Đi hết con dốc lên đê rồi rẽ xuống, quý vị gặp một khoảng sân lát gạch và một nếp nghi môn nhìn thẳng ra mặt sông Hồng. Đình nằm trên một gò đất cao rộng chừng nửa héc ta, mặt quay về phía bắc, tức quay về phía dòng nước. Đình Việt gần như bao giờ cũng quay về nam, cho nên riêng cái hướng ấy đã đủ báo cho quý vị biết nơi này có lối riêng của nó.
Lối riêng ấy còn nằm ở một việc mà không ngôi đình nào khác trong nước làm được. Khi mặt đê được đắp cao lên và nền đình thành ra thấp hơn mặt đê, dân làng không dỡ đình đi dựng lại, cũng không bỏ đình cho nước. Họ kiệu nguyên cả ngôi đình lên cao 2,4 mét, giữ nguyên bộ khung gỗ hàng trăm tấn, chỉ bằng đòn bẩy, dây chão và những dụng cụ nhà nông sẵn có.
IĐức Thánh Chèm
Đình thờ Lý Ông Trọng, tên thật chép là Lý Thân, người làng Chèm, được thờ dưới danh hiệu Hy Khang Thiên Vương và được dân trong vùng gọi bằng ba tiếng Đức Thánh Chèm. Cùng thờ trong đình còn có phu nhân của ông.
Đây là lối thờ nhân thần của tín ngưỡng dân gian người Việt, tức thờ một người được truyền thuyết kể là có thật rồi được phong làm thành hoàng. Nơi thờ không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào, việc thờ do làng đảm nhiệm. Người ta quen gọi nơi này bằng cả hai tên, đình Chèm và đền Chèm, vì công trình vừa là nhà chung của làng vừa là nơi thờ một vị thánh có tầm vượt khỏi phạm vi một làng.
Theo thần tích, Lý Ông Trọng là người có vóc dáng khác thường, đã sang phương Bắc và ở đó một thời gian, rồi trở về. Điều mà các bản kể nhấn mạnh không phải sức vóc ấy mà là công việc ông làm cho dân: trừ thủy quái ở khúc sông trước làng, khuyến nông và khuyến tang, tức dạy dân cấy cày và nuôi tằm dệt vải. Truyền thuyết cũng chép rằng sau khi ông mất, vua Thục Phán An Dương Vương cho dân xã Thụy Phương lập đền thờ.
Vì phần việc ở phương Bắc được kể theo lối bang giao chứ không theo lối chinh phạt, đời sau quen gọi ông là nhà ngoại giao đầu tiên trong sử Việt. Cách gọi ấy là cách của người đời sau đặt cho một nhân vật truyền thuyết, không phải một danh hiệu chép trong chính sử.
Trên phương diện khảo được, niên đại đời sống của nhân vật này được các nguồn ghi không giống nhau. Hồ sơ di tích xếp ông vào thời An Dương Vương. Một số tài liệu khác chép ông sinh vào cuối thời Hùng Duệ Vương rồi mất dưới đời Thục An Dương Vương. Chênh lệch ấy nằm trong phạm vi một lớp truyền thuyết chứ không phải một mốc biên niên, nên chúng tôi ghi cả hai cách chép và không chọn bừa.
Điều khảo được chắc chắn hơn là lớp tư liệu vật chất còn trong đình: các sắc phong triều Nguyễn, hệ thống câu đối, chuông đồng, lư hương và mười pho tượng thờ, trong đó pho tượng Lý Thân bằng gỗ sơn son thiếp vàng cao khoảng ba mét.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Đình Chèm thường được giới thiệu là ngôi đình hơn hai nghìn năm tuổi, và nhiều người hiểu con số ấy là tuổi của ngôi nhà gỗ đang đứng trước mắt.
Không phải vậy. Con số hơn hai nghìn năm là tuổi của việc thờ tự, tính từ mốc truyền thuyết về việc lập đền thờ thời An Dương Vương. Còn bộ khung gỗ hiện còn thuộc về các đợt dựng lớn thời Lê Trung Hưng, với hai niên đại được nhắc tới là 1748 và 1756. Gỗ không sống được hai nghìn năm dưới khí hậu ẩm của châu thổ. Cái sống lâu ở đây là mạch thờ, còn ngôi nhà thì đã được dựng lại nhiều lần trên cùng một chỗ đất.
