VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Chèm

Đền Chèm, đình làng Chèm, đình Thụy Phương, đình làng Trèm

Ngôi đình cổ bên bờ sông Hồng từng được cả làng nâng bổng lên khỏi nền cũ cao 2,4 mét, nguyên vẹn, để tránh nước sông Hồng.

Kiệu đình
nâng 2,4 m
nâng nguyên ngôi đình lên ngang mặt đê, năm thực hiện các nguồn ghi khác nhau
Khung gỗ và máng đồng
Thế kỷ 17 tới 19
hậu cung năm 1631, đại trùng tu 1792, máng đồng đúc năm 1748, 1756 và 1824
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017

Đi hết con dốc lên đê rồi rẽ xuống, quý vị gặp một khoảng sân lát gạch và một nếp nghi môn nhìn thẳng ra mặt sông Hồng. Đình nằm trên một gò đất cao rộng chừng nửa héc ta, mặt quay về phía bắc, tức quay về phía dòng nước. Đình Việt gần như bao giờ cũng quay về nam, cho nên riêng cái hướng ấy đã đủ báo cho quý vị biết nơi này có lối riêng của nó.

Lối riêng ấy còn nằm ở một việc hiếm gặp trong lịch sử kiến trúc cổ Việt Nam. Khi mặt đê được đắp cao lên và nền đình thành ra thấp hơn mặt đê, dân làng không dỡ đình đi dựng lại, cũng không bỏ đình cho nước. Họ kiệu nguyên cả ngôi đình lên cao 2,4 mét, giữ nguyên bộ khung gỗ hàng trăm tấn, chỉ bằng đòn bẩy, dây chão và những dụng cụ nhà nông sẵn có.

Đình Chèm
Đình Chèm. Ảnh: NKSTTSSHNVN, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐức Thánh Chèm

Đình thờ Lý Ông Trọng, tên thật chép là Lý Thân, người làng Chèm, được thờ dưới danh hiệu Hy Khang Thiên Vương và được dân trong vùng gọi bằng ba tiếng Đức Thánh Chèm. Cùng thờ trong đình còn có phu nhân của ông là Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung (công chúa nhà Tần), cùng Ông Sứ (người có ơn chữa bệnh cho Đức Thánh) và Lục vị Thánh Vương tử (sáu người con của Đức Thánh gồm bốn hoàng tử và hai công chúa).

Đây là lối thờ nhân thần của tín ngưỡng dân gian người Việt, tức thờ một người được truyền thuyết kể là có thật rồi được phong làm thành hoàng. Nơi thờ không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào, việc thờ do làng đảm nhiệm. Người ta quen gọi nơi này bằng cả hai tên, đình Chèm và đền Chèm, vì công trình vừa là nhà chung của làng vừa là nơi thờ một vị thánh có tầm vượt khỏi phạm vi một làng.

Theo giáo nghĩa

Theo thần tích, Lý Ông Trọng là người có vóc dáng khác thường, đã sang phương Bắc giúp nhà Tần chống quân Hung Nô và kết duyên cùng công chúa Bạch Tĩnh Cung, ở đó một thời gian rồi trở về quê. Điều mà các bản kể nhấn mạnh ở quê nhà không chỉ là sức vóc ấy mà là công việc ông làm cho dân như trừ thủy quái ở khúc sông trước làng, khuyến nông và khuyến tang, tức dạy dân cấy cày và nuôi tằm dệt vải. Truyền thuyết cũng chép rằng sau khi ông mất, vua Thục Phán An Dương Vương cho dân xã Thụy Phương lập đền thờ.

Vì phần việc ở phương Bắc được kể theo lối bang giao chứ không theo lối chinh phạt, đời sau quen gọi ông là nhà ngoại giao đầu tiên trong sử Việt. Cách gọi ấy là cách của người đời sau đặt cho một nhân vật truyền thuyết, không phải một danh hiệu chép trong chính sử.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, niên đại đời sống của nhân vật này được các nguồn ghi không giống nhau. Hồ sơ di tích xếp ông vào thời An Dương Vương. Một số tài liệu khác chép ông sinh vào cuối thời Hùng Duệ Vương rồi mất dưới đời Thục An Dương Vương. Chênh lệch ấy nằm trong phạm vi một lớp truyền thuyết chứ không phải một mốc biên niên, nên thư viện ghi cả hai cách chép và không chọn bừa.

