Đứng ở sân gạch trước đình, điều đầu tiên đập vào mắt quý vị không phải là cửa đình mà là mái đình. Bốn tàu mái đổ xuống rất thấp, bốn đầu đao cong vươn ra xa, và khối mái ấy chiếm gần hết chiều cao của công trình, làm phần thân gỗ bên dưới như bị nén lại thành một dải tối. Muốn nhìn vào trong, quý vị phải cúi người, vì ngưỡng cửa không đặt trên nền đất mà đặt trên một sàn gỗ nâng cao hơn mặt sân.
Đó là đặc điểm khiến ngôi đình này được nhắc tới nhiều nhất, khi đình dựng theo lối nhà sàn, có sàn gỗ chạy suốt từ tòa ngoài vào tới hậu cung, một thứ mà phần lớn đình Bắc Bộ đã mất từ lâu. Người làng gọi nơi này bằng tên nôm là đình Báng hay đình làng Báng. Đình thờ ba vị thành hoàng vốn là ba vị thần của thiên nhiên, chứ không phải ba vị tướng hay ba vị khoa bảng như nhiều đình khác.

IBa vị nhiên thần của làng Báng
Thành hoàng của đình là ba vị gồm Cao Sơn đại vương, Thủy Bá đại vương và Bạch Lệ đại vương (có tài liệu chép là Bách Lệ đại vương). Ba danh hiệu ấy ứng với ba thứ mà một làng làm ruộng ở châu thổ sông Hồng phải trông vào là thần Đất, thần Nước và thần Trồng trọt.
Đây là điểm khác biệt đáng ghi nhớ nhất về nội dung thờ tự. Phần lớn đình làng Bắc Bộ thờ nhân thần, tức một người có thật được phong làm thành hoàng. Đình làng Báng thờ nhiên thần, tức thần của các lực lượng tự nhiên, không có gốc là người. Cách chọn ấy nói thẳng nghề nghiệp của làng ra thành danh hiệu thờ tự.
Theo lối nghĩ của tín ngưỡng dân gian người Việt, ba vị này làm thành một bộ chứ không đứng lẻ. Đất không tự nuôi cây, phải có nước. Nước có rồi mà không có sức làm hạt nảy mầm thì ruộng vẫn trống. Ba vị đặt cạnh nhau trong một hậu cung là cách người xưa xếp ba khâu của một mùa vụ thành ba ngôi thờ.
Cần nói rõ rằng đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc và không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Việc thờ do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm. Đình vừa là nơi thờ vừa là nhà chung của làng, hai chức năng ấy nằm trong cùng một tòa nhà.
Ngoài ba vị thành hoàng, đình còn hai lớp phối thờ. Lớp thứ nhất là Lục Tổ, tức sáu vị thuộc sáu dòng họ được coi là có công chiêu dân lập lại làng vào thời Lê sơ khoảng thế kỷ 15. Lớp thứ hai là bài vị tám vị vua triều Lý, được đưa về đặt tại đình vào giữa thế kỷ 20.
Về lớp thứ hai, thư viện chỉ ghi một câu rồi dừng. Nơi thờ chính tám vị vua là đền Đô cách đình không xa, và mọi chuyện về đất Cổ Pháp cùng triều Lý thuộc về trang riêng của đền Đô trong thư viện này.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Nhiều người nghe tên làng Đình Bảng rồi coi ngôi đình ở đây là nơi thờ các vua nhà Lý, thậm chí lẫn đình với đền Đô thành một.
Hai nơi là hai công trình riêng, cách nhau một quãng đường trong cùng một làng, dựng ở hai thời điểm khác nhau và có hai nội dung thờ tự khác nhau. Đền Đô là nơi thờ tám vị hoàng đế triều Lý. Đình là nhà chung của làng, thờ ba vị nhiên thần, dựng đầu thế kỷ 18 bằng công của dân làng và của một vị quan người làng. Việc bài vị tám vị vua có mặt ở đình là chuyện của giữa thế kỷ 20, tức sau khi ngôi đình đã đứng ở đó hơn hai trăm năm.
