VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Hát Môn

Đền Hai Bà Trưng Hát Môn

Ngôi đền cổ nhất trong hệ thống thờ Hai Bà Trưng, dựng bên cửa sông Hát, nơi có đàn Thề và một nếp thờ lấy màu đen làm chủ.

Sắc phong
22 đạo
thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn
Hiện vật
khoảng 293
gỗ, đá, đồng, gốm và kim loại, thời Lê tới Nguyễn
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2383 ngày 9 tháng 12 năm 2013

Vào tới sân đền, điều đầu tiên quý vị nhận ra không phải quy mô mà là màu sắc. Hương án, khám thờ, hoành phi, câu đối ở đây đều sơn đen chứ không sơn son thếp vàng như hầu hết đền miếu Bắc Bộ. Người trong làng không mặc áo đỏ khi vào đền, không đội khăn đỏ, không cài hoa đỏ. Một ngôi đền lớn mà không có sắc đỏ nào là điều hiếm gặp đến mức khiến người mới tới phải dừng lại.

Lý do nằm ở vai mà nơi này giữ. Đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng, và theo thần tích, chính bên khúc sông trước mặt là nơi Hai Bà lập đàn thề trước khi dựng cờ, rồi cũng là nơi Hai Bà gieo mình. Đây là một ngôi đền được dựng quanh một lời thề và một cái chết, nên toàn bộ nếp thờ ở đây mang giọng tưởng niệm chứ không mang giọng mừng công.

IHai Bà Trưng Trong Vai Người Thề Và Người Đi

Vị được thờ là Trưng TrắcTrưng Nhị, hai chị em người đất Mê Linh, sống ở đầu Công nguyên. Đền còn một tên gọi cổ nữa là đền Quốc Tế, chữ quốc tế ở đây theo nghĩa cũ là lễ tế do nhà nước đứng ra làm, chứ không mang nghĩa như cách dùng ngày nay. Chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ địa danh Hát Môn, tức cửa sông Hát, không phải chữ chép lại từ hoành phi trong đền.

Theo giáo nghĩa

Cả nước có nhiều nơi thờ Hai Bà, và điều đáng chú ý là các nơi ấy không thờ một hình ảnh giống nhau. Mỗi cửa đền giữ một vai, và vai ấy quy định lễ tiết, đồ thờ, thậm chí màu sắc trong đền.

Ở Hát Môn, hai bà được thờ trong vai người lập lời thềngười giữ trọn lời thề ấy đến cùng. Không phải vai vua, không phải vai người cai trị. Vì vậy hiện vật trung tâm của đền không phải ngai vàng hay ấn tín mà là đàn Thề, và ngày lễ lớn nhất trong năm không phải ngày lên ngôi mà là ngày mất. Ở đền Hai Bà Trưng trên đất Mê Linh thì ngược lại, hai bà được thờ trong vai vua, và mọi thứ ở đó xếp theo vai ấy. Xin quý vị đọc trang riêng của đền Mê Linh để thấy đủ mặt kia.

Theo sử liệu

Theo tư liệu di tích, vùng cửa sông Hát là nơi Hai Bà tụ họp lực lượng sau khi rời đất Phong Châu, và là nơi lập đàn tế cáo trời đất trước khi khởi sự vào năm 40. Ba năm sau, khi thế cuộc xoay chiều, hai bà trở lại chính khúc sông này. Sử sách và truyền tụng dân gian chép về đoạn kết ấy không hoàn toàn giống nhau, nhưng nếp thờ ở Hát Môn thì dứt khoát theo một bản: hai bà tuẫn tiết ở đây, và đền lập trên chính chỗ ấy.

Năm lập đền không có văn bản nào cho biết chắc chắn. Truyền tụng nói đền có ngay sau năm 43, và đây được coi là ngôi đền cổ nhất trong hệ thống thờ Hai Bà, nhưng đó là suy ra từ truyền thuyết chứ không phải từ bia ký. Những gì còn sờ được thì trẻ hơn rất nhiều: bộ sắc phong thuộc thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn, còn nghi môn hiện thấy thuộc lớp thời Nguyễn.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm ở cửa đền này là tục kiêng màu đỏ. Nhiều người nghe qua rồi giải thích rằng đỏ là màu vui nên phải kiêng ở nơi có tang. Cách hiểu ấy không sai hoàn toàn nhưng chưa đúng với lời của chính người làng.

Theo lệ truyền trong vùng, màu đỏ bị kiêng vì nó gợi tới máu của ngày cuối cùng. Vì vậy việc kiêng không dừng ở quần áo người đi lễ mà thấm vào toàn bộ đồ thờ: hương án, khám, hoành phi, câu đối đều sơn đen. Đây không phải một kiêng kỵ kiểu phong tục chung chung mà là một lựa chọn tạo hình có chủ ý, và nó khiến đền Hát Môn trở thành một trong số rất ít di tích Bắc Bộ mà bảng màu nội thất nói thẳng ra nội dung được thờ.

