Từ mặt đê sông Đáy nhìn xuống, quý vị thấy trước hết một mặt hồ hình nửa vành trăng, rồi sau hồ là một nếp nghi môn ba cửa xây cao trên bậc gạch. Qua nghi môn còn phải lên thêm mấy bậc nữa mới tới sân đình, vì đình không đặt ngang mặt ruộng mà đặt trên một gò đất nổi. Cả khu đình vì thế cao dần từng bậc, và người đi lễ phải bước lên chứ không bước ngang.
Trước cửa tòa đại bái có đôi rồng đá nằm hai bên tam cấp, thân ngắn và mập, trán thấp, đuôi xoắn về phía sau. Sau lưng đôi rồng ấy là một tòa nhà gỗ quây kín bốn bề bằng cửa bức bàn, khác hẳn lối đình để trống mà quý vị quen gặp ở Bắc Bộ. Xứ Đoài có câu đẹp đình So, to đình Cấn, và chữ đẹp ấy nói về chính những thứ đang bày ra trước mắt.

ITam Vị Nguyên Soái Đại Vương
Đình thờ ba anh em họ Cao có tên hiệu là Hiện Hồ, Thiên Gia và Mệnh Gia, được tôn phong làm tam vị Nguyên soái Đại vương. Theo thần tích của làng, cha các ngài là Cao Hiển, mẹ là bà Lã Thị Ả, hai vợ chồng làm nghề chài lưới, hiếm muộn, cầu tự tại một ngôi quán trong làng rồi sinh một bọc ba con trai.
Ba vị lớn lên theo giúp Đinh Bộ Lĩnh trong việc dẹp loạn mười hai sứ quân, tới năm 968 thì việc thống nhất hoàn tất. Sau khi các ngài hóa ngày mùng 10 tháng Chạp, vua Đinh Tiên Hoàng ban sắc phong bốn mỹ tự Cao thông, bác đạt, tĩnh chính, tối linh cùng tước hiệu Nguyên soái Đại vương, dân làng lập miếu thờ rồi về sau dựng thành ngôi đình.
Đây là kiểu thành hoàng nhân thần có công với nước, khác hẳn kiểu nhiên thần. Trong lối thờ thành hoàng của người Việt, một làng có thể thờ thần của đất và của nước, cũng có thể thờ một người thật đã được triều đình phong thần. Làng So thuộc lối thứ hai, và điều đó quy định cả nếp lễ: phần lớn nghi thức trong năm đều xoay quanh ngày sinh, ngày khao quân và ngày hóa của ba vị, chứ không xoay quanh mùa vụ.
Một nét riêng của làng là hai ngôi miếu Ông và miếu Bà thờ song thân của tam vị, đặt tách khỏi đình. Trong kỳ lễ, bài vị được rước từ hai ngôi miếu ấy về đình. Cách bày ba nơi thờ như vậy giữ nguyên quan hệ cha mẹ và con cái trong không gian thờ tự, một điều không phải làng nào cũng làm.
Cần nói rõ đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Việc thờ do ban khánh tiết và các giáp trong làng đảm nhiệm.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Ở xứ Đoài có nhiều ngôi đình thờ tam vị đại vương, và người đọc lướt qua tên gọi dễ cho rằng các nơi ấy cùng thờ một bộ ba.
Không phải vậy. Nhiều đình quanh vùng núi Ba Vì thờ tam vị Đức Thánh Tản, tức Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh, là nhiên thần gắn với ngọn núi. Tam vị ở đình So là nhân thần, ba anh em họ Cao, người của thế kỷ 10, được phong tước sau khi hóa. Hai bộ ba khác nhau về gốc gác, về niên đại và về nội dung thần tích, chỉ trùng nhau ở con số ba và ở chữ đại vương trong danh hiệu.
