VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh)

Đền Hạ Lôi

Ngôi đền trên chính đất Mê Linh, nơi Hai Bà Trưng lên ngôi, thờ hai bà trong vai vua cùng đủ mặt thân quyến và các hàng tướng lĩnh.

Diện tích khu di tích
129.824 mét vuông
có nguồn ghi gọn là khoảng 13 hecta
Số lần trùng tu lớn
5
trong đó một lần đổi hướng đền, một lần xoay trả hướng cũ
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013

Qua cổng đền hai tầng với ba cửa vòm, quý vị bước vào một khuôn viên rộng hơn hẳn mức thường thấy của một ngôi đền làng. Trước mặt là hồ bán nguyệt, hai bên là những vạt đất trũng mà người làng gọi là hồ mắt voi và suối vòi voi. Ngôi đền chính đứng ở giữa, nhưng quanh nó không phải nhà dân mà là những ngôi đền khác, mỗi ngôi thờ một lớp người.

Cách bày ấy nói ngay vai mà nơi này giữ. Đây là đất Mê Linh, và theo thần tích, chính trên đất này Hai Bà Trưng lên ngôi sau khi đánh đổ ách đô hộ nhà Đông Hán năm 40. Đền vì thế không chỉ thờ hai người mà thờ cả một triều đình, với hai bà ở giữa, cha mẹ cùng sư phụ sư mẫu của hai bà và ông Thi Sách cùng cha mẹ ở hai bên, các nữ tướng và nam tướng ở hai đền riêng. Nơi này thờ Hai Bà trong vai vua, và mặt bằng được xếp đúng theo vai ấy.

Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh)
Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh). Ảnh: Ltn12345, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHai Bà Trưng Trong Vai Vua

Vị được thờ là Trưng Trắc và Trưng Nhị, người đất Mê Linh, cùng thân quyến và các tướng lĩnh của hai bà. Tên gọi khác của đền là đền Hạ Lôi, lấy theo tên thôn. Chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ danh xưng Nhị Trưng quen dùng trong thư tịch, không phải chữ chép lại từ hoành phi trong đền.

Theo giáo nghĩa

Cần nói rõ điều làm cửa đền này khác các nơi thờ Hai Bà khác. Ở đây hai bà không được thờ như hai nữ anh hùng đơn lẻ mà được thờ như người đứng đầu một chính quyền. Vì vậy hệ thống thờ tự có tầng lớp hẳn hoi và trải ra thành nhiều ngôi đền, gồm đền chính thờ hai bà, đền bên thờ thân phụ thân mẫu cùng sư phụ sư mẫu của hai bà, một đền nữa thờ ông Thi Sách cùng thân phụ thân mẫu, rồi đền thờ các nữ tướng và đền thờ các nam tướng. Đọc sơ đồ ấy thì thấy đủ cả ba lớp của một triều đình cổ là bề trên trong nhà, người đứng đầu, và hàng quan lại.

Ở đền Hát Môn bên cửa sông Hát thì khác hẳn. Nơi ấy thờ hai bà trong vai người lập lời thề và người giữ trọn lời thề, hiện vật trung tâm là đàn Thề, đồ thờ sơn đen, lễ lớn nhất là ngày mất. Hai cửa đền cùng thờ một cặp nhân vật nhưng không nói cùng một điều. Xin quý vị đọc trang riêng của đền Hát Môn để thấy mặt kia.

Theo sử liệu

Về niên đại lập đền, tư liệu ghi vênh nhau và thư viện ghi cả hai luồng. Luồng thứ nhất, cũng là luồng được nhắc nhiều trong tư liệu địa phương, gắn việc lập đền với đời Lý Anh Tông ở giữa thế kỷ 12, truyền thuyết kể năm ấy gặp hạn hán, hai bà báo mộng, vua cầu đảo thì được mưa nên truyền lập đền ngay trên cố hương của hai bà. Luồng thứ hai, thấy trong một số tài liệu giới thiệu di tích, nói đền được lập từ rất sớm, ngay sau khi hai bà mất. Cả hai đều thuộc lớp truyền tụng chứ không dựa trên bia ký đương thời, và thư viện không chọn bừa một mốc.

