Qua cổng đền hai tầng với ba cửa vòm, quý vị bước vào một khuôn viên rộng hơn hẳn mức thường thấy của một ngôi đền làng. Trước mặt là hồ bán nguyệt, hai bên là những vạt đất trũng mà người làng gọi là hồ mắt voi và suối vòi voi. Ngôi đền chính đứng ở giữa, nhưng quanh nó không phải nhà dân mà là những ngôi đền khác, mỗi ngôi thờ một lớp người.
Cách bày ấy nói ngay vai mà nơi này giữ. Đây là đất Mê Linh, và theo thần tích, chính trên đất này Hai Bà Trưng lên ngôi sau khi đánh đổ ách đô hộ nhà Đông Hán năm 40. Đền vì thế không thờ hai người mà thờ một triều đình: hai bà ở giữa, cha mẹ hai bà và cha mẹ ông Thi Sách ở hai bên, các nữ tướng và nam tướng ở hai đền riêng. Nơi này thờ Hai Bà trong vai vua, và mặt bằng được xếp đúng theo vai ấy.
IHai Bà Trưng Trong Vai Vua
Vị được thờ là Trưng Trắc và Trưng Nhị, người đất Mê Linh, cùng thân quyến và các tướng lĩnh của hai bà. Tên gọi khác của đền là đền Hạ Lôi, lấy theo tên thôn. Chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ danh xưng Nhị Trưng quen dùng trong thư tịch, không phải chữ chép lại từ hoành phi trong đền.
Cần nói rõ điều làm cửa đền này khác các nơi thờ Hai Bà khác. Ở đây hai bà không được thờ như hai nữ anh hùng đơn lẻ mà được thờ như người đứng đầu một chính quyền. Vì vậy hệ thống thờ tự có tầng lớp hẳn hoi và trải ra thành nhiều ngôi đền: đền chính thờ hai bà, đền bên thờ thân phụ thân mẫu của hai bà, một đền nữa thờ thân phụ thân mẫu ông Thi Sách, rồi đền thờ các nữ tướng và đền thờ các nam tướng. Đọc sơ đồ ấy thì thấy đủ cả ba lớp của một triều đình cổ: bề trên trong nhà, người đứng đầu, và hàng quan lại.
Ở đền Hát Môn bên cửa sông Hát thì khác hẳn. Nơi ấy thờ hai bà trong vai người lập lời thề và người giữ trọn lời thề, hiện vật trung tâm là đàn Thề, đồ thờ sơn đen, lễ lớn nhất là ngày mất. Hai cửa đền cùng thờ một cặp nhân vật nhưng không nói cùng một điều. Xin quý vị đọc trang riêng của đền Hát Môn để thấy mặt kia.
Về niên đại lập đền, tư liệu ghi vênh nhau và chúng tôi ghi cả hai luồng. Luồng thứ nhất, cũng là luồng được nhắc nhiều trong tư liệu địa phương, gắn việc lập đền với đời Lý Anh Tông ở giữa thế kỷ 12: truyền thuyết kể năm ấy gặp hạn hán, hai bà báo mộng, vua cầu đảo thì được mưa nên truyền lập đền ngay trên cố hương của hai bà. Luồng thứ hai, thấy trong một số tài liệu giới thiệu di tích, nói đền được lập từ rất sớm, ngay sau khi hai bà mất. Cả hai đều thuộc lớp truyền tụng chứ không dựa trên bia ký đương thời, và chúng tôi không chọn bừa một mốc.
Điều chắc chắn hơn là lớp vật chất. Các di vật hiện còn trong đền bằng gỗ, đá, đồng và sứ phần lớn thuộc thời Nguyễn, chạm đề tài rồng và hoa lá, cùng lớp niên đại với các đợt trùng tu mà bia đá trong khu đền ghi lại.
Chỗ hay hiểu lầm nhất là coi mọi nơi thờ Hai Bà Trưng là như nhau, rồi đi một nơi thì cho là đã đi đủ. Thực ra các cửa đền lớn thờ hai bà giữ những vai khác nhau, mở hội vào những ngày khác nhau, và có những nghi thức riêng không lặp lại ở nơi khác.