IIBa mươi sáu năm dựng một ngôi đình
Đình khởi công năm 1700 và hoàn thành năm 1736, tức làm trong ba mươi sáu năm. Người đứng ra hưng công là ông Nguyễn Thạc Lượng (có tài liệu chép là Nguyễn Thạc Lương), một vị quan người làng từng làm trấn thủ Thanh Hóa, cùng vợ là bà Nguyễn Thị Nguyên (có bản ghi Nguyễn Thị Nguyện), người quê Thanh Hóa. Theo tư liệu di tích, ông bà mua gỗ lim từ Thanh Hóa kết bè đưa về cúng làng để dựng đình, đồng thời cho dựng trước một nếp nhà mẫu quy mô nhỏ tại tư dinh để hiệp thợ tính toán mộng mẹo, phần còn lại là công và của của cả làng góp trong nhiều đời người. Ba mươi sáu năm ấy không phải chuyện lạ với một ngôi đình lớn, vì gỗ lim phải đủ, thợ phải đủ, và mỗi đợt góp của một làng nông nghiệp chỉ làm được một phần việc.
- Thế kỷ 15Lục Tổ khai lập làngTư liệu di tích xếp sáu vị tổ có công khai lập lại làng vào khoảng thế kỷ 15 thời Lê sơ. Về sau sáu vị này được phối thờ tại đình.
- 1700Khởi côngÔng Nguyễn Thạc Lượng (Nguyễn Thạc Lương) cùng vợ là bà Nguyễn Thị Nguyên và dân làng khởi công dựng đình bằng gỗ lim dưới triều vua Lê Hy Tông.
- 1736Hoàn thànhTòa đại đình cùng hệ sàn gỗ và bộ khung hoàn tất sau ba mươi sáu năm dưới triều vua Lê Ý Tông. Phần lớn cấu kiện gỗ còn lại hôm nay thuộc lớp niên đại này.
- 1962Xếp hạng di tích quốc giaĐình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962. Một vài tài liệu ghi mốc này là năm 1961, chi tiết nêu ngay dưới đây.
- Giữa thế kỷ 20Phối thờ tám vị vua triều LýKhi đền Đô gặp biến cố hư hại giữa thế kỷ 20, bài vị tám vị vua triều Lý được rước về đặt tại đình, thêm một lớp thờ bên cạnh ba vị nhiên thần và Lục Tổ.
- 2024Di tích quốc gia đặc biệtĐình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt (Đợt 16) theo Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2024, cùng đợt với năm di tích khác trong cả nước.
- 2025Đón bằng xếp hạng và sáp nhập phường Từ SơnĐầu năm 2025 lễ đón bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt được tổ chức tại đình. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, theo Nghị quyết 1658/NQ-UBTVQH15, phường Đình Bảng hợp nhất cùng các phường Đông Ngàn, Tân Hồng và Phù Chẩn thành phường Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm xếp hạng di tích quốc gia, phần lớn tài liệu ghi năm 1962 kèm số Quyết định 313-VH/VP, nhưng có bài ghi 1961. Thư viện lấy mốc 1962 vì đó là mốc có số hiệu quyết định đi kèm, đồng thời nói rõ rằng nguồn khác ghi khác.
Về số gian của tòa đại đình, tài liệu cũng không thống nhất. Có nguồn ghi bảy gian hai chái, có nguồn ghi năm gian hai chái, lại có nguồn chỉ ghi gọn là bảy gian. Nhiều khả năng đây là chỗ khác nhau trong cách đếm, tức một bên gộp hai chái vào tổng số bảy khoang, một bên tách chái ra khỏi số gian chính. Thư viện ghi cả hai cách đếm và không chọn bừa một con số.
