Từ sân đình nhìn vào, quý vị thấy một tòa nhà gỗ không có tường, không có vách ván bưng quanh, bốn bề để trống cho gió đi qua. Bộ khung đứng trần trụi trước mắt: cột, xà, kẻ, con rường, tất cả phơi ra chứ không giấu sau lớp che nào. Chính vì để trần như vậy mà mọi nhát đục của thợ thế kỷ 16 còn nguyên đó, chờ người tới đọc.
Đình dựng vào thời Mạc, và điểm khiến nó khác mọi ngôi đình khác nằm ở chỗ niên đại ấy không chỉ dựa vào con mắt nhìn hoa văn mà còn được kiểm chứng bằng phương pháp các bon phóng xạ. Có một mốc chắc, giới nghiên cứu mới có chỗ để so các đình khác vào. Vì thế người trong nghề hay nhắc tới nơi này trước tiên, rồi mới nhắc tới những ngôi đình to hơn, giàu vàng son hơn.
ITam Vị Thần Núi Ba Vì
Đình thờ ba vị thành hoàng: Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn và Quý Minh. Ba vị làm thành một bộ, quen gọi là tam vị Đức Thánh Tản, và cả ba đều gắn với dãy núi Ba Vì nằm ngay trước mặt làng.
Điều đáng ghi ở đây là làng thờ đúng vị thần của đất mình. Rất nhiều đình Bắc Bộ thờ một người có công với làng hoặc với nước, tức một nhân thần được rước từ chỗ khác về. Làng Tây Đằng nằm dưới chân núi Tản, và vị được thờ chính là thần của ngọn núi ấy. Không có quãng cách nào giữa nơi thờ và đối tượng thờ.
Theo lối nghĩ của tín ngưỡng dân gian người Việt, Tản Viên Sơn Thánh là một trong bốn vị bất tử, và là anh hùng văn hóa hơn là một vị thần chỉ ban phúc. Các bản kể đều quy về một chủ đề: ngài dạy dân cách sống với nước, dựng thế đất, chống lại cái phần dữ của thiên nhiên. Hai vị Cao Sơn và Quý Minh đứng hai bên, được coi là em hoặc là bộ tướng tùy theo từng bản thần tích.
Cần nói rõ đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Việc thờ do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm. Trong hệ thờ tự vùng núi Ba Vì có nhiều làng cùng thờ tam vị này, mỗi làng giữ một bản thần tích và một nếp lễ riêng, nên không nên đọc một nơi rồi suy ra cho tất cả.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Đình Tây Đằng thường được giới thiệu kèm danh hiệu đình cổ nhất Việt Nam, và danh hiệu ấy cũng được gán cho vài ngôi đình khác trong các bài viết khác nhau.
Lý do là phần lớn đình Việt không có văn bia ghi năm dựng, hoặc có bia nhưng bia lại thuộc một lần trùng tu chứ không thuộc lần dựng đầu. Khi ấy niên đại được đoán theo phong cách chạm khắc, mà phong cách thì có thể kéo dài qua nhiều đời thợ. Chỗ đáng nói của Tây Đằng không nằm ở ngôi thứ cổ nhất, mà nằm ở chỗ niên đại thời Mạc đã được đối chiếu bằng một phép đo độc lập với con mắt nhà nghiên cứu. Một mốc đo được thì có ích hơn một danh hiệu.
IIMột Mốc Chuẩn Của Đình Việt
Đình dựng vào thế kỷ 16, thời Mạc. Các phần phụ được thêm vào rất muộn về sau, nên tòa đại đình còn giữ được gần trọn một lớp niên đại duy nhất, điều hiếm thấy ở những ngôi đình đã qua nhiều đời sửa chữa.
- Thế kỷ 16Dựng tòa đại đìnhĐình được dựng thời Mạc. Một số tài liệu ghi niên đại cụ thể là năm 1531, tức năm Đại Chính thứ hai, trong khi nhiều tài liệu khác chỉ ghi chung là thế kỷ 16.
- Thế kỷ 17 tới 19Các lần tu bổ nối nhauĐình được sửa chữa nhiều lần, nhưng bộ khung và phần lớn cấu kiện chạm của tòa đại đình vẫn giữ lại được lớp gỗ thời Mạc.