IITừ Miếu Làng Đến Ngôi Đình Năm 1782
Ngôi đình hiện nay là kết quả của hai việc cách nhau hơn một trăm năm: một lần dựng vào nửa cuối thế kỷ 17, rồi một lần dời chỗ và dựng lại từ năm 1781 đến năm 1782. Tấm bia dựng năm 1782 còn chép rõ từng mốc phạt mộc, khởi công, dựng cột và hoàn thành, nên đợt tạo dựng này có mốc biên niên rất chắc.
- 933Tam vị chào đờiTheo thần tích của làng, ba anh em họ Cao sinh ngày mùng 8 tháng Hai năm Quý Tỵ (933), con ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả. Đây là mốc thần tích, không phải mốc biên niên.
- 968Việc thống nhất hoàn tấtBa vị theo giúp Đinh Bộ Lĩnh trong việc dẹp loạn mười hai sứ quân. Sau khi các ngài hóa, dân làng lập nơi thờ.
- Nửa cuối thế kỷ 17Dựng đìnhĐình được dựng lần đầu ở một vị trí khác trong làng. Bia Tu sáng hoa đình bi khắc năm Dương Đức thứ 3 (1674) ghi việc khởi dựng từ năm 1673, trong khi một số tài liệu khác ghi năm 1663 hoặc 1667.
- 1781 tới 1782Dời chỗ và dựng lạiTheo bia Đại đình bi ký dựng năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782), dân làng làm lễ phạt mộc tháng Giáp Thân năm Tân Sửu (1781), khởi công ngày 20 tháng Tám năm ấy, đặt cột ngày mùng 7 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782) và hoàn thành ngôi đình tại vị trí hiện nay vào tháng Năm năm 1782.
- 1601 tới 1924Lớp tư liệu thành vănĐình giữ được một khối tư liệu chữ viết trải dài hơn ba thế kỷ, gồm sắc phong, bia đá và hương ước của làng. Đạo sắc sớm nhất mang niên hiệu Hoằng Định thứ 2 (1601) và muộn nhất mang niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).
- 1980Xếp hạng di tích quốc giaĐình được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia theo quyết định số 92-VHTT/QĐ ngày 10 tháng 7 năm 1980, và được bổ sung quyết định xếp hạng năm 1995.
- 2018Di tích quốc gia đặc biệtĐình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt theo quyết định số 1820/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2018.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm dựng đình lần đầu, tại đình còn giữ tấm bia Tu sáng hoa đình bi khắc năm Dương Đức thứ 3 đời vua Lê Gia Tông (tức năm 1674), ghi việc khởi dựng đình từ tháng Chạp năm Quý Sửu (1673) và hoàn thành năm Giáp Dần (1674). Sách Sơn Tây tỉnh địa chí của Phạm Xuân Độ trước đây quy đổi niên hiệu Dương Đức thứ 3 ra năm 1667 nên một số hồ sơ ghi theo mốc này, lại có bài báo ghi ngày 27 tháng 7 năm Quý Mão (1663) đời vua Lê Huyền Tông. Thư viện ghi rõ nguồn gốc của từng con số để quý vị tiện đối chiếu.
Về số đạo sắc phong, các nguồn ghi lần lượt là 40 đạo, 42 đạo hoặc 45 đạo qua các triều đại. Chỗ các nguồn thống nhất là đạo sắc sớm nhất mang niên hiệu Hoằng Định thứ 2 (1601) và đạo muộn nhất mang niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).
Về cách đếm gian của tòa đại bái, tài liệu của ngành văn hóa ghi bảy gian hai chái, hồ sơ di tích lại ghi bốn gian hai chái kèm hai dãy bên, và có bài ghi tổng số khoang trong cả khu đình là năm mươi lăm. Đây nhiều khả năng là chỗ khác nhau trong cách đếm chứ không phải chỗ khác nhau về công trình, nhưng thư viện ghi cả hai cách.