IIIMái, sàn và những mảng chạm
Mặt bằng đình theo hình chữ Công, gồm ba phần nối nhau là đại bái ở ngoài, ống muống ở giữa và hậu cung trong cùng. Tòa đại bái dài khoảng 20 mét, rộng 14 mét, cao 8 mét. Bộ khung đặt trên sáu hàng cột ngang và mười hàng cột dọc (tổng cộng 60 cột gỗ lim), đường kính từ 0,55 mét ở cột con tới 0,65 mét ở cột cái, tất cả kê trên chân tảng đá xanh.
Mái rủ và sàn gỗ
Hai chi tiết làm nên dáng riêng của đình. Thứ nhất là khối mái, khi mái rủ xuống khoảng 5,5 mét, tức chiếm chừng hai phần ba chiều cao tám mét của tòa nhà. Bốn đầu đao cong vươn ra xa mà không cần cột chống phụ dưới đầu đao, và tư liệu di tích xếp đây vào loại đầu đao vươn xa nhất trong kiến trúc gỗ cổ truyền Việt Nam. Nhìn từ xa, đình không giống một ngôi đền vươn lên mà giống một mái nhà lớn đè xuống mặt đất.
Thứ hai là hệ sàn. Sàn gỗ nâng cao 0,7 mét so với mặt nền và chạy suốt từ đại bái vào tới hậu cung. Đây là dấu vết của lối dựng nhà sàn, thứ mà đình Việt thời sớm còn giữ rồi mất dần ở các đình dựng về sau. Rất ít đình Bắc Bộ còn giữ được hệ sàn tương đối nguyên vẹn như ở đây.
Chạm khắc gỗ thế kỷ 18
Tư liệu di tích quen gọi đình là một bảo tàng chạm khắc gỗ thế kỷ 18. Cách gọi ấy có căn cứ ở số lượng và ở chỗ các mảng chạm phân bố khắp bộ khung chứ không dồn vào vài chỗ dễ thấy.
Bức chạm bầy tám con ngựa phi trong mây, đặt ở phần dưới hàng cột trong tòa đại đình. Đây là mảng được giới nghiên cứu đánh giá cao nhất trong cả ngôi đình, vì ngựa là đề tài hiếm gặp trong chạm đình so với rồng, và vì mỗi con một dáng chứ không lặp lại.
Hai mươi tám chiếc kẻ đỡ mái hiên, mỗi chiếc chạm một con rồng, mỗi con một vẻ. Đi vòng quanh hiên đình mà xem hết hai mươi tám con ấy là cách đọc nhanh nhất phong cách chạm rồng thế kỷ 18.
Tư liệu di tích ước tính có khoảng năm trăm hình rồng chạm rải khắp các cấu kiện ván gió, vì nách, đầu dư, bẩy hiên. Rồng ở đây có vẩy rõ, sừng ngắn, tai vểnh như cánh chim nhỏ và mắt lồi, là những nét nhận dạng của rồng đình thời Lê Trung Hưng.
Bức cửa võng chính trải rộng hết một gian đình dài chừng 3,7 mét, chia làm chín tầng chạm lộng, sơn son thiếp vàng, chạm chữ triện, lá lật, cánh sen, tứ linh, tứ quý cùng hình ngựa và sư tử. Đây là hiện vật trang trí lớn nhất và công phu nhất của đình.
Tấm trần che phía trên gian giữa, chạm trổ công phu, làm nền cho khu vực đặt hương án. Cùng với cửa võng, đây là phần chạm thuần trang hoàng, khác với các mảng chạm gắn liền cấu kiện chịu lực.
Về tên chữ Hán, thư viện ghi hai chữ đọc theo tên làng. Đây là chữ do thư viện suy ra, không phải chép từ một tấm hoành phi hay bức đại tự nào trong đình. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Điều đáng đọc trước tiên ở đây không phải hướng đình mà là cốt nền. Làng nằm giữa châu thổ, đất bằng, không có mạch núi nào để tựa, và mùa nước lên thì cả vùng đều thấp như nhau. Người dựng đình không đắp một nền gạch thật cao rồi đặt nhà lên trên, mà nâng sàn gỗ lên 0,7 mét và để trống bên dưới. Theo lối đọc cổ truyền, đó là cách ứng xử với hành Thủy ở một vùng trũng, không chắn nước mà nhường chỗ cho nước đi qua, giữ cho phần thờ tự luôn nằm trên mặt nước.