- 1860Dựng tả mạc và hữu mạcHai dãy nhà hai bên sân được dựng năm Canh Thân đời Tự Đức, tức ba trăm năm sau tòa đại đình. Đây là lớp kiến trúc muộn nhất trong khuôn viên.
- Thế kỷ 20Giám định niên đại bằng các bon 14Mẫu gỗ của đình được giám định bằng phương pháp các bon phóng xạ, kết quả cùng với đặc điểm kiến trúc và trang trí xác nhận niên đại thời Mạc.
- Đầu thập niên 2000Đợt tu bổ lớn gần nhấtĐình được tu bổ, một số cột gỗ hỏng được thay bằng gỗ lim, các cột gốc còn dùng được thì giữ lại. Tài liệu ghi thời gian đợt tu bổ này không thống nhất.
- 2013Di tích quốc gia đặc biệtĐình được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2013, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm dựng đình, có tài liệu ghi thẳng năm 1531 kèm niên hiệu Đại Chính thứ hai, trong khi hồ sơ di tích và phần lớn nghiên cứu chỉ ghi thế kỷ 16 thời Mạc, có nơi còn dẫn cách so sánh với đình Lỗ Hạnh dựng năm 1576 để định khoảng. Chúng tôi ghi cả hai cách và không chọn bừa một con số, vì một niên hiệu cụ thể mà không dẫn được nguồn văn bia thì chưa đủ chắc.
Về đợt tu bổ đầu những năm 2000, có tài liệu ghi từ năm 2002 tới 2004, có tài liệu ghi năm 2005. Về cách đếm gian của tòa đại đình, tài liệu ghi ba gian hai chái, lại có nơi ghi gọn là năm gian. Đây nhiều khả năng là chỗ khác nhau trong cách đếm, tức một bên gộp hai chái vào tổng số năm khoang, một bên tách chái ra khỏi số gian chính.
IIIBộ Khung Để Trần Và Hơn Một Nghìn Ba Trăm Mảng Chạm
Khuôn viên đi từ ngoài vào gồm cổng, hồ bán nguyệt, nghi môn trụ biểu kiểu hai cột lớn kèm hai cột nhỏ, sân đình, hai dãy tả mạc và hữu mạc, rồi tới tòa đại đình. Trong khuôn viên còn một giếng cổ.
Tòa đại đình làm mặt bằng chữ nhật, ba gian hai chái, mái bốn phía, đặt trên 48 cột kê chân tảng đá, cột lớn nhất đường kính tới 80 phân. Diện tích nền chừng 360 mét vuông. Gỗ dựng đình theo tư liệu gồm gỗ mít và gỗ thông đỏ, hai loại mềm hơn gỗ lim, và chính độ mềm ấy cho phép thợ đục được những nét nhỏ, mảnh, mềm mà gỗ cứng khó cho. Nhà không bưng ván quanh, để trống bốn bề.
Đọc các mảng chạm theo tầng
Đình có hơn 1.300 chi tiết chạm độc lập, và cái hay không nằm ở con số ấy mà nằm ở chỗ chúng được xếp theo tầng. Càng lên cao càng là cõi trên, càng xuống thấp càng là cõi người. Đi từ nóc xuống, quý vị đọc được cả một trật tự thế giới mà làng quê thế kỷ 16 hình dung.
Trên cùng là hình rồng bố cục gọn trong khung lá đề, hai bên có các vị thần tiên chầu hầu. Đây là tầng cao nhất, dành cho cõi thiêng.
Các vị tiên thần tạc dưới dạng tượng tròn gắn vào đầu cột, không phải chạm nổi trên mặt phẳng. Lối tạc tượng tròn ngay trên cấu kiện chịu lực là nét riêng của chạm thời Mạc.
Ở tầng giữa là cảnh tiên giới xen với cảnh có cả người lẫn tiên, tức chỗ hai cõi gặp nhau. Tầng này làm nhịp chuyển giữa nóc và thân.
Xuống thấp là hoạt cảnh đời thường: đấu vật, chèo thuyền, đốn củi, trai gái tình tự, mẹ gánh con. Đây là phần khiến đình Tây Đằng được nhắc nhiều nhất, vì rất ít nơi dám đưa cảnh sinh hoạt vào ngay trong nhà thờ thần.