Điều chắc chắn hơn là lớp vật chất. Khu di tích hiện giữ 23 đạo sắc phong qua các triều đại, còn các di vật bằng gỗ, đá, đồng và sứ phần lớn thuộc thời Nguyễn, chạm đề tài rồng và hoa lá, cùng lớp niên đại với các đợt trùng tu mà bia đá trong khu đền ghi lại.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất là coi mọi nơi thờ Hai Bà Trưng là như nhau, rồi đi một nơi thì cho là đã đi đủ. Thực ra các cửa đền lớn thờ hai bà giữ những vai khác nhau, mở hội vào những ngày khác nhau, và có những nghi thức riêng không lặp lại ở nơi khác.

Nói riêng về các nơi lớn ở Hà Nội, Mê Linh là đất lên ngôi, hội mở mùng sáu tháng Giêng, nghi thức đặc trưng là rước kiệu và giao kiệu. Hát Môn là nơi lập đàn thề và là nơi tuẫn tiết, kỳ lễ lớn nhất vào mùng sáu tháng Ba, nghi thức đặc trưng là dâng bánh trôi, và cả đền kiêng màu đỏ. Ngoài ra trong nội thành Hà Nội còn cửa đền ở Đồng Nhân thờ hai bà với lịch sử riêng của nó. Ba nơi ấy làm thành ba mặt của cùng một câu chuyện, không nơi nào thay được nơi nào.

IINăm Lần Trùng Tu Và Chuyện Đổi Hướng Đền

Điều đáng chú ý trong lịch sử ngôi đền này không phải năm khởi dựng, vốn không chắc chắn, mà là chuỗi trùng tu. Tư liệu di tích ghi năm lần sửa lớn, và trong đó có một cặp sự việc hiếm gặp ở di tích Việt Nam khi đền từng bị đổi hướng, rồi hơn hai trăm năm sau lại được xoay trả về hướng cũ.

  • Giữa thế kỷ 12Tương truyền lập đền
    Theo truyền tụng, đời Lý Anh Tông gặp hạn hán, hai bà báo mộng, vua cầu đảo được mưa nên truyền lập đền thờ tại cố hương của hai bà theo hướng tây nam (tọa Cấn hướng Khôn). Có nguồn khác ghi đền có từ sớm hơn nhiều, ngay sau khi hai bà mất.
  • Thế kỷ 17Đổi hướng đền (lần trùng tu thứ nhất)
    Theo tư liệu địa phương, thời Hậu Lê có vị quan Thượng Láng đi qua trước đền không xuống voi nên bị ngã, phải tạ lỗi và sửa lại đền, làm đổi hướng ngôi đền từ tây nam sang tây bắc.
  • 1881Xoay trả hướng cũ và xây lại tam quan (lần thứ hai và thứ ba)
    Năm Tân Tỵ đời Tự Đức, phủ úy An Lãng Nguyễn An Liên cùng các bô lão xoay trả đền về hướng tây nam như cũ và bỏ hai dãy tả mạc cho sân rộng (lần trùng tu thứ hai). Cuối năm ấy bão lớn làm đổ tam quan, ông Bích người làng Hạ Lôi vào Huế lấy mẫu Ngọ Môn về xây lại tam quan tức Tác môn và trùng tu tiền tế (lần trùng tu thứ ba).
  • 1934Trùng tu trung điện (lần thứ tư)
    Lớp nhà giữa của ngôi đền chính được trùng tu trong đợt sửa lớn thứ tư này.
  • 1980 và 2002 tới 2010Xếp hạng quốc gia và tu bổ tổng thể (lần thứ năm)
    Đền được xếp hạng di tích cấp quốc gia ngày 10 tháng 7 năm 1980. Từ năm 2002 tới 2010, khu di tích trải qua đợt tu bổ lớn thứ năm gồm hai giai đoạn, tôn tạo đền chính và dựng thêm các đền thờ thân phụ thân mẫu Hai Bà, đền thờ thân phụ thân mẫu ông Thi Sách cùng hai đền thờ tướng lĩnh.
  • 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử đền Hai Bà Trưng được xếp hạng theo Quyết định số 2383 ký ngày 9 tháng 12 năm 2013.
  • 2022Công nhận điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt
    Khu đền được thành phố công nhận là điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2948 ngày 18 tháng 8 năm 2022, kèm việc chỉnh trang đường đi và hệ thống biển chỉ dẫn trong khuôn viên.
Theo sử liệu