IIINghi Môn, Rồng Đá Và Tòa Đại Bái Quây Kín
Khu đình trải trên khoảng một nghìn một trăm mét vuông, quay mặt hướng đông - đông bắc nhìn ra đê sông Đáy, dàn theo lối nội công ngoại quốc và đi vào theo bậc cao dần. Đề tài rồng chạy suốt từ nghi môn ngoài cùng vào tới gian thờ trong cùng, làm thành một mạch trang trí thống nhất chứ không rời rạc từng hạng mục.
Nếp cổng ba gian xây cao, chạm trổ dày đặc với hai bộ đề tài tứ linh và tứ quý. Đây là hạng mục làm nên chữ đẹp trong câu đẹp đình So, và cũng là chỗ đặt nhịp mở đầu cho mạch rồng chạy vào bên trong.
Hai con rồng đá đặt hai bên tam cấp trước cửa đại bái, mỗi con dài 1,55 mét, rộng 0,7 mét, thân dày 0,32 mét, cao 0,92 mét. Dáng thân ngắn và mập, trán thấp, mũi và miệng to, đuôi xoắn về phía sau.
Tòa nhà chính dài 32,9 mét, rộng 13,1 mét, diện tích chừng ba trăm mét vuông, dựng trên hơn sáu mươi cột gỗ lim xếp thành sáu hàng ngang và mười hàng dọc. Đây là nơi đặt hương án và diễn ra phần lễ trọng.
Điều khác thường của ngôi đình này: tòa đại bái được quây kín bốn bề bằng cửa bức bàn thay vì để trống như phần lớn đình Bắc Bộ. Nhờ vậy lòng nhà thành một không gian khép, tối hơn và tĩnh hơn, gần với lối đền hơn lối đình.
Nếp nhà mặt bằng vuông nối đại bái với hậu cung, nền nâng cao hơn đại bái khoảng bốn tấc. Mỗi lần nâng nền là một lần nâng bậc trong thứ tự thờ tự.
Lớp trong cùng, mở ba cửa gồm một cửa lớn giữa và hai cửa nhỏ hai bên, bên trong đặt nhang án và ba bộ long ngai sơn son thiếp vàng của tam vị. Hậu cung chỉ mở trong kỳ lễ.
Điểm đáng bàn nhất về kiến trúc ở đây là hệ cửa bức bàn. Đình làng Bắc Bộ vốn để trống bốn bề, vì đình là nhà chung của làng, là chỗ họp việc, xử kiện, chia phần, chứ không chỉ là nơi thờ. Đóng kín tòa đại bái lại là đi ngược thói quen ấy. Việc này thường được giải thích bằng nhu cầu giữ gìn phần chạm khắc và đồ thờ bên trong, nhưng nó cũng cho thấy trọng tâm của ngôi đình đã nghiêng về phía thờ tự nhiều hơn phía việc làng.
Về tên chữ Hán, thư viện ghi ba chữ đọc theo tên chữ của xã (Sơn Lộ), trong khi tên gọi quen dùng là tên nôm (làng So). Đây là chữ do thư viện suy ra chứ không phải chép từ hoành phi hay bảng cổng. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trong các ngôi đình cổ của xứ Đoài, đây là nơi thế đất hiện ra rõ ràng bậc nhất, gần như một bài mẫu. Đình đặt trên gò đất cao, quay mặt hướng đông - đông bắc, sau lưng phía tây là núi Quy (đồi Vĩ Quy), hai bên có hai gò nhỏ mà người trong vùng gọi là núi Long ở phía bắc (bên tả) và núi Phượng ở phía nam (bên hữu). Phía trước, đất mở ra một khoảng rộng rồi bị giới hạn bởi đê sông Đáy, và ngay dưới chân đê là một hồ bán nguyệt lớn.