Một chỗ nữa cũng hay nhầm: người ta quen nghĩ đền nào thờ Hai Bà cũng như đền nào. Thực ra Hát Môn, Mê Linh và các nơi thờ khác giữ những vai khác nhau, mở hội vào những ngày khác nhau, và có những tục kiêng khác nhau. Trùng vị thờ không có nghĩa là trùng nếp thờ.

IINgôi Đền Cổ Nhất Của Hệ Thống Thờ Hai Bà

Lịch sử ở đây chia làm hai phần rất lệch nhau. Phần thứ nhất là lớp thần tích thuộc thế kỷ thứ nhất, không có hiện vật đi kèm. Phần thứ hai là lớp vật chất còn lại, bắt đầu từ thời Lê và dày lên dần qua thời Nguyễn. Giữa hai phần ấy là một khoảng trống hơn một nghìn năm mà tư liệu không nói được gì chắc chắn.

  • Năm 40Lập đàn thề bên cửa sông Hát
    Theo thần tích, Hai Bà lập đàn tế cáo trời đất tại đây trước khi dựng cờ. Chỗ ấy về sau thành đàn Thề, hạng mục trung tâm về mặt ý nghĩa của khu đền.
  • Năm 43Hai Bà tuẫn tiết
    Theo bản được nếp thờ ở đây giữ, hai bà trở lại khúc sông này và gieo mình. Ngày mùng sáu tháng Ba âm lịch được lấy làm ngày tưởng niệm và là kỳ lễ lớn nhất trong năm.
  • Sau năm 43Tương truyền lập đền
    Truyền tụng nói đền được lập ngay sau đó, và đây được coi là ngôi đền cổ nhất trong hệ thống thờ Hai Bà. Không có văn bản đương thời xác nhận niên đại này.
  • Thời LêLớp sắc phong sớm nhất
    Bộ sắc phong của đền bắt đầu từ lớp thời Lê, nối tiếp qua thời Tây Sơn và thời Nguyễn.
  • Thời NguyễnDựng nghi môn và định hình mặt bằng
    Nghi môn hiện thấy thuộc lớp thời Nguyễn, trên có đắp rồng và tứ linh. Bố cục các hạng mục thấy hôm nay phần lớn định hình trong giai đoạn này.
  • 2013Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử đền Hát Môn được xếp hạng theo Quyết định số 2383 ký ngày 9 tháng 12 năm 2013.
  • 2016Lễ hội vào danh mục di sản quốc gia
    Lễ hội đền Hát Môn được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đón nhận bằng công nhận trong năm này.
Theo sử liệu

Về khối hiện vật, tư liệu di tích ghi đền còn khoảng 293 hiện vật bằng gỗ, đá, đồng, gốm và kim loại, niên đại trải từ thời Lê qua Tây Sơn tới Nguyễn. Riêng bộ sắc phong thì các nguồn ghi vênh nhau: tài liệu của cơ quan quản lý văn hóa thành phố ghi hai mươi hai đạo, trong khi một số bài giới thiệu nêu con số khác. Chúng tôi chưa tra được bản kiểm kê nào nói dứt điểm nên ghi theo con số của tài liệu quản lý và nói rõ rằng có nguồn ghi khác.

IIIĐàn Thề, Quán Tiên Và Nếp Nhà Sơn Đen

Các hạng mục của đền quay về hướng tây nam, tức quay về phía sông. Mặt bằng không gói gọn trong một khuôn viên kín mà trải ra thành một chuỗi điểm, trong đó có những điểm không phải nhà cửa mà chỉ là một gò đất hoặc một cụm trụ đá. Muốn đọc đúng nơi này thì phải đọc cả những điểm ấy, vì chính chúng mang nội dung.

Quán Tiên

Một nếp nhà nhỏ xây gạch, dựng để nhớ người bán bánh trôi bên đường đã dâng bánh cho Hai Bà. Đây là gốc tích của tục dâng bánh Thánh trong hội.

Miếu Tạm ngự

Ngôi miếu nhỏ, theo lệ là nơi rước tượng và đồ thờ tới tạm đặt trong mùa nước lớn hằng năm. Một hạng mục sinh ra từ chính địa hình vùng ven sông.

Đàn Thề

Nơi tương truyền Hai Bà lập đàn tế cáo trời đất trước khi dựng cờ. Trên đàn có trụ đá khắc lời thề. Đây là hạng mục mang nội dung nặng nhất của cả khu đền.

Nghi môn

Cổng ngoài thuộc lớp thời Nguyễn, trên đắp rồng và tứ linh. Đây là hạng mục cho thấy rõ nhất tay nghề trang trí của thợ thời Nguyễn trong khu đền.