Về diện tích khu di tích, các nguồn ghi hai con số. Hồ sơ di tích ghi 129.824 mét vuông, trong khi một số bài giới thiệu ghi gọn là khoảng 13 hecta, trong đó khu nội vi hơn 4 hecta với năm ngôi đền chính. Hai con số này không mâu thuẫn nhau, con số sau chỉ là cách nói tròn của con số trước, nhưng thư viện ghi cả hai để quý vị khỏi ngờ khi gặp tài liệu khác nhau. Cũng cần lưu ý rằng bốn ngôi đền phụ thờ thân quyến và các hàng tướng lĩnh trong khu nội vi là các công trình được dựng mới trong dự án tu bổ giai đoạn 2002 tới 2005 để hoàn chỉnh sơ đồ thờ tự của khu đền.

Trong địa bàn thôn Hạ Lôi còn dấu tích thành cổ Mê Linh, một dải đất đắp mà tư liệu mô tả có dáng uốn lượn, chiều dài chừng 1.750 mét. Thư viện chỉ ghi lại đây như một dấu tích trên mặt đất gắn với địa danh, phần khảo cổ và niên đại của nó xin để tư liệu chuyên ngành nói.

IIIMột Mặt Bằng Xếp Theo Vai Vế

Khu di tích chia hai phần, khu ngoại vi rộng và khu nội vi hơn 4 hecta. Trong khu nội vi có năm ngôi đền, đặt theo quan hệ vai vế chứ không đặt theo kích thước hay theo thứ tự xây dựng. Đây là điểm khác cơ bản so với những nơi chỉ thờ một vị, nơi bố cục chỉ cần một trục dọc.

Cổng đền (Tác môn)

Kiến trúc hai tầng với ba cửa vòm, thường gọi là Tác môn, mở ra khoảng sân trước rộng. Tam quan hiện thấy là lớp xây lại sau trận bão cuối năm 1881 theo mẫu Ngọ Môn ở Huế.

Đền chính thờ Hai Bà

Gồm ba lớp nhà nối nhau là tiền tế bảy gian, trung tế năm gian, rồi hậu cung. Số gian giảm dần từ ngoài vào trong, một cách thu hẹp không gian quen thuộc của đền miếu Bắc Bộ.

Đền thờ thân phụ thân mẫu Hai Bà

Một trong các ngôi đền phụ trong khu nội vi, dựng trong đợt tu bổ đầu thế kỷ 21 để thờ cha mẹ cùng sư phụ, sư mẫu của hai bà, đặt theo đúng vai bề trên.

Đền thờ ông Thi Sách và thân phụ thân mẫu

Ngôi đền thờ ông Thi Sách cùng cha mẹ bên nhà chồng của bà Trưng Trắc, đứng đối ứng với đền thờ cha mẹ hai bà.

Đền thờ nữ tướng và đền thờ nam tướng

Hai ngôi đền dành cho các hàng nữ tướng và nam tướng triều Hai Bà Trưng, xếp ở lớp ngoài so với đền chính, ứng với hàng bề tôi trong một triều đình.

Nhà bia

Nơi đặt các tấm bia ghi lại những lần trùng tu, tư liệu gốc quan trọng nhất để lần lại chuỗi niên đại sửa chữa của khu đền.