Nói riêng về hai nơi trong vùng: Mê Linh là đất lên ngôi, hội mở mùng sáu tháng Giêng, nghi thức đặc trưng là rước kiệu và giao kiệu. Hát Môn là nơi lập đàn thề và là nơi tuẫn tiết, kỳ lễ lớn nhất vào mùng sáu tháng Ba, nghi thức đặc trưng là dâng bánh trôi, và cả đền kiêng màu đỏ. Ngoài ra trong nội thành Hà Nội còn một cửa đền nữa thờ hai bà với lịch sử riêng của nó. Ba nơi ấy làm thành ba mặt của cùng một câu chuyện, không nơi nào thay được nơi nào.
IINăm Lần Trùng Tu Và Chuyện Đổi Hướng Đền
Điều đáng chú ý trong lịch sử ngôi đền này không phải năm khởi dựng, vốn không chắc chắn, mà là chuỗi trùng tu. Tư liệu di tích ghi năm lần sửa lớn, và trong đó có một cặp sự việc hiếm gặp ở di tích Việt Nam: đền từng bị đổi hướng, rồi hơn một trăm năm sau lại được xoay trả về hướng cũ.
- Giữa thế kỷ 12Tương truyền lập đềnTheo truyền tụng, đời Lý Anh Tông gặp hạn hán, hai bà báo mộng, vua cầu đảo được mưa nên truyền lập đền thờ tại cố hương của hai bà. Có nguồn khác ghi đền có từ sớm hơn nhiều, ngay sau khi hai bà mất.
- Thế kỷ 17Đổi hướng đềnMột đợt sửa lớn dưới thời Hậu Lê làm thay đổi hướng của ngôi đền so với hướng dựng ban đầu.
- 1881Xoay trả hướng cũNăm Tân Tỵ, đền được xoay trả về hướng cũ. Cuối năm ấy, sau một trận bão, tam quan được xây lại.
- 1934Trùng tu trung điệnLớp nhà giữa của ngôi đền chính được trùng tu trong đợt này.
- 2002 tới 2010Tu bổ toàn bộ khu di tíchĐợt tu bổ dài nhất và rộng nhất, làm lại bộ khung, sơn thếp và mở rộng các hạng mục phụ trợ trong khuôn viên.
- 2013Di tích quốc gia đặc biệtDi tích lịch sử đền Hai Bà Trưng được xếp hạng theo Quyết định số 2383 ký ngày 9 tháng 12 năm 2013.
- Gần đâyCông nhận điểm du lịch di tích quốc gia đặc biệtKhu đền được thành phố công nhận là điểm du lịch gắn với di tích quốc gia đặc biệt, kèm việc chỉnh trang đường đi và hệ thống biển chỉ dẫn trong khuôn viên.
Về diện tích khu di tích, các nguồn ghi hai con số. Hồ sơ di tích ghi 129.824 mét vuông, trong khi một số bài giới thiệu ghi gọn là khoảng 13 hecta, trong đó khu nội vi hơn 4 hecta với năm ngôi đền chính. Hai con số này không mâu thuẫn nhau, con số sau chỉ là cách nói tròn của con số trước, nhưng chúng tôi ghi cả hai để quý vị khỏi ngờ khi gặp tài liệu khác nhau.
Trong địa bàn thôn Hạ Lôi còn dấu tích thành cổ Mê Linh, một dải đất đắp mà tư liệu mô tả có dáng uốn lượn, chiều dài chừng 1.750 mét. Thư viện chỉ ghi lại đây như một dấu tích trên mặt đất gắn với địa danh, phần khảo cổ và niên đại của nó xin để tư liệu chuyên ngành nói.
