Từ sân đình nhìn vào, tòa tiền tế hai tầng tám mái đứng trên nền cao che gần hết phần phía sau, và quý vị phải đi vòng qua nó mới thấy được tòa nhà thật sự đáng xem: đại đình, một nếp nhà ba gian thấp, sáu hàng cột lim, dựng từ những năm ba mươi của thế kỷ 17. Đó là lớp đình sớm, sớm hơn phần lớn những ngôi đình lớn mà xứ Đoài còn giữ được.
Cái đáng xem ở đây không nằm ở quy mô. Đình Hạ Hiệp không đồ sộ, khuôn viên chừng ba nghìn mét vuông, mặt bằng gọn. Nó đáng xem vì hai thứ khác: bộ vì làm theo kiểu ván mê, một lối kết cấu đặc trưng của đình sớm mà về sau người ta bỏ dần, và hơn hai mươi bức chạm ghi lại những cảnh mà nghệ thuật chính thống thời ấy không bao giờ ghi.
IVị Thành Hoàng Của Ba Thôn
Đình thờ tướng quân Hoàng Đạo, danh hiệu đầy đủ chép trong tư liệu của đình là Hoàng Đạo Thường Sĩ đại vương. Đây là một nhân thần, tức người thật được thờ như thần, thuộc lớp thần có công được làng tôn làm thành hoàng.
Theo thần tích lưu tại đình, ngài là người gốc chính làng Hạ Hiệp. Việc mà làng nhớ về ngài là việc ngài đứng ra tập hợp người của ba thôn trong vùng, gồm Hiệp Lộc, Yên Dục và Hạ Hiệp, rồi dựng cờ theo cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng hồi đầu Công nguyên. Thần tích chép ngài mất ở vùng bãi ven sông Đáy. Xin nói rõ: phần thân thế này thuộc lớp thần tích chứ không phải sử biên niên, và thư viện giữ nguyên ranh giới ấy.
Xét theo lối thờ cổ truyền của làng Việt, chữ thành hoàng chỉ vị thần coi giữ một cộng đồng cư trú, và mỗi làng chỉ có một hoặc vài vị. Điều đáng chú ý ở Hạ Hiệp là phạm vi thờ vượt quá một làng: thần tích gắn ngài với ba thôn cùng lúc, và trên thực tế địa danh Liên Hiệp về sau chính là tên chung của mấy thôn ấy. Một vị thành hoàng được ba thôn cùng nhận thường kéo theo một lệ tế chung, và đó là lý do ngôi đình này mang tầm vóc hơn một đình thôn thường.
Cách thờ ở đây không có hàng Mẫu, không có hàng Quan, không phải chốn hầu đồng. Người coi việc thờ là ban khánh tiết của làng, nghi thức là tế lễ theo lối thờ người có công, với chúc văn đọc trước hương án.
Trên phương diện khảo được, cái đỡ cho lệ thờ ở đây không phải sử sách mà là sắc phong. Đình còn giữ 27 đạo sắc trải từ thời Lê Trung Hưng tới thời Nguyễn, tức là qua nhiều đời, triều đình đều nhìn nhận và gia phong cho vị thần này. Với một ngôi đình làng, số sắc ấy thuộc hàng nhiều.
Đình còn hai nguồn tư liệu khắc trên vật liệu cứng, đáng tin hơn giấy vì không chép lại được. Thứ nhất là tấm bia mang tên Tại đình bi, niên đại 1771. Thứ hai là hai chiếc cối đá kích thước chừng 95 nhân 45 nhân 30 phân, chạm rồng và sen, mang niên đại Gia Long thứ 15, tức năm 1816. Hai hiện vật này là mốc chắc để đối chiếu các lần sửa chữa của đình.
Một chỗ hay hiểu lầm về tên gọi. Trong nhiều công trình nghiên cứu mỹ thuật, ngôi đình này được gọi là đình Liên Hiệp, còn hồ sơ di tích và dân trong vùng gọi là đình Hạ Hiệp. Người đọc hay tưởng đó là hai ngôi đình khác nhau, hoặc tưởng có một đình Liên Hiệp riêng đã mất. Thực ra là một. Tên Liên Hiệp là tên xã cũ ghép từ mấy thôn trong vùng, còn Hạ Hiệp là tên thôn có đình. Khi quý vị đọc một bài nghiên cứu nói về bức chạm ở đình Liên Hiệp, bức chạm ấy chính là bức chạm trong ngôi đình này.