Thứ hai là tỷ lệ giữa mái và thân. Mái rủ chiếm tới hai phần ba chiều cao, bốn đầu đao vươn xa, cả khối nhà bè ra ngang mặt đất thay vì vươn lên trời. Đền miếu thờ thiên thần thường lấy dáng vươn cao để tỏ ý hướng thượng. Ở đây, ba vị được thờ là thần Đất, thần Nước và thần Trồng trọt, tức ba vị ở ngay dưới chân người, và dáng nhà cũng nằm sát đất theo. Đọc theo phép cũ, hình khối thấp và bè ấy thuộc về hành Thổ, đúng với vị chủ thần của đình.
Thứ ba là vị trí của đình trong làng. Đình đặt ở rìa khu dân cư cổ trên khoảnh đất bằng có sân gạch rộng và hồ nước phía trước. Trong phép xem đất, sân đình và mặt nước đóng vai minh đường, và một minh đường phẳng rộng không bị nhà cửa ép sát thì khí không nghẽn. Sân ấy đồng thời là chỗ họp làng, chia phần lễ và diễn trò trong kỳ hội. Phong thủy và công năng ở đây là một.
Sau cùng là chỗ thư viện giữ sự dè dặt. Tư liệu công khai không ghi thống nhất độ số hướng chính xác của công trình (thực tế mặt đình nhìn về hướng nam hơi chếch tây), nên thư viện không nêu một con số độ la bàn tuyệt đối. Đình ở châu thổ thường lấy hướng nam hoặc chệch nam để tránh gió bấc và đón gió nồm, phù hợp với thông lệ chung của vùng Kinh Bắc.
VLễ và ngày lễ
Lịch lễ của đình có mấy lớp bổ sung cho nhau gồm kỳ hội mùa xuân tại đình vào tháng Hai âm lịch, kỳ lễ cầu mùa vào tháng Chạp tế ba vị thành hoàng theo lệ làm ruộng, và kỳ hội lớn của cả làng vào giữa tháng Ba âm lịch mà phần lễ trọng đặt ở đền Đô.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Từ 12 (hoặc 14) tới 16 tháng Hai | Hội xuân tại đình và đón chạ | Kỳ hội mùa xuân tại đình Đình Bảng, tế tam vị Thành hoàng và Lục Tổ, đón đoàn chạ anh từ làng Đan Nhiễm (vùng Cẩm Giàng, Hải Dương cũ) sang dự hội và hát quan họ. |
| Tháng Chạp | Lễ cầu mùa tại đình | Kỳ lễ cuối năm của đình, tế ba vị thành hoàng cầu cho một năm mùa màng. Ngày cụ thể trong tháng (như ngày 12 tháng Chạp) các nguồn ghi không giống nhau. |
| Từ 14 tới 16 tháng Ba | Hội lớn của cả làng (hội đền Đô) | Kỳ hội lớn trong năm của làng Đình Bảng. Đoàn rước kiệu xuất phát từ đình Đình Bảng sang đền Đô làm lễ kỷ niệm ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang. |
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Lễ sóc vọng | Lệ dâng hương thường kỳ do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm, không có rước. |
| Trong kỳ lễ và hội | Tế, chia phần và trò hội Kinh Bắc | Sau lễ tế, lễ vật được chia đều cho các giáp theo lệ cũ. Phần hội có hát quan họ trên thuyền rồng, đấu vật, chọi gà, cờ người và các trò diễn vùng Kinh Bắc. |
Xin ghi thẳng một chỗ nguồn vênh nhau. Về kỳ lễ riêng của đình, một số tư liệu địa phương ghi hội xuân của đình mở từ ngày 12 (hoặc 14) đến ngày 16 tháng Hai âm lịch, có tài liệu lại nhấn mạnh kỳ lễ cầu mùa vào tháng Chạp, trong khi phần lớn bản tin báo chí mùa xuân nói tới kỳ hội lớn rằm tháng Ba gắn với đền Đô. Thư viện ghi đầy đủ các lớp lễ ấy chứ không gộp làm một.