IITừ Nền Cũ Đến Lần Kiệu Đình
Lịch sử của đình là lịch sử của một cuộc giằng co với nước. Làng nằm sát bờ hữu sông Hồng, mà con sông ấy mỗi đời lại đắp đê cao thêm một lần. Mỗi lần mặt đê dâng lên, nền đình lại thấp xuống một cách tương đối, và đến một lúc thì làng phải chọn: bỏ đất cũ hay nâng đình lên.
- Thời An Dương VươngLập đền thờTheo truyền thuyết, sau khi Lý Ông Trọng mất, vua cho dân xã Thụy Phương lập đền thờ ông tại làng. Đây là mốc truyền thuyết, không phải mốc biên niên.
- 1748Đợt dựng lớn thời LêMột trong hai niên đại được ghi nhận cho bộ khung gỗ hiện còn, thuộc thời Lê Trung Hưng.
- 1756Đợt dựng lớn tiếp theoNiên đại thứ hai của bộ khung gỗ. Phần lớn cấu kiện và các mảng chạm còn thấy hôm nay thuộc lớp niên đại này.
- Đầu thế kỷ 20Kiệu đình lên cao 2,4 métDân làng nâng nguyên ngôi đình lên ngang mặt đê bằng dụng cụ nhà nông. Các nguồn ghi năm khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới đây.
- 1990Xếp hạng di tích quốc giaĐình được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt ngày 25 tháng 12 năm 2017. Số hiệu quyết định được các nguồn ghi lệch nhau.
- Đầu thập niên 2020Đợt tu bổ gần nhấtĐình trải qua một đợt tu bổ lớn, trong đó việc hạ giải một số hạng mục và xử lý cây cổ thụ trong khuôn viên từng được dư luận quan tâm.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm kiệu đình, nhiều tài liệu và bản tin ghi năm 1902. Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi việc nâng đình 2,4 mét diễn ra năm Bính Thìn tức 1916. Lại có bài báo ghi năm 1917, gắn việc nâng đình với một lần vỡ đê. Ba con số ấy cách nhau tới mười lăm năm, và chúng tôi chưa tra được tài liệu gốc nào nói dứt điểm, nên ghi cả ba chứ không chọn bừa một con số. Điều mà mọi nguồn thống nhất là chiều cao được nâng: 2,4 mét.
Về số hiệu quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, các nguồn cùng ghi ngày 25 tháng 12 năm 2017 nhưng số hiệu ghi lệch nhau. Chúng tôi chỉ ghi ngày tháng, là phần các nguồn thống nhất.
IIINội Công Ngoại Quốc Bên Bờ Sông
Đình dàn theo lối nội công ngoại quốc, tức các lớp nhà bên trong xếp thành hình chữ Công, còn dãy nhà bao quanh khép lại thành hình chữ Quốc. Đây là bố cục của những công trình thờ tự lớn, ít gặp ở một ngôi đình làng, và nó nói lên tầm vóc mà nơi này từng có trong vùng.
Nếp cổng ngoài cùng nhìn ra phía sông, trên các trụ có đắp linh vật hướng ra bốn phía. Đây là lớp phân định giữa bãi sông và đất đình.
Lớp cổng thứ hai làm kiểu chồng diêm nhiều tầng mái, mở nhiều lối đi. Hai lớp cổng nối nhau bằng một khoảng sân, làm chậm bước chân trước khi vào khu thờ.
Hai dãy nhà hai bên sân cùng nếp nhà vuông ở giữa, nơi bày đồ tế và là chỗ đứng của các giáp trong kỳ lễ.
Tòa nhà chính năm gian, mái chồng diêm nhiều tầng. Điểm đáng chú ý là hệ vì kèo dựa vào cách liên kết các con rường thay vì dựa vào một rừng cột chống, nhờ vậy lòng nhà thoáng hơn lối đình thường thấy.
Nếp nhà nối và lớp trong cùng, nơi đặt long ngai, bài vị và các pho tượng thờ, trong đó có pho tượng Lý Thân cao khoảng ba mét bằng gỗ sơn son thiếp vàng.
Hệ lan can đá chạm đề tài rồng mây bao quanh phần sân trong. Đá và gỗ đứng cạnh nhau ở đây là dấu của nhiều lớp trùng tu chồng lên nhau.