Hồ bán nguyệt, hồ mắt voi, suối vòi voi

Ba vạt nước trong khuôn viên, mang tên dân gian đặt theo hình dáng. Chúng vừa là cảnh quan vừa là một phần của cách đọc thế đất ở đây.

Di vật trong đền gồm 23 đạo sắc phong cùng nhiều đồ thờ bằng gỗ, đá, đồng và sứ phần lớn thuộc thời Nguyễn, chạm đề tài rồng và hoa lá. Điều đáng nói về mặt nghề là phần lớn những gì thấy hôm nay đã qua đợt tu bổ dài từ năm 2002 tới năm 2010, nên người xem cần phân biệt lớp cốt cũ với lớp sơn thếp và công trình mở rộng mới. Chỗ giữ được dấu thời gian rõ nhất không nằm ở bộ vì hay ở tượng thờ mà nằm ở hệ thống bia đá trong nhà bia, vì bia là thứ ít bị làm mới nhất trong một đợt trùng tu.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Trong các ngôi đền mà thư viện khảo tả, đây là nơi có tư liệu về hướng thú vị vào bậc nhất, vì đền Hạ Lôi là một trong số rất ít di tích Việt Nam mà chuyện hướng được ghi lại thành mốc. Tư liệu địa phương ghi đền vốn quay hướng tây nam (tọa Cấn hướng Khôn), tới thế kỷ 17 thì một đợt sửa lớn dưới thời Hậu Lê làm đổi sang hướng tây bắc, và tới năm Tân Tỵ 1881 thì người sau xoay trả về hướng tây nam như cũ.

Việc ấy đáng đọc kỹ. Đổi hướng một ngôi đền không phải chuyện nhỏ, vì phải hạ cả bộ khung rồi dựng lại, tốn kém hơn hẳn việc sửa mái hay thay cột. Người thời Hậu Lê hẳn có lý do của họ, có thể là câu chuyện vị quan đi qua đền phải sửa lại như truyền tụng, có thể là thay đổi đường đi lối lại trong làng hoặc một kiến giải phong thủy của thời ấy. Điều đáng chú ý hơn là việc xoay trả sau đó khoảng hai trăm năm. Trong cách nghĩ cổ truyền, hướng của một nơi thờ không thuần là chuyện đón nắng gió mà là chuyện đúng lệ, bởi hướng do người dựng đầu tiên định ra được coi là hướng của chính vị được thờ, và đổi nó đi là đổi một thứ không thuộc quyền người sau. Việc năm 1881 vì thế nên đọc như một hành vi trả lại, gần với sửa sai hơn là với cải tạo. Ngay cuối năm ấy một trận bão làm hỏng tam quan và tam quan được xây lại, hai việc nối nhau trong cùng một năm nên tư liệu ghi liền thành hai lần trùng tu trong năm Tân Tỵ.

Xét về hình thế, đây là đất bờ tả sông Hồng, phẳng, không có núi để tựa. Cách bù của khu đền theo đúng lối đồng bằng là dùng nước thay cho núi. Trước đền có hồ bán nguyệt làm minh đường, đây là dạng ao hình vòng cung rất quen của đình đền Bắc Bộ, ôm lấy mặt tiền để giữ khí không xổ thẳng ra ngoài. Hai vạt nước còn lại mang tên dân gian là hồ mắt voi và suối vòi voi. Cách đặt tên ấy cho thấy người làng đã đọc mảnh đất của mình theo lối hình tượng hóa địa hình, tức nhìn ra dáng một con vật trong thế đất rồi gọi tên từng bộ phận. Trong phép xem đất cổ truyền, voi là biểu tượng của sự vững nặng và của uy thế, và một thế đất mang tên voi ở ngay nơi thờ người lên ngôi thì cái tên ấy tự nó đã là một cách đọc.