Điều khảo được chắc chắn hơn là lớp tư liệu vật chất còn trong đình gồm các sắc phong triều Nguyễn, hệ thống câu đối, chuông đồng, lư hương trầm có khắc bài văn của Tiến sĩ Lý Trần Quán niên hiệu Cảnh Hưng 53 (1774) và mười pho tượng thờ. Trong hậu cung có hai pho tượng gỗ sơn son thiếp vàng tạc năm 1888 đặt trên bệ đá hoa sen là tượng Đức Thánh Lý Ông Trọng cao hai trượng (khoảng từ ba tới bốn mét) và tượng Đức Thánh Bà Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung cao hơn một trượng tám.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Đình Chèm thường được giới thiệu là ngôi đình hơn hai nghìn năm tuổi, và nhiều người hiểu con số ấy là tuổi của ngôi nhà gỗ đang đứng trước mắt. Lại có nơi nhầm hai năm 1748 và 1756 là năm dựng bộ khung gỗ.

Không phải vậy. Con số hơn hai nghìn năm là tuổi của việc thờ tự, tính từ mốc truyền thuyết về việc lập đền thờ thời An Dương Vương. Còn kiến trúc hiện hữu mang dấu ấn nghệ thuật thế kỷ 17 tới thế kỷ 19 qua các đợt dựng hậu cung năm 1631, tu sửa nghi môn năm 1773, đại trùng tu hậu cung năm 1792 và các lần tu bổ năm 1797, 1885, 1902 tới 1903, 1913. Riêng hai niên đại 1748 và 1756 (đời vua Lê Hiển Tông) cùng năm 1824 (đời vua Minh Mạng) là các năm đúc hệ thống máng dẫn nước mưa bằng đồng đặt giữa các nếp mái.

IITừ nền cũ đến lần kiệu đình

Lịch sử của đình là lịch sử của một cuộc giằng co với nước. Làng nằm sát bờ hữu sông Hồng, mà con sông ấy mỗi đời lại đắp đê cao thêm một lần. Mỗi lần mặt đê dâng lên, nền đình lại thấp xuống một cách tương đối, và đến một lúc thì làng phải chọn giữa việc bỏ đất cũ hay nâng đình lên.

  • Thời An Dương VươngLập đền thờ
    Theo truyền thuyết, sau khi Lý Ông Trọng mất, vua cho dân xã Thụy Phương lập đền thờ ông tại làng. Đây là mốc truyền thuyết, không phải mốc biên niên.
  • 1631Dựng hậu cung thời Lê Trung Hưng
    Theo tư liệu lịch sử kiến trúc, hậu cung của đình được khởi dựng vào năm 1631.
  • 1748 và 1756Đúc hệ thống máng nước bằng đồng thời Lê Hiển Tông
    Dân làng đúc hệ thống máng dẫn nước mưa bằng đồng nguyên khối đặt tại giao điểm các nếp mái vào các năm 1748 và 1756, sau đó đúc bổ sung năm 1824 thời vua Minh Mạng.
  • 1773 và 1792Tu sửa nghi môn và đại trùng tu hậu cung
    Nghi môn được tu sửa năm 1773, tiếp đến là đợt đại trùng tu hậu cung vào năm 1792 và các lần tu bổ năm 1797, 1885.
  • Đầu thế kỷ 20Kiệu đình lên cao 2,4 mét
    Dân làng nâng nguyên ngôi đình lên ngang mặt đê bằng dụng cụ nhà nông dưới sự chỉ huy của cụ Vương Văn Địch người làng Văn Trì. Các nguồn ghi năm thực hiện khác nhau (1902, 1903, 1916 hoặc 1917), chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • 1990Xếp hạng di tích quốc gia
    Đình được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2016 và 2017Di sản phi vật thể quốc gia và Di tích quốc gia đặc biệt
    Lễ hội đình Chèm được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2067/QĐ-BVHTTDL ngày 13 tháng 6 năm 2016. Đình Chèm được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm kiệu đình, nhiều tài liệu ghi việc kích nâng bắt đầu năm 1902, kéo dài một năm dưới sự chỉ huy của cụ Vương Văn Địch (người làng Văn Trì) với kinh phí 500 đồng bạc Đông Dương. Báo Dân Trí dẫn lời các bậc cao niên trong làng ghi việc nâng đình diễn ra năm 1903. Trong khi đó, hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi việc nâng đình 2,4 mét diễn ra năm Bính Thìn tức 1916, và lại có bài báo ghi năm 1917 gắn việc nâng đình với một lần vỡ đê. Các con số ấy cách nhau hơn mười năm, nên thư viện ghi đầy đủ các thuyết chứ không chọn bừa một con số. Điều mà mọi nguồn thống nhất là chiều cao được nâng đúng 2,4 mét.