Các mảng chạm gỗ
Mảng chạm ở đình Chèm thuộc lớp thế kỷ 18, hợp với niên đại hai đợt dựng lớn. Đề tài trải rộng: rồng, phượng, tứ linh, cùng những tích quen thuộc của chạm đình Bắc Bộ như phượng ngậm thư và cá chép hóa rồng. Xen giữa các linh vật là vân mây, hình dơi lấy nghĩa chữ phúc, rùa và hạc.
Điều đáng để ý với người xem kỹ là kỹ thuật. Trong cùng một tòa nhà, thợ dùng nhiều lối chạm khác nhau: chạm lộng để tạo lớp sâu, chạm nổi cho các mảng cần rõ hình, chạm bong kênh cho những chỗ muốn hình vượt hẳn ra khỏi mặt gỗ. Đứng dưới một vì kèo mà nhận ra ba lối chạm ấy nằm cạnh nhau là cách đọc một mảng chạm đình cho ra đầu ra đũa, thay vì chỉ nhìn tổng thể rồi khen chung chung.
Về tên chữ Hán, chúng tôi ghi ba chữ đọc theo tên chữ của xã, đây là chữ do chúng tôi suy ra chứ không phải chép từ hoành phi hay bảng cổng. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Chuyện đáng bàn nhất ở đây là cái hướng. Đình Việt lấy hướng nam làm chuẩn, vì hướng nam đón gió nồm mùa hạ và tránh gió bấc mùa đông, đến mức câu lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng nam đã thành lời quen. Đình Chèm thì quay mặt về hướng bắc, tức làm ngược thông lệ. Trong phép xem đất, một công trình chịu bỏ cái lợi của hướng nam để quay sang hướng khác thì bao giờ cũng vì có một thứ ở hướng ấy đáng giá hơn. Ở đây thứ đó là sông Hồng.
Đọc theo lối cũ, mặt nước lớn trước cửa là minh đường, và minh đường càng rộng thì khí càng tụ. Sông Hồng ở khúc này không phải một cái ao đào trước sân mà là cả một dòng chảy lớn, thứ minh đường mà các làng khác phải đào hồ bán nguyệt để mô phỏng. Vị thần được thờ lại là vị mà thần tích gắn với việc trừ thủy quái ở chính khúc sông ấy. Thần của nước thì quay mặt ra nước, và cái hướng bắc bất thường kia trở thành hướng đúng.
Thứ hai là chỗ đứng. Đình đặt trên một gò đất cao rộng chừng nửa héc ta, không đặt xuống bãi bằng. Trong lối nghĩ cổ truyền, một gò nổi lên giữa đồng trũng được đọc như lưng rùa, là thế có chỗ tựa dù quanh vùng không có núi. Cả làng Chèm nằm sau lưng đình, tức đình lấy khối nhà cửa của làng làm phần hậu chẩm, còn mặt thì mở hẳn ra sông. Đó là cách bày của một làng sống dựa vào sông chứ không quay lưng lại sông.
Thứ ba, và đây là chỗ riêng nhất của nơi này, là con đê. Đê đắp cao dần qua các đời, và khi mặt đê vượt lên trên nền đình thì thế đất đảo ngược: minh đường bị một bờ đất chắn ngang, còn nền thờ tự thì nằm trũng xuống như đáy chậu. Theo phép cũ, huyệt mà thấp hơn án thì khí bị đè. Việc dân làng nâng cả ngôi đình lên 2,4 mét cho ngang mặt đê, vì thế, không chỉ là việc chống ngập. Đó là việc đưa nền thờ trở lại đúng cốt cao của nó, để đình lại nhìn thấy sông và sông lại nhìn thấy đình.
Sau cùng là lễ và đất đọc cùng nhau. Kỳ hội lớn nhất trong năm không diễn ra trọn trong khuôn viên: đoàn thuyền ra giữa dòng lấy nước rồi mới rước về. Theo cách đọc cổ truyền, ấy là việc mỗi năm một lần ra tận minh đường mà mời khí về tới ban thờ. Thế đất ở đây không nằm yên trên bản đồ, nó được diễn lại thành một nghi thức.