Đọc theo phép cũ thì bốn thứ ấy khớp đúng vào bốn vai của một huyệt đất: núi Quy sau lưng là hậu chẩm, tức chỗ tựa, hai gò hai bên là thanh long và bạch hổ giữ cho khí không tản ngang, hồ nước trước mặt là minh đường tụ thủy, còn thân đê là án sơn chắn ngang không cho khí chảy tuột ra sông. Một thế đất ở đồng bằng mà hội đủ cả bốn vai như vậy là của hiếm. Phần lớn làng châu thổ phải đào hồ, đắp gò để bù cho thứ mình thiếu, còn ở đây địa hình cho sẵn ba phần và làng chỉ phải làm một phần.
Tên gọi của hai gò bên cũng đáng để ý. Rùa sau lưng, rồng bên tả, phượng bên hữu: người đặt tên đã đọc thế đất bằng đúng bộ linh vật mà họ sẽ chạm lên nghi môn và long ngai. Chúng tôi không dám nói gò có hình rùa hay hình phượng thật, nhưng việc làng gọi các gò bằng tên linh vật cho thấy họ nhìn mảnh đất của mình như một bố cục có nghĩa chứ không như một chỗ ở tình cờ.
Dân gian trong vùng còn một cách đọc riêng, gọi thế đất này là mai cua, với mặt hồ trước cửa là cái yếm cua mở ra. Hình ảnh ấy khác với bộ tứ linh ở chỗ nó gần gũi và thực tế hơn: mai cua là một khối gồ lên, che chắn được, còn yếm thì mở ra phía trước. Người làm ruộng làm chài nhìn đất bằng con vật mà họ bắt được ngoài đồng, chứ không nhất thiết phải mượn linh vật của sách vở.
Sau cùng là cách lên đình theo bậc. Từ mặt hồ lên nghi môn, từ nghi môn lên sân, từ sân lên tam cấp vào đại bái, rồi từ đại bái bước lên nền ống muống cao hơn bốn tấc, cuối cùng mới tới hậu cung. Theo lối đọc cổ truyền, mỗi lần nâng nền là một lần nâng bậc thiêng, và một trục dọc có nhiều lần nâng như vậy là cách dẫn khí đi sâu dần vào trong. Cái thế đất gò cao ở đây không chỉ là một điều kiện tự nhiên, nó được người dựng đình dùng hẳn thành một nhịp đi.
VHội Làng So Tháng Hai Và Các Kỳ Lễ Trong Năm
Hội xuân của đình mở vào mùng 8 tới mùng 10 tháng Hai âm lịch, lấy mốc ngày sinh của tam vị. Đây là kỳ hội lớn nhất trong năm, kéo ba ngày, và điểm riêng của nó là đám rước không khởi hành từ đình mà khởi hành từ hai ngôi miếu thờ song thân. Ngoài hội xuân tháng Hai, trong năm làng còn giữ lễ khao quân ngày mùng 10 tháng Bảy và lễ Thánh hóa ngày mùng 10 tháng Chạp.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Hai | Rước bài vị từ miếu Ông và miếu Bà | Đoàn rước đưa bài vị song thân của tam vị từ hai ngôi miếu về đình, có đội múa lân và múa rồng khai lộ, đội cờ xí và người mặc trang phục tế lễ. |
| Mùng 8 tháng Hai | Lệ thi lợn thờ | Mỗi giáp trong làng mang một con lợn thờ tới đình dự cuộc thi, lợn dâng tế xong mới chia phần theo lệ cũ. |
| Mùng 9 tháng Hai | Tế và dâng hương | Đội tế của làng hành lễ tại tòa đại bái, hậu cung mở cửa trong những ngày này. |
| Mùng 10 tháng Hai | Đại tiệc và đọc hương ước | Ngày trọng nhất của hội xuân, có đại tiệc của làng và tục đọc hương ước trước dân, một nếp cũ còn giữ được tới nay. |
| Mùng 10 tháng Bảy, mùng 10 tháng Chạp và sóc vọng | Lễ khao quân, lễ Thánh hóa và sóc vọng | Ngày mùng 10 tháng Bảy làm lễ khao quân mừng thắng trận, ngày mùng 10 tháng Chạp làm lễ cúng chay tưởng niệm ngày ba vị hóa, cùng lệ dâng hương mùng một và ngày rằm hằng tháng. |
Hai tục đáng chú ý ở kỳ hội này. Thứ nhất là tục đọc hương ước trong ngày đại tiệc: bản quy ước của làng được đọc lên trước mặt dân, ngay tại đình, ngay trong kỳ lễ trọng. Đó là dấu còn lại của chức năng nhà chung mà ngôi đình từng gánh, bên cạnh chức năng thờ tự.
