gò và quạt làm cờ. Toàn bộ là múa cờ theo trình tự quy ước, không phải đấu thật.
Lớp diễn ở Soi BiaTrận cờ thứ haiLặp lại cấu trúc của lớp trước ở một bãi khác, khép lại phần diễn xướng chính của hội.
Lễ khao và rước vềPhần kếtĐám rước quay về đền Thượng làm lễ, khép ba ngày hội.
Tục xin lộcSau lớp diễnNgười dự hội xin những mảnh chiếu và mảnh vải dùng trong lớp diễn, giữ lấy làm lộc cho cả năm.

Cần nói rõ tính chất của hai lớp diễn ở Đống ĐàmSoi Bia. Đây là diễn xướng nghi lễ, không phải tái dựng một sự kiện có thật. Sân diễn là một manh chiếu trải trên bãi, gò núi là những chiếc bát úp xuống, còn cờ trong tay ông hiệu cờ là một cây quạt lớn. Mỗi động tác múa cờ đều có tên và có thứ tự bắt buộc, sai một nhịp là phải làm lại. Chính lối ước lệ ấy, chứ không phải quy mô đám đông, là thứ khiến giới nghiên cứu xếp hội Gióng vào hàng những diễn xướng dân gian còn giữ được cấu trúc chặt chẽ nhất của người Việt.

Ngoài ba ngày tháng Tư, đền đông vào dịp đầu xuân và các ngày rằm mùng một. Người trong vùng còn giữ lệ đi liền hai nơi trong cùng một mùa, Phù Đổng rồi đền Sóc, để đi trọn cả hai đầu của một thần tích.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Phù Đổng cũ, huyện Gia Lâm, nay là xã Phù Đổng, Hà Nội
Đường tới
Khu di tích nằm ở xã Phù Đổng, bên sông Đuống, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi cây số về phía đông bắc. Tám điểm di tích nằm rải trong địa bàn làng nên đi bộ nối các điểm với nhau.
Toạ độ
21.055, 105.96
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải khu trưng bày, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào đôi rồng đá, bia đá và bộ chạm gỗ của thủy đình, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Trong ba ngày hội, các lớp diễn ở Đống Đàm và Soi Bia có vạch phân khu riêng, xin quý vị đứng ngoài vạch và không đi cắt ngang giữa ông hiệu với chiếu diễn.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Phù Đổng

Contribute photos, information or video for Phu Dong Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Phù Đổng thờ ai

Thờ Thánh Gióng, danh hiệu trong sắc phong và thần tích là Phù Đổng Thiên Vương, có nơi ghi là Xung Thiên Thần Vương, một trong bốn vị Tứ bất tử của người Việt. Trong quần thể còn có đền Hạ tức đền Mẫu thờ mẹ của ngài.

Đền Phù Đổng và đền Sóc khác nhau thế nào

Hai nơi thờ cùng một vị nhưng giữ hai đoạn khác nhau của thần tích. Phù Đổng là quê sinh, có cố viên và miếu Ban gắn với chuyện sinh nở. Đền Sóc dưới chân núi Vệ Linh là nơi truyền thuyết kể ngài cởi áo giáp sắt rồi bay về trời. Hội của hai nơi khác nhau cả ngày tháng lẫn nghi thức.

Khu di tích đền Phù Đổng gồm những gì

Gồm tám điểm di tích thành phần: đền Thượng, đền Hạ tức đền Mẫu, miếu Ban, đình Hạ Mã, cố viên, giá ngự, khu đánh cờ Đống Đàm và bãi đánh cờ Soi Bia. Chùa Kiến Sơ nằm ngay sát đền Thượng nhưng là một ngôi chùa riêng, không thuộc tám điểm này.

Hội Gióng đền Phù Đổng mở ngày nào

Từ mùng bảy tới mùng chín tháng Tư âm lịch, ngày trọng nhất là mùng chín. Hội có các ông hiệu, cô tướng, phường Ải Lao và hai lớp diễn xướng đánh cờ ở Đống Đàm và Soi Bia. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc được UNESCO ghi danh tháng 11 năm 2010.

Đền Phù Đổng có bao nhiêu đạo sắc phong

Nguồn ghi vênh nhau. Hồ sơ di tích và phần lớn tài liệu ghi ba mươi bảy đạo thuộc thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn, đạo sớm nhất năm 1634, trong khi trang thông tin của địa phương ghi hai mươi mốt đạo. Khoảng chênh nhiều khả năng do phạm vi đếm khác nhau, chúng tôi ghi cả hai.

Đọc Tiếp