Một tục còn giữ rất đáng quý là lệ kết chạ với làng Đan Nhiễm (thuộc vùng Cẩm Giàng, Hải Dương cũ). Tương truyền xưa kia khi bè gỗ lim dựng đình của ông Nguyễn Thạc Lượng gặp bão trôi dạt về khúc sông làng Đan Nhiễm, dân làng ấy đã giữ gìn và trao trả nguyên vẹn, từ đó hai làng kết nghĩa anh em. Trong kỳ hội, làng Báng đón khách của làng kết chạ theo nghi thức riêng, xếp chỗ và mời lễ theo thứ bậc đã định từ đời trước. Đó là phần việc của đình chứ không phải của đền, vì quan hệ giữa hai làng là việc của nhà chung.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Đình Bảng, phường Đình Bảng cũ, nay là phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Đình nằm giữa làng Đình Bảng, phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách đền Đô một quãng ngắn trong cùng làng. Đi bộ được giữa hai nơi.
- Toạ độ
- 21.1083, 105.9518
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và cũng là nhà chung của làng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi bước lên sàn, bỏ giày dép theo chỉ dẫn của người trông coi vì sàn là sàn gỗ cổ, đi nhẹ và không tì tay lên các cấu kiện chạm. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Hậu cung chỉ mở trong kỳ lễ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Đình Bảng
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Đình Bảng thờ ai
Thờ ba vị thành hoàng Cao Sơn, Thủy Bá và Bạch Lệ đại vương (có bản ghi Bách Lệ đại vương), tức thần Đất, thần Nước và thần Trồng trọt. Đình còn phối thờ Lục Tổ là sáu vị có công khai lập lại làng vào thế kỷ 15, và từ giữa thế kỷ 20 từng đón bài vị tám vị vua triều Lý về thờ.
Đình Đình Bảng và đền Đô có phải một không
Không. Đây là hai công trình riêng trong cùng một làng. Đền Đô thờ tám vị hoàng đế triều Lý. Đình Đình Bảng (đình Báng) là nhà chung của làng, thờ ba vị nhiên thần, dựng từ năm 1700 tới 1736 do vợ chồng quan trấn thủ Nguyễn Thạc Lượng (Nguyễn Thạc Lương) và bà Nguyễn Thị Nguyên cùng dân làng hưng công.
Vì sao đình Đình Bảng gọi là đình nhà sàn
Vì đình có hệ sàn gỗ lim nâng cao 0,7 mét so với mặt nền, chạy suốt từ đại bái vào hậu cung trên 60 cột gỗ lim kê chân tảng đá xanh, đúng lối dựng nhà sàn cổ truyền. Phần lớn đình Bắc Bộ về sau đã bỏ sàn hoặc mất sàn qua các lần sửa.
Bức chạm nào ở đình đáng xem nhất
Bức Bát mã quần phi chạm bầy tám con ngựa ở phần dưới hàng cột trong đại đình được giới nghiên cứu đánh giá cao nhất. Kế đó là hai mươi tám chiếc kẻ hiên chạm hai mươi tám con rồng khác nhau trong tổng số khoảng năm trăm hình rồng của đình, và bức cửa võng chín tầng dài chừng 3,7 mét sơn son thiếp vàng.
Đình Đình Bảng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm nào
Theo Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2024. Lễ đón bằng tổ chức đầu năm 2025 nên một số bản tin lấy năm 2025 làm mốc. Trước đó đình đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962 (có tài liệu ghi năm 1961).