Về quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, văn bản chính thức của Thủ tướng Chính phủ là Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017 (một vài trang tin địa phương từng gõ nhầm thành số 2028/QĐ-TTg).

IIINội công ngoại quốc bên bờ sông

Đình dàn theo lối nội công ngoại quốc, tức các lớp nhà bên trong xếp thành hình chữ Công, còn dãy nhà bao quanh khép lại thành hình chữ Quốc. Đây là bố cục của những công trình thờ tự lớn, ít gặp ở một ngôi đình làng, và nó nói lên tầm vóc mà nơi này từng có trong vùng.

Tam quan ngoài

Nếp cổng ngoài cùng nhìn ra phía sông, trên các trụ có đắp linh vật hướng ra bốn phía. Đây là lớp phân định giữa bãi sông và đất đình.

Nghi môn trong

Lớp cổng thứ hai làm kiểu chồng diêm nhiều tầng mái, mở nhiều lối đi, từng được tu sửa vào năm 1773. Hai lớp cổng nối nhau bằng một khoảng sân, làm chậm bước chân trước khi vào khu thờ.

Tả hữu mạc và phương đình

Hai dãy nhà hai bên sân cùng nếp nhà vuông tám mái ở giữa, nơi bày đồ tế và là chỗ đứng của các giáp trong kỳ lễ.

Đại bái

Tòa nhà chính năm gian hai dĩ, mái chồng diêm nhiều tầng. Điểm đáng chú ý là hệ vì kèo dựa vào cách liên kết các con rường thay vì dựa vào một rừng cột chống, nhờ vậy lòng nhà thoáng hơn lối đình thường thấy.

Ống muống, hậu cung và máng đồng

Nếp nhà nối (thiêu hương) và lớp trong cùng nơi đặt long ngai, bài vị và các pho tượng thờ gỗ sơn son thiếp vàng tạc năm 1888. Giữa các nếp mái có hệ thống máng dẫn nước mưa bằng đồng nguyên khối đúc các năm 1748, 1756 và 1824.

Lan can đá xanh

Hệ lan can đá chạm đề tài rồng mây bao quanh phần sân trong. Đá và gỗ đứng cạnh nhau ở đây là dấu của nhiều lớp trùng tu chồng lên nhau.

Các mảng chạm gỗ

Mảng chạm ở đình Chèm mang đậm phong cách nghệ thuật thế kỷ 17 và thế kỷ 18. Đề tài trải rộng gồm rồng, phượng, tứ linh, cùng những tích quen thuộc của chạm đình Bắc Bộ như phượng ngậm thư và cá chép hóa rồng. Xen giữa các linh vật là vân mây, hình dơi lấy nghĩa chữ phúc, rùa và hạc.

Điều đáng để ý với người xem kỹ là kỹ thuật. Trong cùng một tòa nhà, thợ dùng nhiều lối chạm khác nhau như chạm lộng để tạo lớp sâu, chạm nổi cho các mảng cần rõ hình, chạm bong kênh cho những chỗ muốn hình vượt hẳn ra khỏi mặt gỗ. Đứng dưới một vì kèo mà nhận ra ba lối chạm ấy nằm cạnh nhau là cách đọc một mảng chạm đình cho ra đầu ra đũa, thay vì chỉ nhìn tổng thể rồi khen chung chung.