Hệ cấu kiện đỡ mặt dưới xà dọc, thuộc loại sớm và hiếm trong kiến trúc gỗ Việt. Giới nghiên cứu để ý chi tiết này vì nó cho thấy một giải pháp kết cấu mà các đình về sau không dùng nữa.
Khám gian trước hậu cung chạm nổi rồng chầu hoa cúc ở mặt trong và rồng phun lửa ở mặt ngoài, tức hai mặt hai nội dung khác nhau. Bộ cửa bức bàn sáu cánh trang trí tứ linh.
Một đặc điểm nữa đáng nói: thợ ở đây dùng nhiều lối chạm khác nhau trong cùng một tòa nhà, từ chạm nổi, chạm lộng tới tạc tượng tròn, và không mảng nào lặp lại mảng nào. Muốn xem cho kỹ, quý vị nên đi vòng quanh bộ khung theo tầng chứ đừng đứng một chỗ nhìn tổng thể, vì hơn một nghìn ba trăm chi tiết không bày ra cùng lúc cho một điểm nhìn nào.
Về tên chữ Hán, chúng tôi ghi ba chữ đọc theo địa danh, đây là chữ do chúng tôi suy ra chứ không phải chép từ hoành phi hay bảng cổng. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Đặt bản đồ ra mà xem thì cách chọn hướng ở đây lộ ngay. Đình quay mặt về phía tây nam. Về phía tây nam của làng là dãy núi Ba Vì, tức ngọn núi của chính vị thần được thờ. Còn sông Hồng thì chảy ở phía đông bắc, tức sau lưng đình.
Sách phong thủy cổ truyền chuộng thế tựa sơn hướng thủy, lưng dựa núi, mặt nhìn nước. Ở đây làng làm ngược lại: lưng quay về phía sông, mặt hướng về phía núi. Theo cách đọc của chúng tôi, đó không phải một sơ suất mà là một lựa chọn có lý của nó. Khi vị thần được thờ chính là thần của ngọn núi, thì ngọn núi không còn đóng vai chỗ tựa nữa mà đóng vai đối tượng của cái nhìn. Mỗi lần mở cửa đình là mỗi lần nhìn thẳng vào nơi ngự của thần. Thế đất chiều theo nội dung thờ tự, chứ không bắt nội dung thờ tự chiều theo sách.
Mất thế tựa núi thì bù bằng gì. Đó là chỗ để giải thích hồ bán nguyệt nằm ngay trước nghi môn. Trong phép cũ, mặt nước trước cửa là minh đường, giữ khí không cho tán thẳng ra ngoài. Ở những làng có sông lớn trước mặt thì không cần đào hồ, còn ở đây sông nằm sau lưng nên làng phải tự tạo lấy một mặt nước ở phía trước. Cái hồ nhỏ ấy làm đúng việc mà dòng sông lớn không làm được vì đứng sai phía.
Thứ ba là nghi môn trụ biểu. Lối cổng này không phải cổng có mái mà là bốn cây cột trụ dựng đứng, hai cao hai thấp. Đọc theo lối cũ, trụ biểu là cột mốc cắm xuống đất để đánh dấu ranh giới giữa phần đất thường và phần đất thờ, đồng thời làm nên một khung cửa không có cánh. Đình để trống bốn bề, cổng cũng để trống, cả khu đất vì thế thông gió và thông khí từ ngoài vào trong, không có chỗ nào bị chặn.
Sau cùng là cách đặt đình trong làng. Đình không đứng lẻ trên một gò cao tách khỏi xóm mà nằm trong lòng khu dân cư, có sân rộng và giếng nước trong khuôn viên. Giếng ở đây không chỉ để dùng. Theo lối nghĩ cổ truyền, một khuôn viên thờ tự có mạch nước ngầm ngay trong đất là khuôn viên có long mạch tại chỗ, không phải đi mượn của nơi khác.