IIBốn Thế Kỷ Dựng Và Sửa
Đình Hạ Hiệp không dựng một lần rồi đứng yên. Nó lớn dần qua bốn thế kỷ, mỗi thế kỷ thêm một hạng mục, và điều may là các hạng mục ấy đều còn, nên đứng trong khuôn viên hôm nay quý vị đọc được cả một chuỗi thời gian chứ không chỉ một lát cắt.
- Những năm 30 thế kỷ 17Dựng tòa đại đìnhHồ sơ di sản ghi tòa đại đình được dựng vào những năm ba mươi của thế kỷ 17, thuộc lớp đình sớm còn lại ở xứ Đoài. Đây là phần cổ nhất và cũng là phần giữ bộ vì ván mê cùng toàn bộ mảng chạm quý.
- Nửa cuối thế kỷ 17Dựng hậu cungHậu cung hai gian được dựng thêm phía sau, có tường bao kín, đặt bài vị thần. Ba bộ vì nóc của hậu cung làm theo kiểu biến thể giá chiêng chồng rường con nhị.
- 1771Dựng bia Tại đình biTấm bia mang tên Tại đình bi được dựng, ghi lại việc của đình. Đây là một trong hai mốc niên đại khắc trên vật liệu cứng còn giữ được.
- 1816Tạo hai cối đáHai chiếc cối đá chạm rồng và sen được tạo tác, mang niên đại Gia Long thứ 15. Kích thước mỗi chiếc khoảng 95 nhân 45 nhân 30 phân.
- 1856Dựng tòa tiền tếTòa tiền tế ba gian, hai tầng tám mái, đặt trên nền cao được dựng, đưa mặt bằng đình về bố cục nhiều lớp như hiện thấy.
- Đầu thế kỷ 20Hoàn thành hai nghi mônHai nghi môn được dựng, trang trí rồng, lân, phượng, voi, ngựa cùng hoa văn chữ triện. Đây là lớp kiến trúc muộn nhất của khuôn viên.
- 1991Di tích quốc giaĐình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 1996 tới 2005Các đợt tu bổĐình được tu bổ trong các năm 1996, 2004 và 2005. Các đợt này tập trung vào phần mái và nền, phần cấu kiện mang chạm khắc được giữ.
- 2020Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2280 ngày 31 tháng 12 năm 2020, xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Hiệp là di tích quốc gia đặc biệt, thuộc đợt 11.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về niên đại tòa đại đình, hồ sơ di sản của Cục Di sản văn hóa ghi đình dựng vào những năm ba mươi của thế kỷ 17, còn một bài khảo tả của ngành văn hóa Hà Nội nêu con số cụ thể hơn là khoảng năm 1663. Khoảng chênh giữa hai mốc là chừng ba chục năm. Vì đại đình không để lại một lạc khoản niên hiệu nào trên cấu kiện, cả hai con số đều là kết quả đoán định dựa vào phong cách kiến trúc và vào các sắc phong, chứ không phải chép từ văn bia. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa một con số.
IIIVán Mê, Con Nhị Và Hơn Hai Mươi Bức Chạm
Khuôn viên rộng chừng ba nghìn mét vuông, quay về hướng tây nam, gồm nghi môn, tiền tế, đại đình, hậu cung cùng tả hữu mạc và các nếp nhà phụ. Ba tòa chính mỗi tòa một lớp niên đại, và đó là điều đáng đọc nhất về mặt kiến trúc.
Hai nghi môn dựng đầu thế kỷ 20, trang trí rồng, lân, phượng, voi, ngựa cùng hoa văn chữ triện. Trang trí ở đây dồn ra phần đắp vữa chứ không phải phần gỗ, đúng lối của lớp kiến trúc muộn.
Ba gian, hai tầng tám mái, đặt trên nền cao, dựng năm 1856. Chức năng là nơi sắp lễ và hành lễ trước khi vào đại đình. Nền cao khiến tòa này che phần lớn tầm nhìn từ sân vào.