VHội Chèm Rằm Tháng Năm
Hội mở vào rằm tháng Năm âm lịch, thường tính ba ngày, ngày chính là rằm. Đây là một trong số ít kỳ hội lớn của vùng ven sông Hồng rơi vào giữa mùa hè, và toàn bộ phần lễ trọng đều gắn với nước.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước chính hội | Lễ mộc dục | Tắm tượng và lau chùi đồ thờ bằng nước thơm, do các cụ trong ban tế đảm nhiệm, làm kín trong hậu cung. |
| Ngày đầu hội | Lễ rước nước | Đoàn thuyền kết hoa rời bến, ngược dòng sông Hồng một quãng chừng bốn cây số để lấy nước giữa dòng rồi rước về đình. Đây là nghi thức trọng nhất của hội. |
| Rằm tháng Năm | Chính hội | Đại tế tại đại bái và hậu cung, ba làng kết chạ cùng dự theo thứ bậc đã định từ đời trước. |
| Trong hội | Thi làm chè kho | Cuộc thi giữa các giáp, món chè kho làm xong dâng lên ban thờ rồi mới chia phần. Đây là tục riêng của hội Chèm. |
| Trong hội | Trò diễn dưới nước và trên bãi | Bơi chải, bắt vịt, kéo co, thả diều và thả chim câu, phần lớn diễn ra ngay trên bãi sông trước đình. |
Xin ghi thẳng một chỗ nguồn vênh nhau. Về ngày hội, có tài liệu ghi hội diễn ra từ ngày 14 tới 16 tháng Năm, có tài liệu ghi từ ngày 15 tới 17. Cả hai cùng lấy rằm làm ngày trọng, khác nhau ở chỗ tính ngày mở hội trước hay sau rằm. Chúng tôi ghi cả hai.
Ngoài kỳ hội tháng Năm, đình còn các lệ dâng hương thường kỳ vào mùng một và ngày rằm hằng tháng, do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Chèm, phường Thụy Phương cũ, nay là phường Đông Ngạc, Hà Nội
- Đường tới
- Đình nằm ở làng Chèm, phường Đông Ngạc, Hà Nội, ngay sát chân đê hữu sông Hồng. Từ trên mặt đê nhìn xuống là thấy mái đình và bãi sông trước cửa.
- Toạ độ
- 21.0942, 105.7743
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào tượng thờ, lan can đá và các cấu kiện chạm. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Trong ba ngày hội tháng Năm, phần rước nước trên sông do ban tế và người trong làng đảm nhiệm, người tới dự xem từ bãi.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Chèm
Contribute photos, information or video for Chem Communal HouseThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Chèm thờ ai
Thờ Lý Ông Trọng, tên thật là Lý Thân, người làng Chèm, được thờ dưới danh hiệu Hy Khang Thiên Vương và quen gọi là Đức Thánh Chèm. Trong đình còn thờ phu nhân của ông. Đây là lối thờ nhân thần của tín ngưỡng dân gian người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.
Đình Chèm có thật hơn hai nghìn năm tuổi không
Con số hơn hai nghìn năm là tuổi của việc thờ tự, tính từ mốc truyền thuyết lập đền thời An Dương Vương. Bộ khung gỗ đang đứng hiện nay thuộc các đợt dựng lớn thời Lê Trung Hưng, với hai niên đại được nhắc tới là 1748 và 1756.
Chuyện kiệu đình Chèm lên cao là thế nào
Khi mặt đê được đắp cao hơn nền đình, dân làng đã nâng nguyên cả ngôi đình lên 2,4 mét cho ngang mặt đê, giữ nguyên bộ khung gỗ, chỉ dùng đòn bẩy dây chão và dụng cụ nhà nông. Năm thực hiện các nguồn ghi khác nhau, có nơi ghi 1902, có nơi ghi 1916, có nơi ghi 1917.
Vì sao đình Chèm quay hướng bắc
Vì đình lấy sông Hồng làm mặt tiền. Đình Việt thường quay hướng nam, nhưng ở đây dòng sông lớn nằm về phía bắc, và vị thần được thờ lại gắn với việc trừ thủy quái trên chính khúc sông ấy. Đây là kiến giải phong thủy của thư viện, đã ghi rõ trong bài.
Hội đình Chèm tổ chức ngày nào
Vào rằm tháng Năm âm lịch, thường tính ba ngày với rằm là ngày chính. Nguồn ghi ngày mở hội khác nhau, có nơi ghi 14 tới 16, có nơi ghi 15 tới 17. Nghi thức trọng nhất là lễ rước nước giữa dòng sông Hồng, ngoài ra có lễ mộc dục, thi làm chè kho và các trò diễn trên bãi.