Nhà đại bái

Lớp nhà lớn nhất, bộ chạm gỗ lấy đề tài rồng và tứ linh. Toàn bộ hương án và đồ thờ trong nhà đều sơn đen theo lệ kiêng màu đỏ.

Hậu cung

Lớp trong cùng, đặt tượng thờ hai bà. Đồ thờ trong hậu cung theo lệ bày thành từng cặp, ứng với hai vị được thờ.

Nhà bia và gò Giấu Ấn

Nhà bia đặt bia đá của các đợt trùng tu. Gò Giấu Ấn là một gò đất trong khuôn viên, gắn với lệ truyền trong vùng, không có công trình xây dựng trên đó.

Điểm làm giới nghiên cứu chú ý ở đền này không phải quy mô bộ khung gỗ mà là hệ thống sơn thếp. Ở hầu hết đền miếu Bắc Bộ, đồ thờ sơn son thếp vàng, đỏ là màu nền và vàng là màu điểm. Ở Hát Môn, nền là đen, và vàng chỉ dùng rất tiết chế cho chữ. Toàn bộ hiệu quả thị giác vì thế đảo ngược: không gian trầm hẳn xuống, chữ trên hoành phi nổi rõ hơn, và người bước vào bị buộc phải đi chậm lại. Đây là một trường hợp hiếm mà một kiêng kỵ tín ngưỡng để lại dấu trực tiếp trên nghề sơn.

Quanh đền còn giữ được nhiều cây cổ thụ, tán che kín sân, góp thêm vào cái vẻ trầm mặc ấy. Khu đền cũng vì thế mà giữ được nhiệt độ và ánh sáng riêng, khác hẳn những di tích đã bị phát quang hết bóng cây.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chỗ này không được chọn theo phép xem đất. Đền đứng ở đây vì thần tích nói việc đã xảy ra ở đây, và mọi kiến giải phong thủy phải bắt đầu bằng việc thừa nhận điều đó. Nhưng chính vì thế mà thế đất Hát Môn lại đáng đọc hơn nhiều nơi được chọn kỹ: nó cho thấy người xưa xoay xở ra sao khi đất đã định sẵn mà không được đổi.

Yếu tố chi phối tất cả là nước. Đền nằm bên cửa sông Hát, tức chỗ một dòng chảy đổ vào dòng lớn. Trong phép xem đất, một điểm hợp lưu là chỗ nhiều mạch nước đổ về một mối, và theo lối đọc cũ thì đó là chỗ tụ khí mạnh. Đền quay hướng tây nam, tức quay mặt ra phía nước, lấy trọn khúc sông làm minh đường. Xét riêng về hình thế thì đây là một thế minh đường rộng và thoáng, thuộc loại tốt theo sách vở.

Nhưng ở đây có một lớp nghĩa mà sách phong thủy không bàn tới, và nó mới là điều đáng nói. Chính khúc nước làm minh đường ấy cũng là khúc nước gắn với đoạn kết của hai vị được thờ. Đền không quay lưng lại chỗ ấy để tránh, cũng không dựng bình phong che đi, mà quay thẳng mặt vào. Đọc theo lối cổ truyền, đó là cách đặt chỗ mất vào đúng vị trí trang trọng nhất của mặt bằng, biến nơi đau nhất thành nơi được nhìn thẳng mỗi ngày. Một ngôi đền tưởng niệm dựng theo cách ấy thì cái hướng không còn là chuyện đón gió lành, mà là một tuyên bố.

Vùng này là đất bãi ven sông, mùa nước lên thì ngập, và mặt bằng đền phản ánh điều đó rất thật thà. Có hẳn một hạng mục sinh ra để đối phó với nước là miếu Tạm ngự, nơi rước đồ thờ tới đặt tạm khi nước lớn. Trong phép xem đất cổ truyền, người ta thường tìm chỗ cao ráo để tránh thủy tai. Ở đây thì ngược lại: chỗ thờ buộc phải ở nơi có thể ngập, nên thay vì dời đền, người làng dựng thêm một chỗ lui tạm rồi giữ lệ ấy thành nếp. Đó là một cách ứng xử với đất mà thư viện cho là đáng ghi lại, vì nó cho thấy phong thủy trong đời sống thật không phải lúc nào cũng là chọn đất, nhiều khi chỉ là chịu lấy đất rồi tìm cách sống với nó.

VBa Kỳ Lễ Và Tục Dâng Bánh Thánh

Khác với phần lớn đền miếu chỉ có một kỳ hội chính, đền Hát Môn giữ ba kỳ lễ trong một năm, nằm ở ba mùa khác nhau. Ba kỳ ấy không phải ba lần lặp lại cùng một nghi thức, mà mỗi kỳ có nội dung riêng và có lối làm riêng.