Ba gian, sáu hàng cột lim, dựng những năm ba mươi của thế kỷ 17. Đây là phần cổ nhất và là nơi tập trung toàn bộ mảng chạm quý của đình.
Hai gian, tường bao kín, đặt bài vị thần. Ba bộ vì nóc làm theo kiểu biến thể giá chiêng chồng rường con nhị, một lối kết cấu ít gặp.
Ván mê và con nhị, hai chữ cần hiểu
Hai thuật ngữ này quyết định giá trị của ngôi đình, nên xin giải nghĩa trước. Ván mê là lối làm bộ vì trong đó khoảng tam giác giữa hai cột không để trống cho các con rường chồng lên nhau, mà bịt bằng một tấm ván liền rồi chạm trên chính tấm ván ấy. Lối này cho thợ một mặt phẳng rộng để kể một cảnh có nhiều nhân vật, thứ mà kết cấu chồng rường thưa không cho phép. Ván mê là dấu của đình sớm, và về sau người ta dùng ít dần vì tấm ván liền nặng và dễ nứt.
Giá chiêng chồng rường con nhị là lối vì thứ hai có mặt ở đây, dùng cho ba bộ vì nóc của hậu cung. Giá chiêng là phần khung ở đỉnh vì, trông như cái giá treo chiêng. Chồng rường là các thanh rường xếp chồng lên nhau đỡ hoành. Con nhị chỉ cách xếp thành cặp đôi. Cái đáng nói là chữ biến thể: thợ ở đây không làm đúng khuôn mẫu sách vở mà chỉnh lại theo cách riêng, và chính những chỗ chỉnh ấy là thứ giới nghiên cứu tìm để nhận ra tay thợ của từng vùng.
Việc một ngôi đình giữ được cả hai lối trong hai tòa dựng cách nhau vài chục năm là điều hiếm. Nó cho phép đặt hai kiểu vì cạnh nhau mà so, ngay trong cùng một khuôn viên, không phải đi hai nơi.
Mảng chạm và bức người phương Tây bắn hổ
Đại đình giữ hơn hai mươi bức chạm, chia làm ba lớp đề tài. Lớp thứ nhất là trời và thần: tiên giáng trần, thần cưỡi rồng. Lớp thứ hai là linh vật và điềm lành: rồng, các linh thú, cá hóa rồng, và điều ít gặp là cả trăn và kỳ đà, hai con vật không nằm trong bảng linh vật quen thuộc. Lớp thứ ba, lớp làm nên danh tiếng của đình, là cảnh đời thường: đánh cờ, uống rượu, đấu vật, tấu nhạc, chọi trâu, đi săn.
Trong lớp thứ ba có một bức được nhắc tới nhiều nhất trong nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, bức chạm trên một thanh kẻ ghi cảnh một người phương Tây cầm súng ngắm bắn hổ. Nhân vật được tả rõ tới từng đặc điểm: mũi cao, mặt dài, râu đậm, đầu đội mũ phớt, mặc áo dài, thắt lưng, chân đi ủng. Khẩu súng được khắc chi tiết tới từng bộ phận khai hỏa, đủ để người nghiên cứu nhận ra đó là loại súng kíp đá lửa của phương Tây.
Bức chạm ấy quan trọng vì hai lẽ. Thứ nhất, nó là tư liệu hình ảnh về sự có mặt của người phương Tây ở đồng bằng Bắc Bộ hồi thế kỷ 17, do chính bàn tay một người thợ làng ghi lại. Thứ hai, nó cho thấy đình làng thời ấy mở tới đâu: một người ngoại quốc mang súng được chạm lên bộ khung của nơi thờ thần, đặt cạnh cảnh đánh cờ và đấu vật, không bị coi là chuyện phải kiêng.