Về tên chữ Hán, thư viện ghi ba chữ đọc theo tên chữ của xã Thụy Phương, đây là chữ do thư viện suy ra chứ không phải chép từ hoành phi hay bảng cổng. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Chuyện đáng bàn nhất ở đây là cái hướng. Đình Việt lấy hướng nam làm chuẩn, vì hướng nam đón gió nồm mùa hạ và tránh gió bấc mùa đông, đến mức câu lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng nam đã thành lời quen. Đình Chèm thì quay mặt về hướng bắc, tức làm ngược thông lệ. Trong phép xem đất, một công trình chịu bỏ cái lợi của hướng nam để quay sang hướng khác thì bao giờ cũng vì có một thứ ở hướng ấy đáng giá hơn. Ở đây thứ đó là sông Hồng.

Đọc theo lối cũ, mặt nước lớn trước cửa là minh đường, và minh đường càng rộng thì khí càng tụ. Sông Hồng ở khúc này không phải một cái ao đào trước sân mà là cả một dòng chảy lớn, thứ minh đường mà các làng khác phải đào hồ bán nguyệt để mô phỏng. Vị thần được thờ lại là vị mà thần tích gắn với việc trừ thủy quái ở chính khúc sông ấy. Thần của nước thì quay mặt ra nước, và cái hướng bắc bất thường kia trở thành hướng đúng.

Thứ hai là chỗ đứng. Đình đặt trên một gò đất cao rộng chừng nửa héc ta, không đặt xuống bãi bằng. Trong lối nghĩ cổ truyền, một gò nổi lên giữa đồng trũng được đọc như lưng rùa, là thế có chỗ tựa dù quanh vùng không có núi. Cả làng Chèm nằm sau lưng đình, tức đình lấy khối nhà cửa của làng làm phần hậu chẩm, còn mặt thì mở hẳn ra sông. Đó là cách bày của một làng sống dựa vào sông chứ không quay lưng lại sông.

Thứ ba, và đây là chỗ riêng nhất của nơi này, là con đê. Đê đắp cao dần qua các đời, và khi mặt đê vượt lên trên nền đình thì thế đất đảo ngược, minh đường bị một bờ đất chắn ngang, còn nền thờ tự thì nằm trũng xuống như đáy chậu. Theo phép cũ, huyệt mà thấp hơn án thì khí bị đè. Việc dân làng nâng cả ngôi đình lên 2,4 mét cho ngang mặt đê, vì thế, không chỉ là việc chống ngập. Đó là việc đưa nền thờ trở lại đúng cốt cao của nó, để đình lại nhìn thấy sông và sông lại nhìn thấy đình.

Sau cùng là lễ và đất đọc cùng nhau. Kỳ hội lớn nhất trong năm không diễn ra trọn trong khuôn viên mà đoàn thuyền ra giữa dòng lấy nước rồi mới rước về. Theo cách đọc cổ truyền, ấy là việc mỗi năm một lần ra tận minh đường mà mời khí về tới ban thờ. Thế đất ở đây không nằm yên trên bản đồ, nó được diễn lại thành một nghi thức.

VHội Chèm rằm tháng Năm

Hội mở vào rằm tháng Năm âm lịch, thường tính ba ngày, ngày chính là rằm. Đây là một trong số ít kỳ hội lớn của vùng ven sông Hồng rơi vào giữa mùa hè, gắn sự tích của ba làng cổ ven sông là Chèm (Thụy Phương), Liên Mạc và Hoàng Xá, và toàn bộ phần lễ trọng đều gắn với nước. Lễ hội đình Chèm đã được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2067/QĐ-BVHTTDL ngày 13 tháng 6 năm 2016.

Trình tự hội theo tư liệu di tích và các bản tin mùa hội, tính theo âm lịch. Nguồn: Hồ sơ di tích và tư liệu của ngành văn hóa Hà Nội..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước chính hộiLễ mộc dụcTắm tượng và lau chùi đồ thờ bằng nước thơm, do các cụ trong ban tế đảm nhiệm, làm kín trong hậu cung.
Ngày đầu hộiLễ rước nướcĐoàn thuyền rồng kết hoa rời bến, ngược dòng sông Hồng một quãng để lấy nước trong giữa dòng rồi rước về đình làm lễ mộc dục và dâng cúng. Đây là nghi thức trọng nhất của hội.
Rằm tháng NămChính hội và rước vănĐại tế tại đại bái và hậu cung, rước văn, rước mã, ba làng kết chạ (Thụy Phương, Liên Mạc, Hoàng Xá) cùng dự theo thứ bậc đã định từ đời trước.
Trong hộiThi làm chè khoCuộc thi nấu chè kho từ đỗ xanh, đường kính và mỡ lợn giữa các giáp, món chè kho làm xong dâng lên ban thờ Đức Thánh và Hoàng phi rồi mới chia phần. Đây là tục riêng của hội Chèm.
Trong hộiTrò diễn dưới nước và trên bãiBơi chải, bắt vịt, kéo co, thả diều và phóng sinh bồ câu, phần lớn diễn ra ngay trên bãi sông trước đình.