IIIMột Mặt Bằng Xếp Theo Vai Vế
Khu di tích chia hai phần, khu ngoại vi rộng và khu nội vi hơn 4 hecta. Trong khu nội vi có năm ngôi đền, đặt theo quan hệ vai vế chứ không đặt theo kích thước hay theo thứ tự xây dựng. Đây là điểm khác cơ bản so với những nơi thờ một vị duy nhất, nơi bố cục chỉ cần một trục dọc.
Kiến trúc hai tầng với ba cửa vòm, mở ra khoảng sân trước rộng. Tam quan hiện thấy là lớp xây lại sau trận bão cuối năm 1881.
Gồm ba lớp nhà nối nhau: tiền tế bảy gian, trung tế năm gian, rồi hậu cung. Số gian giảm dần từ ngoài vào trong, một cách thu hẹp không gian quen thuộc của đền miếu Bắc Bộ.
Một trong các ngôi đền phụ trong khu nội vi, thờ cha mẹ của hai bà, đặt theo đúng vai bề trên trong nhà.
Ngôi đền thờ bên nhà chồng của bà Trưng Trắc, đứng đối ứng với đền thờ cha mẹ hai bà.
Hai ngôi đền dành cho hàng tướng lĩnh cùng thời, xếp ở lớp ngoài so với đền chính, ứng với hàng bề tôi trong một triều đình.
Nơi đặt các tấm bia ghi lại những lần trùng tu, tư liệu gốc quan trọng nhất để lần lại chuỗi niên đại sửa chữa của khu đền.
Ba vạt nước trong khuôn viên, mang tên dân gian đặt theo hình dáng. Chúng vừa là cảnh quan vừa là một phần của cách đọc thế đất ở đây.
Di vật trong đền phần lớn thuộc thời Nguyễn, làm bằng gỗ, đá, đồng và sứ, chạm đề tài rồng và hoa lá. Điều đáng nói về mặt nghề là phần lớn những gì thấy hôm nay đã qua đợt tu bổ dài từ năm 2002 tới năm 2010, nên người xem cần phân biệt lớp cốt cũ với lớp sơn thếp mới. Chỗ giữ được dấu thời gian rõ nhất không nằm ở bộ vì hay ở tượng thờ mà nằm ở hệ thống bia đá trong nhà bia, vì bia là thứ ít bị làm mới nhất trong một đợt trùng tu.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trong bốn ngôi đền mà thư viện viết trong đợt này, đây là nơi có tư liệu về hướng thú vị nhất, vì đền Hạ Lôi là một trong số rất ít di tích Việt Nam mà chuyện hướng được ghi lại thành mốc. Đền vốn có một hướng, tới thế kỷ 17 thì một đợt sửa lớn làm đổi hướng, và tới năm Tân Tỵ 1881 thì người sau xoay trả về hướng cũ.
Việc ấy đáng đọc kỹ. Đổi hướng một ngôi đền không phải chuyện nhỏ, vì phải hạ cả bộ khung rồi dựng lại, tốn kém hơn hẳn việc sửa mái hay thay cột. Người thời Hậu Lê hẳn có lý do của họ, có thể là thay đổi đường đi lối lại trong làng, có thể là một kiến giải phong thủy của thời ấy. Điều đáng chú ý hơn là việc xoay trả sau đó hơn một trăm năm. Trong cách nghĩ cổ truyền, hướng của một nơi thờ không thuần là chuyện đón nắng gió mà là chuyện đúng lệ: hướng do người dựng đầu tiên định ra được coi là hướng của chính vị được thờ, và đổi nó đi là đổi một thứ không thuộc quyền người sau. Việc năm 1881 vì thế nên đọc như một hành vi trả lại, gần với sửa sai hơn là với cải tạo. Ngay cuối năm ấy một trận bão làm hỏng tam quan và tam quan được xây lại, hai việc nối nhau trong cùng một năm nên bia ghi liền, nhưng đó là hai việc khác nhau.