Một chỗ hay hiểu lầm về chính bức chạm ấy. Trong một số ghi chép trước đây, bức này được đặt tên là cảnh quan quân cướp bóc, và cách gọi đó còn được nhắc lại trong nhiều bài viết phổ thông. Khảo cứu đăng trên tạp chí của ngành di sản đã xem lại từng chi tiết trên bức chạm và cho rằng cách gọi ấy không đúng: đây là cảnh săn hổ, một đề tài săn bắn bình thường trong mạch chạm sinh hoạt của đình làng. Xin ghi thêm một điều cần biết trước khi tới: theo tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, bức chạm này đã bị lấy mất, nên quý vị có thể không còn tìm thấy nó tại chỗ. Chúng tôi nêu lại việc này ở góc tư liệu, không quy trách nhiệm cho ai.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Đình quay về hướng tây nam, và đó là chi tiết đầu tiên đáng dừng lại. Đình Bắc Bộ phần lớn chuộng hướng nam, vì hướng nam đón gió mát mùa hè và tránh gió bấc mùa đông. Chọn lệch sang tây nam là chọn một hướng vẫn giữ được phần lớn cái lợi của hướng nam, mà đồng thời quay mặt về phía dải Ba Vì nằm ở tây bắc tây nam của cả vùng này. Trong lối đọc cổ truyền, quay mặt về một khối núi lớn ở xa là để lấy núi ấy làm triều sơn, tức ngọn núi chầu về, thứ làm cho khoảng trống trước mặt không rỗng.
Thứ hai là mặt nước. Vùng này nằm trong dải đất giữa sông Hồng và sông Đáy, và thần tích của chính vị thành hoàng cũng nhắc tới bãi ven sông Đáy. Trong phép xem đất, một làng nằm giữa hai dòng thì được khí của nước nhưng phải tự tạo lấy chỗ nước đứng. Cách làm quen thuộc của làng Việt là ao đình, và mặt nước ấy đóng vai minh đường trước cửa đình. Điều cần nói ngay cho sòng phẳng: hồ sơ di tích không mô tả ao đình ở đây, nên chúng tôi nêu đây như lối chung của đình xứ Đoài chứ không khẳng định cho riêng Hạ Hiệp.
Thứ ba là chuyện cái nền, và đây mới là chỗ riêng của ngôi đình này. Tiền tế dựng năm 1856 được đặt trên nền cao, cao hơn hẳn đại đình phía sau. Bình thường, lối bày của đền miếu là càng vào trong càng lên cao, để bước chân người lễ đi lên dần. Ở đây ngược lại: lớp ngoài cao, lớp trong thấp. Đọc theo con mắt cổ truyền, cách bày ấy biến tòa ngoài thành một án, tức một vật chắn trước mặt, che cho tòa đại đình cổ phía sau khỏi lộ thẳng ra sân. Còn đọc theo con mắt thực dụng thì lý do đơn giản hơn nhiều: đây là đất bãi thấp, hay ngập, và nâng nền tòa mới lên là cách giữ cho nó khỏi chân ngập. Hai cách đọc ấy không loại nhau, và thường thì người xưa làm một việc mà được cả hai.
Sau cùng là vị trí của đình trong làng. Đình Hạ Hiệp không đứng ngoài rìa mà nằm trong lòng khu cư trú, lối vào là đường làng. Với một vị thành hoàng được ba thôn cùng nhận, chỗ đứng ấy có nghĩa riêng: đình không phải cột mốc ở cửa ngõ để đánh dấu ranh giới, mà là điểm tụ ở giữa để ba thôn cùng quy về. Trong phép đọc cổ truyền, một nơi thờ đặt ở tâm chứ không đặt ở biên là nơi được chọn để hội khí chứ không phải để trấn.
VHội Làng Tháng Ba
Hội chính của đình mở vào tháng Ba âm lịch, theo thần tích là kỳ tưởng niệm ngày hóa của vị thành hoàng. Về ngày cụ thể thì nguồn vênh nhau: một bài khảo tả về lễ hội ghi ngày 12 tháng Ba, một tài liệu khác của ngành văn hóa Hà Nội ghi ngày 13. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa một con số.