Xin ghi thẳng một chỗ nguồn vênh nhau. Về ngày hội, có tài liệu ghi hội diễn ra từ ngày 14 tới 16 tháng Năm, có tài liệu ghi từ ngày 15 tới 17. Cả hai cùng lấy rằm làm ngày trọng, khác nhau ở chỗ tính ngày mở hội trước hay sau rằm. Thư viện ghi cả hai.

Ngoài kỳ hội tháng Năm, đình còn các lệ dâng hương thường kỳ vào mùng một và ngày rằm hằng tháng, do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Chèm, phường Thụy Phương cũ, nay là phường Đông Ngạc, Hà Nội
Đường tới
Đình nằm ở làng Chèm, phường Đông Ngạc (vốn thuộc phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm cũ), Hà Nội, ngay sát chân đê hữu sông Hồng. Từ trên mặt đê nhìn xuống là thấy mái đình và bãi sông trước cửa.
Toạ độ
21.0942, 105.7743
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào tượng thờ, lan can đá và các cấu kiện chạm. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Trong ba ngày hội tháng Năm, phần rước nước trên sông do ban tế và người trong làng đảm nhiệm, người tới dự xem từ bãi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Chèm

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Chèm thờ ai

Thờ Lý Ông Trọng, tên thật là Lý Thân, người làng Chèm, được thờ dưới danh hiệu Hy Khang Thiên Vương và quen gọi là Đức Thánh Chèm. Trong đình còn thờ phu nhân của ông là Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung (công chúa nhà Tần), cùng Ông Sứ và Lục vị Thánh Vương tử. Đây là lối thờ nhân thần của tín ngưỡng dân gian người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.

Đình Chèm có thật hơn hai nghìn năm tuổi không

Con số hơn hai nghìn năm là tuổi của việc thờ tự, tính từ mốc truyền thuyết lập đền thời An Dương Vương. Kiến trúc gỗ đang đứng hiện nay mang dấu ấn nghệ thuật thế kỷ 17 tới thế kỷ 19 (hậu cung dựng năm 1631, đại trùng tu năm 1792), cùng hệ thống máng dẫn nước mưa bằng đồng đúc vào các năm 1748, 1756 và 1824.

Chuyện kiệu đình Chèm lên cao là thế nào

Khi mặt đê được đắp cao hơn nền đình, dân làng đã nâng nguyên cả ngôi đình lên 2,4 mét cho ngang mặt đê dưới sự chỉ huy của cụ Vương Văn Địch người làng Văn Trì, giữ nguyên bộ khung gỗ, chỉ dùng đòn bẩy dây chão và dụng cụ nhà nông. Năm thực hiện các nguồn ghi khác nhau, có nơi ghi 1902, 1903, có nơi ghi 1916, có nơi ghi 1917.

Vì sao đình Chèm quay hướng bắc

Vì đình lấy sông Hồng làm mặt tiền. Đình Việt thường quay hướng nam, nhưng ở đây dòng sông lớn nằm về phía bắc, và vị thần được thờ lại gắn với việc trừ thủy quái trên chính khúc sông ấy. Đây là kiến giải phong thủy của thư viện, đã ghi rõ trong bài.

Hội đình Chèm tổ chức ngày nào

Vào rằm tháng Năm âm lịch, thường tính ba ngày với rằm là ngày chính. Nguồn ghi ngày mở hội khác nhau, có nơi ghi 14 tới 16, có nơi ghi 15 tới 17. Nghi thức trọng nhất là lễ rước nước giữa dòng sông Hồng, ngoài ra có lễ mộc dục, thi làm chè kho và các trò diễn trên bãi.

›Đọc Tiếp