Xét về hình thế, đây là đất bờ tả sông Hồng, phẳng, không có núi để tựa. Cách bù của khu đền theo đúng lối đồng bằng: dùng nước thay cho núi. Trước đền có hồ bán nguyệt làm minh đường, đây là dạng ao hình vòng cung rất quen của đình đền Bắc Bộ, ôm lấy mặt tiền để giữ khí không xổ thẳng ra ngoài. Hai vạt nước còn lại mang tên dân gian là hồ mắt voi và suối vòi voi. Cách đặt tên ấy cho thấy người làng đã đọc mảnh đất của mình theo lối hình tượng hóa địa hình, tức nhìn ra dáng một con vật trong thế đất rồi gọi tên từng bộ phận. Trong phép xem đất cổ truyền, voi là biểu tượng của sự vững nặng và của uy thế, và một thế đất mang tên voi ở ngay nơi thờ người lên ngôi thì cái tên ấy tự nó đã là một cách đọc.
Sau cùng là trật tự trên mặt bằng. Năm ngôi đền không xếp thành một hàng dọc dẫn vào trong, mà xếp theo quan hệ họ hàng và quan hệ vua tôi, người trên ở trong, hàng tướng ở ngoài, hai bên nội ngoại đối ứng nhau. Đọc theo lối cũ, một trục dọc biến thứ tự trước sau thành thứ tự trên dưới, còn cách bày đối ứng như ở đây thì giữ cho hai bên nhà không ai đứng sau lưng ai. Mặt bằng của đền Hạ Lôi vì thế là một sơ đồ vai vế dựng bằng nhà cửa, và đó là điều hợp với nội dung thờ tự ở một nơi thờ vua chứ không chỉ thờ thần.
VHội Mùng Sáu Tháng Giêng Và Lệ Giao Kiệu
Hội đền mở từ mùng bốn tới mùng mười tháng Giêng âm lịch, chính hội vào mùng sáu. Phần đáng xem nhất không phải phần tế trong đền mà là đám rước kiệu đi lại giữa đền và đình làng Hạ Lôi, vì trong đám rước ấy có một nghi thức mà cả nước gần như không nơi nào có: lệ giao kiệu.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước ngày mở hội | Sửa soạn và cáo yết | Các giáp trong làng chuẩn bị kiệu, cờ và đồ rước, làm lễ trình báo trước khi vào hội. |
| Mùng 4 tháng Giêng | Rước kiệu từ đền ra đình Hạ Lôi | Đám rước gồm năm cỗ kiệu, ba cỗ xuất phát từ đền là kiệu văn, kiệu bà Trưng Trắc và kiệu bà Trưng Nhị, hai cỗ xuất phát từ đình làng. |
| Trên đường rước | Lệ giao kiệu | Kiệu bà Trưng Trắc dừng lại nhường kiệu bà Trưng Nhị tiến lên đi trước, rồi đổi lại. Lệ này lặp hai lần trên mỗi chặng. |
| Mùng 6 tháng Giêng | Chính hội và rước kiệu về đền | Ngày trọng nhất của kỳ hội, đám rước quay về đền theo trình tự ngược lại, vẫn giữ đủ các lần giao kiệu. |
| Trong đám rước | Đội hình hộ giá | Gồm cờ lệnh, đội cờ ngũ hành, đội cờ tứ linh, đội nữ binh hộ giá, voi trắng, ngựa hồng và ngựa bạch, kèm múa lân và dàn nhạc bát âm. |
| Trong ngày chính hội | Đại tế tại đền | Phần tế chính trong đền, dâng hương và tuyên đọc văn tế. |
| Suốt kỳ hội | Trò dân gian | Các trò quen của vùng như đánh đu, đấu vật và các trò chơi làng. |
Lệ giao kiệu đáng được giải thích cho kỹ, vì nó là chỗ nói rõ nhất cái vai mà đền này giữ. Câu mà người làng dùng để giải thích nghi thức ấy là nội gia tỷ muội, ngoại quốc quân thần, nghĩa là trong nhà thì là chị em, ngoài việc nước thì là vua tôi.