Sau cùng là trật tự trên mặt bằng. Năm ngôi đền không xếp thành một hàng dọc dẫn vào trong, mà xếp theo quan hệ họ hàng và quan hệ vua tôi, người trên ở trong, hàng tướng ở ngoài, hai bên nội ngoại đối ứng nhau. Đọc theo lối cũ, một trục dọc biến thứ tự trước sau thành thứ tự trên dưới, còn cách bày đối ứng như ở đây thì giữ cho hai bên nhà không ai đứng sau lưng ai. Mặt bằng của đền Hạ Lôi vì thế là một sơ đồ vai vế dựng bằng nhà cửa, và đó là điều hợp với nội dung thờ tự ở một nơi thờ vua chứ không chỉ thờ thần.

VHội Mùng Sáu Tháng Giêng Và Lệ Giao Kiệu

Hội đền mở từ mùng bốn tới mùng mười tháng Giêng âm lịch, chính hội vào mùng sáu. Phần đáng xem nhất không phải phần tế trong đền mà là đám rước kiệu đi lại giữa đền và đình làng Hạ Lôi, vì trong đám rước ấy có một nghi thức đặc sắc của vùng Mê Linh là lệ giao kiệu.

Trình tự các nghi thức chính trong kỳ hội tháng Giêng. Ngày tổ chức cụ thể của từng phần có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Tư liệu về lễ hội đền Hai Bà Trưng do cơ quan quản lý di tích và báo chí địa phương công bố..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước ngày mở hộiSửa soạn và cáo yếtCác giáp trong làng chuẩn bị kiệu, cờ và đồ rước, làm lễ trình báo trước khi vào hội.
Mùng 4 tháng GiêngRước kiệu từ đền ra đình Hạ LôiĐám rước gồm năm cỗ kiệu, ba cỗ xuất phát từ đền là kiệu văn (song loan), kiệu bà Trưng Trắc và kiệu bà Trưng Nhị, hai cỗ xuất phát từ đình làng Hạ Lôi là kiệu Thánh Cốt Tung và kiệu Tứ vị Thành hoàng làng (bốn vị tướng Đô, Hồ, Bạch, Hạc).
Trên đường rướcLệ giao kiệuKiệu bà Trưng Trắc dừng lại nhường kiệu bà Trưng Nhị tiến lên đi trước, rồi đổi lại, kèm động tác đổi vai nâng kiệu qua đầu ba lần làm đoàn kiệu uốn lượn như rồng bay. Lệ này lặp hai lần trên mỗi chặng.
Mùng 6 tháng GiêngChính hội và rước kiệu về đềnNgày trọng nhất của kỳ hội, đám rước quay về đền theo trình tự ngược lại, vẫn giữ đủ các lần giao kiệu.
Trong đám rướcĐội hình hộ giáGồm cờ lệnh, đội cờ ngũ hành, đội cờ tứ linh, đội nữ binh hộ giá, voi trắng, ngựa hồng và ngựa bạch, kèm múa lân và dàn nhạc bát âm.
Trong ngày chính hộiĐại tế tại đềnPhần tế chính trong đền, dâng hương và tuyên đọc văn tế.
Suốt kỳ hộiTrò dân gianCác trò quen của vùng như đánh đu, đấu vật và các trò chơi làng.
Theo sử liệu

Lệ giao kiệu đáng được giải thích cho kỹ, vì nó là chỗ nói rõ nhất cái vai mà đền này giữ. Câu mà người làng dùng để giải thích nghi thức ấy là nội gia tỷ muội, ngoại quốc quân thần, nghĩa là trong nhà thì là chị em, ngoài việc nước thì là vua tôi.

Theo lệ, bà Trưng Trắc là chị và là người lên ngôi. Xét việc nước thì kiệu của bà phải đi trước. Xét tình chị em trong một nhà thì người chị lại nhường em. Hai lẽ ấy không thể cùng thắng, nên người xưa không chọn một bên mà dựng hẳn một nghi thức để diễn cả hai khi kiệu dừng, nhường, rồi lại đổi lại. Một mâu thuẫn về lễ nghi được giải quyết bằng chuyển động chứ không bằng lời, và giải quyết theo cách để cả hai lẽ đều được nhìn thấy.