Thứ hai là lệ thi lợn thờ. Mỗi giáp nuôi riêng một con lợn dành cho ngày lễ, mang tới đình dự thi rồi mới dâng tế. Cách làm ấy buộc từng giáp phải chuẩn bị từ nhiều tháng trước, và biến việc dâng lễ thành việc chung của cả làng chứ không phải việc của riêng ban tế.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng So, xã Cộng Hòa cũ, huyện Quốc Oai, nay là xã Hưng Đạo, Hà Nội
- Đường tới
- Đình nằm ở làng So, xã Hưng Đạo, Hà Nội, thuộc địa bàn xã Cộng Hòa cũ của huyện Quốc Oai, cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi lăm cây số. Từ mặt đê sông Đáy nhìn xuống là thấy hồ bán nguyệt và nghi môn.
- Toạ độ
- 20.9751, 105.677
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào lòng đại bái, đi nhẹ nói khẽ, không tì tay lên đôi rồng đá và các cấu kiện chạm, không tự mở cửa bức bàn. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Hậu cung chỉ mở trong kỳ lễ, ngoài những ngày ấy xin dâng hương ở ban ngoài.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình So
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình So thờ ai
Thờ ba anh em họ Cao có tên hiệu là Hiện Hồ, Thiên Gia và Mệnh Gia, được tôn phong làm tam vị Nguyên soái Đại vương. Theo thần tích, các ngài là con ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả, theo giúp Đinh Bộ Lĩnh trong việc dẹp loạn mười hai sứ quân. Đây là kiểu thành hoàng nhân thần có công với nước.
Đẹp đình So to đình Cấn nghĩa là gì
Là câu của người xứ Đoài nói về hai ngôi đình trong vùng, lấy đình So làm chuẩn cho cái đẹp và đình Cấn làm chuẩn cho quy mô. Cái đẹp của đình So được kể là nghi môn ba cửa chạm tứ linh tứ quý, đôi rồng đá trước tam cấp và mạch chạm rồng chạy suốt từ cổng vào tới nội điện.
Đình So xây năm nào
Đình dựng lần đầu vào nửa cuối thế kỷ 17, bia Tu sáng hoa đình bi khắc năm Dương Đức thứ 3 (1674) ghi việc khởi dựng từ năm 1673, trong khi một số tài liệu khác ghi 1663 hoặc 1667. Từ năm 1781 đến tháng Năm năm 1782 (năm Cảnh Hưng thứ 43), đình được dời về vị trí hiện nay và dựng lại với quy mô lớn, việc này có bia Đại đình bi ký ghi rõ.
Vì sao đình So đóng kín bằng cửa bức bàn
Vì tòa đại bái ở đây được quây kín bốn bề thay vì để trống như phần lớn đình Bắc Bộ. Cách làm ấy giữ được phần chạm khắc và đồ thờ bên trong, đồng thời khiến lòng nhà thành một không gian khép, gần với lối đền hơn lối đình.
Hội làng So tổ chức ngày nào
Hội xuân lớn nhất mở từ mùng 8 tới mùng 10 tháng Hai âm lịch, lấy mốc ngày sinh của tam vị, với đám rước bài vị từ miếu Ông và miếu Bà về đình, lệ thi lợn thờ và tục đọc hương ước. Ngoài ra làng còn có lễ khao quân ngày mùng 10 tháng Bảy và lễ Thánh hóa ngày mùng 10 tháng Chạp âm lịch.