Theo lệ, bà Trưng Trắc là chị và là người lên ngôi. Xét việc nước thì kiệu của bà phải đi trước. Xét tình chị em trong một nhà thì người chị lại nhường em. Hai lẽ ấy không thể cùng thắng, nên người xưa không chọn một bên mà dựng hẳn một nghi thức để diễn cả hai: kiệu dừng, nhường, rồi lại đổi lại. Một mâu thuẫn về lễ nghi được giải quyết bằng chuyển động chứ không bằng lời, và giải quyết theo cách để cả hai lẽ đều được nhìn thấy.
Nói cách khác, lệ giao kiệu chính là nơi cái vai vua của Hai Bà hiện ra rõ nhất trên thực địa. Ở Hát Môn không có nghi thức này, vì nơi ấy thờ hai bà trong một vai khác hẳn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh cũ, huyện Mê Linh, nay là xã Mê Linh, Hà Nội
- Đường tới
- Đền nằm ở thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi lăm cây số về phía tây bắc, gần bờ tả sông Hồng. Khuôn viên rộng và có nhiều ngôi đền trong khu nội vi nên cần đi bộ mới xem hết.
- Toạ độ
- 21.1561, 105.7333
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải khu trưng bày, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào bia đá trong nhà bia và các đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Khu nội vi có năm ngôi đền chứ không chỉ một, theo lệ thì lễ ở đền chính trước rồi mới sang các đền thờ thân quyến và thờ tướng lĩnh. Trong những ngày rước tháng Giêng, đường rước có phân luồng riêng, xin quý vị không đi cắt ngang đám rước, nhất là ở những chặng làm lệ giao kiệu.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Hai Bà Trưng (Mê Linh)
Contribute photos, information or video for Hai Ba Trung Temple in Me LinhThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh thờ ai
Thờ Trưng Trắc và Trưng Nhị trong vai vua, tức người lên ngôi trên đất Mê Linh. Khu nội vi còn có đền thờ thân phụ thân mẫu của hai bà, đền thờ thân phụ thân mẫu ông Thi Sách, đền thờ các nữ tướng và đền thờ các nam tướng, làm thành một sơ đồ triều đình dựng bằng nhà cửa.
Nghi thức giao kiệu ở đền Hai Bà Trưng là gì
Là lệ trong đám rước, khi kiệu bà Trưng Trắc dừng lại nhường kiệu bà Trưng Nhị tiến lên đi trước rồi lại đổi lại. Người làng giải thích bằng câu nội gia tỷ muội, ngoại quốc quân thần, nghĩa là trong nhà thì là chị em, ngoài việc nước thì là vua tôi. Đây là nghi thức riêng của đền này.
Lễ hội đền Hai Bà Trưng Mê Linh mở ngày nào
Từ mùng bốn tới mùng mười tháng Giêng âm lịch, chính hội vào mùng sáu. Mùng bốn rước kiệu từ đền ra đình làng Hạ Lôi, mùng sáu rước về đền, cả hai chặng đều có lệ giao kiệu. Đám rước gồm năm cỗ kiệu cùng đội cờ ngũ hành, cờ tứ linh và đội nữ binh hộ giá.
Đền Hai Bà Trưng Mê Linh có từ bao giờ
Nguồn ghi vênh nhau. Luồng thứ nhất gắn việc lập đền với đời Lý Anh Tông ở giữa thế kỷ 12, sau chuyện vua cầu đảo được mưa. Luồng thứ hai nói đền có từ rất sớm, ngay sau khi hai bà mất. Cả hai đều là truyền tụng, còn lớp di vật hiện còn phần lớn thuộc thời Nguyễn.
Vì sao đền từng bị đổi hướng rồi lại xoay trả
Một đợt sửa lớn dưới thời Hậu Lê ở thế kỷ 17 làm thay đổi hướng đền so với hướng dựng ban đầu. Tới năm Tân Tỵ 1881, đền được xoay trả về hướng cũ, và cuối năm ấy tam quan được xây lại sau một trận bão. Đây là một trong rất ít di tích Việt Nam mà chuyện hướng được ghi lại thành mốc niên đại.