Nói cách khác, lệ giao kiệu chính là nơi cái vai vua của Hai Bà hiện ra rõ nhất trên thực địa. Ở Hát Môn không có nghi thức này, vì nơi ấy thờ hai bà trong một vai khác hẳn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh cũ, huyện Mê Linh, nay là xã Mê Linh, Hà Nội
Đường tới
Đền nằm ở thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi lăm cây số về phía tây bắc, gần bờ tả sông Hồng. Khuôn viên rộng và có nhiều ngôi đền trong khu nội vi nên cần đi bộ mới xem hết.
Toạ độ
21.1605, 105.739
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải khu trưng bày, nên lệ nhà cần được giữ như ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào bia đá trong nhà bia và các đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Khu nội vi có năm ngôi đền chứ không chỉ một, theo lệ thì lễ ở đền chính trước rồi mới sang các đền thờ thân quyến và thờ tướng lĩnh. Trong những ngày rước tháng Giêng, đường rước có phân luồng riêng, xin quý vị không đi cắt ngang đám rước, nhất là ở những chặng làm lệ giao kiệu.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh thờ ai

Thờ Trưng Trắc và Trưng Nhị trong vai vua, tức người lên ngôi trên đất Mê Linh. Khu nội vi còn có đền thờ thân phụ thân mẫu cùng sư phụ sư mẫu của hai bà, đền thờ ông Thi Sách cùng thân phụ thân mẫu, đền thờ các nữ tướng và đền thờ các nam tướng, làm thành một sơ đồ triều đình dựng bằng nhà cửa.

Nghi thức giao kiệu ở đền Hai Bà Trưng là gì

Là lệ trong đám rước, khi kiệu bà Trưng Trắc dừng lại nhường kiệu bà Trưng Nhị tiến lên đi trước rồi lại đổi lại, kèm động tác đổi vai nâng kiệu qua đầu ba lần. Người làng giải thích bằng câu nội gia tỷ muội, ngoại quốc quân thần, nghĩa là trong nhà thì là chị em, ngoài việc nước thì là vua tôi. Đây là nghi thức riêng của đền này.

Lễ hội đền Hai Bà Trưng Mê Linh mở ngày nào

Từ mùng bốn tới mùng mười tháng Giêng âm lịch, chính hội vào mùng sáu. Mùng bốn rước kiệu từ đền ra đình làng Hạ Lôi, mùng sáu rước về đền, cả hai chặng đều có lệ giao kiệu. Đám rước gồm năm cỗ kiệu cùng đội cờ ngũ hành, cờ tứ linh và đội nữ binh hộ giá.

Đền Hai Bà Trưng Mê Linh có từ bao giờ

Nguồn ghi vênh nhau. Luồng thứ nhất gắn việc lập đền với đời Lý Anh Tông ở giữa thế kỷ 12, sau chuyện vua cầu đảo được mưa. Luồng thứ hai nói đền có từ rất sớm, ngay sau khi hai bà mất. Cả hai đều là truyền tụng, còn lớp di vật hiện còn gồm 23 đạo sắc phong và các đồ thờ phần lớn thuộc thời Nguyễn.

Vì sao đền từng bị đổi hướng rồi lại xoay trả

Đền ban đầu quay hướng tây nam (tọa Cấn hướng Khôn). Một đợt sửa lớn dưới thời Hậu Lê ở thế kỷ 17 làm đổi hướng đền sang tây bắc. Tới năm Tân Tỵ 1881, đền được xoay trả về hướng tây nam như cũ, và cuối năm ấy tam quan (Tác môn) được xây lại theo mẫu Ngọ Môn ở Huế sau một trận bão. Đây là một trong rất ít di tích Việt Nam mà chuyện hướng được ghi lại thành mốc niên đại.

›Đọc Tiếp