VHội Đình Tháng Giêng
Kỳ hội của đình mở vào tháng Giêng, trùng mùa với cả hệ thống lễ hội thờ Tản Viên Sơn Thánh quanh chân núi Ba Vì. Phần lễ giữ theo lệ cũ của làng, phần hội là các trò diễn quen thuộc của xứ Đoài.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 10 tháng Giêng | Khai hội | Mở cửa đình, dâng hương và tuyên đọc thần tích tam vị Đức Thánh Tản trước sự có mặt của các giáp trong làng. |
| Mùng 10 tới rằm tháng Giêng | Kỳ hội chính | Các ngày tế và dâng lễ nối nhau, đội tế của làng đảm nhiệm phần lễ trọng tại tòa đại đình. |
| Trong kỳ hội | Phần hội | Kéo co, múa lân, hát và các trò diễn dân gian của xứ Đoài, tổ chức trên sân đình và khu đất trước hồ bán nguyệt. |
| Năm năm một lần | Đại hội | Theo lệ làng, kỳ đại hội mở cách quãng nhiều năm một lần với quy mô rước và tế đầy đủ hơn các năm thường. Tài liệu địa phương ghi chu kỳ là năm năm. |
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Lễ sóc vọng | Lệ dâng hương thường kỳ, không có rước, do ban khánh tiết của làng đảm nhiệm. |
Xin ghi thẳng một điều. Các bản tin mùa hội gần đây thường gộp hội đình với lễ hội Tản Viên Sơn Thánh của cả vùng, vốn cũng mở vào tháng Giêng và có quy mô rộng hơn phạm vi một làng. Hai việc không phải một: hội đình là lễ của làng Tây Đằng tại ngôi đình của mình, còn lễ hội vùng là việc chung của nhiều xã quanh chân núi. Chúng tôi chỉ ghi phần thuộc về ngôi đình.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thị trấn Tây Đằng cũ, huyện Ba Vì, nay là xã Quảng Oai, Hà Nội
- Đường tới
- Đình nằm ở xã Quảng Oai, Hà Nội, thuộc địa bàn thị trấn Tây Đằng cũ của huyện Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội chừng năm mươi cây số về phía tây. Nhìn từ sân đình thấy dãy núi Ba Vì.
- Toạ độ
- 21.1964, 105.4211
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào lòng đình, đi nhẹ nói khẽ, tuyệt đối không tì tay, không dựa lưng và không dùng vật cứng chạm vào các cấu kiện chạm, vì gỗ mít đã gần năm trăm năm tuổi. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Muốn xem kỹ mảng chạm thì đứng lùi lại và nhìn theo tầng.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Tây Đằng
Contribute photos, information or video for Tay Dang Communal HouseThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Tây Đằng thờ ai
Thờ ba vị thành hoàng là Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn và Quý Minh, quen gọi là tam vị Đức Thánh Tản. Cả ba gắn với dãy núi Ba Vì ngay trước mặt làng. Đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.
Đình Tây Đằng có từ bao giờ
Đình dựng thời Mạc, thế kỷ 16, niên đại này được đối chiếu bằng phương pháp các bon phóng xạ chứ không chỉ dựa vào phong cách chạm khắc. Một số tài liệu ghi năm cụ thể là 1531, các tài liệu khác chỉ ghi chung là thế kỷ 16.
Vì sao gọi là đệ nhất đình Đoài
Vì đình được xếp vào hàng đầu trong các đình của xứ Đoài, tức vùng phía tây Hà Nội hôm nay, xét về niên đại sớm và về giá trị của hơn một nghìn ba trăm mảng chạm còn giữ được. Đây là cách gọi dân gian và của giới nghiên cứu, không phải một danh hiệu hành chính.
Mảng chạm ở đình Tây Đằng có gì đặc biệt
Chúng được xếp theo tầng: trên nóc là rồng trong lá đề và thần tiên, đầu cột là tượng tròn các vị tiên, tầng giữa là cảnh tiên giới, xuống thấp là cảnh đời thường như đấu vật, chèo thuyền, đốn củi, mẹ gánh con. Không mảng nào lặp lại mảng nào.
Đình Tây Đằng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm nào
Năm 2013, theo quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2013, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. Đợt tu bổ lớn gần nhất diễn ra đầu những năm 2000, tài liệu ghi thời gian cụ thể không thống nhất.