| Phần | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Phần lễ | Rước bài vị Thành hoàng | Bài vị được rước bằng kiệu sơn son, che lọng ngũ sắc, có phường bát âm đi theo. Đây là nghi thức mở đầu của chính hội. |
| Phần lễ | Tế chính tại sân đình | Đội tế của làng hành lễ trước hương án, đọc chúc văn kể công đức của vị thành hoàng theo thần tích. |
| Phần lễ | Dâng hương của các thôn | Các thôn cùng thờ vị thành hoàng lần lượt vào dâng hương, giữ đúng thứ tự theo lệ làng. |
| Phần hội | Trò chơi cổ truyền | Kéo co, đánh đu, bắt vịt, những trò mà sân đình và ao làng là chỗ diễn sẵn có, không cần dựng thêm. |
| Phần hội | Múa lân, múa rồng, múa hạc gỗ | Ba điệu múa của làng. Điệu múa hạc gỗ là nét riêng, ít gặp ở các hội làng lân cận. |
| Phần hội | Ả đào và chèo sân đình | Hát ả đào và chèo cổ diễn ngay trên sân trước đại đình, nối phần lễ với phần vui của làng. |
Một điều đáng để ý trong phần hội là điệu múa hạc gỗ. Con hạc trong đồ thờ đình miếu vốn là vật đứng yên, đặt trên lưng rùa hai bên hương án. Đưa con hạc ấy ra sân và cho nó chuyển động trong một điệu múa là cách làng này nối đồ thờ với trò diễn, thứ chỉ thấy ở một số ít hội làng. Chúng tôi nêu lại theo tư liệu về lễ hội, và nếu quý vị tới đúng kỳ thì đây là phần nên xem.
Ngoài chính hội, đình giữ lệ thắp hương ngày rằm và mùng một theo tháng, do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm, không có nghi thức tế lớn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Hạ Hiệp, xã Liên Hiệp cũ, huyện Phúc Thọ, nay là xã Hát Môn, Hà Nội
- Đường tới
- Đình nằm ở thôn Hạ Hiệp, xã Liên Hiệp cũ, huyện Phúc Thọ, nay là xã Hát Môn, Hà Nội, cách trung tâm thành phố chừng ba mươi cây số về phía tây. Đình ở trong làng nên lối vào là đường thôn, không phải đường lớn.
- Toạ độ
- 21.0616, 105.643
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải nhà trưng bày, nên lệ của làng cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, lễ vật đặt đúng ban và tiền bỏ hòm công đức. Các mảng chạm ở đại đình đều nằm trên cao, xin quý vị xem bằng mắt, không trèo lên bệ và không tựa vào cột. Hai chiếc cối đá và tấm bia trong khuôn viên là hiện vật có niên đại, xin đừng kê đồ lên hay ngồi lên đó.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Hạ Hiệp
Contribute photos, information or video for Ha Hiep Communal HouseThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Hạ Hiệp thờ ai
Đình thờ tướng quân Hoàng Đạo, danh hiệu chép trong tư liệu của đình là Hoàng Đạo Thường Sĩ đại vương. Theo thần tích, ngài là người gốc làng Hạ Hiệp, tập hợp người của ba thôn Hiệp Lộc, Yên Dục và Hạ Hiệp rồi dựng cờ theo cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đây là lối thờ nhân thần.
Đình Hạ Hiệp và đình Liên Hiệp có phải một không
Là một. Nhiều công trình nghiên cứu mỹ thuật gọi nơi này là đình Liên Hiệp theo tên xã cũ, còn hồ sơ di tích và dân trong vùng gọi là đình Hạ Hiệp theo tên thôn có đình. Khi đọc một bài nghiên cứu nhắc tới bức chạm ở đình Liên Hiệp, đó chính là bức chạm trong ngôi đình này.
Ván mê trong kiến trúc đình là gì
Là lối làm bộ vì trong đó khoảng giữa hai cột được bịt bằng một tấm ván liền rồi chạm trên chính tấm ván ấy, thay vì để các con rường chồng lên nhau. Ván mê cho thợ một mặt phẳng rộng để kể một cảnh nhiều nhân vật, và là dấu nhận biết của lớp đình sớm thế kỷ 17.
Bức chạm người phương Tây bắn hổ ở đình Hạ Hiệp có gì đáng chú ý
Bức chạm trên một thanh kẻ, tả người phương Tây đội mũ phớt, mặc áo dài, đi ủng, cầm súng kíp đá lửa ngắm hổ. Đây là tư liệu hình ảnh hiếm về người phương Tây ở Bắc Bộ thế kỷ 17. Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, bức chạm này đã bị lấy mất.
Đình Hạ Hiệp được xếp hạng năm nào
Đình được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991, rồi được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt về loại hình kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 2280 ngày 31 tháng 12 năm 2020, thuộc đợt 11.