Ba kỳ lễ chính và hai lệ kiêng gắn liền với nếp thờ của đền. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đền Hát Môn và tư liệu giới thiệu di tích của cơ quan quản lý văn hóa..
Ngày âm lịchKỳ lễNội dung
Mùng 4 tới mùng 6 tháng BaĐại lễ tưởng niệmKỳ lễ lớn nhất trong năm, ngày trọng nhất là mùng sáu. Trọng tâm là đại lễ dâng bánh trôi lên Hai Bà, kèm lễ rước và tế.
Mùng 4 tháng ChínKỳ lễ mùa thuKỳ lễ thứ hai trong năm, có tế lễ và trò múa cờ. Các nguồn ghi ý nghĩa của ngày này khác nhau, chi tiết nêu ngay dưới bảng.
Ngày 24 tháng ChạpLễ mộc dụcLễ tắm tượng cuối năm. Theo lệ, các cô gái trong làng được chọn làm người rước và hầu trong nghi thức này, xong thì rước về đền làm lễ khép lại.
Từ Tết tới mùng 6 tháng BaLệ kiêng bánh trôiTrong khoảng ấy người làng kiêng ăn bánh trôi, để dành thứ bánh này cho ngày dâng lên Hai Bà.
Quanh nămLệ kiêng màu đỏKhông mặc áo đỏ, không đội khăn đỏ khi vào đền. Đồ thờ trong đền sơn đen chứ không sơn son.

Nghi thức đáng chú ý nhất là đại lễ dâng bánh trôi. Bánh làm bằng nếp cái hoa vàng loại chọn, nước lấy từ giếng trong làng mà dân gọi là giếng thiêng, người làm bánh phải giữ mình theo lệ trước đó. Bánh làm xong được gọi là bánh Thánh. Theo lệ truyền, mâm bánh dâng gồm một trăm viên nhỏ, sau khi tế xong thì một phần được đặt lên lá và thả xuống sông, phần còn lại chia làm lộc. Con số cụ thể của phần thả xuống sông được các nguồn ghi không giống nhau, có nguồn nêu bốn mươi chín viên, nên chúng tôi ghi theo cách ấy và nói rõ rằng đây là con số của một nguồn chứ không phải con số thống nhất.

Theo sử liệu

Về ý nghĩa của ngày mùng bốn tháng Chín, các nguồn ghi vênh nhau và chúng tôi ghi cả hai. Một số tài liệu nói đây là ngày kỷ niệm việc Hai Bà phất cờ và hội quân. Một số tài liệu khác nói đây là ngày khao quân, và gắn ngày này với trò múa cờ trong hội. Hai cách ghi này không loại trừ nhau, có thể là hai lớp giải thích chồng lên cùng một ngày lễ cũ, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm.

Phần hội của kỳ lễ tháng Ba giữ các trò quen của vùng xứ Đoài như kéo co, cờ người và hát quan họ. Cần lưu ý rằng ngay trong phần hội, lệ kiêng màu đỏ vẫn được giữ, nên quang cảnh hội ở đây khác hẳn không khí đỏ rực thường thấy ở hội làng Bắc Bộ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Hát Môn cũ, huyện Phúc Thọ, nay là xã Hát Môn, Hà Nội
Đường tới
Đền nằm ở xã Hát Môn, bên cửa sông Hát, cách trung tâm Hà Nội chừng ba mươi cây số về phía tây bắc. Khu đền trải thành một chuỗi hạng mục nên đi bộ trong khuôn viên là cách duy nhất để xem hết.
Toạ độ
21.1295, 105.6119
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và có lệ kiêng riêng rất rõ, nên xin quý vị lưu ý trước khi vào: không mặc áo đỏ, không đội khăn đỏ, không mang hoa đỏ vào đền. Ngoài ra là các lệ chung: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào trụ đá ở đàn Thề và các đồ thờ sơn đen, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Người làng còn giữ lệ kiêng ăn bánh trôi từ Tết tới ngày mùng sáu tháng Ba.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Hát Môn

Contribute photos, information or video for Hat Mon Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Hát Môn thờ ai

Thờ Hai Bà Trưng, tức Trưng Trắc và Trưng Nhị. Ở đây hai bà được thờ trong vai người lập đàn thề trước khi dựng cờ và người tuẫn tiết bên sông Hát, khác với đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh thờ trong vai vua. Đền còn một tên gọi cổ là đền Quốc Tế.

Vì sao đền Hát Môn kiêng màu đỏ

Theo lệ truyền trong vùng, màu đỏ gợi tới máu của ngày cuối cùng nên bị kiêng. Việc kiêng không dừng ở quần áo người đi lễ mà thấm vào cả đồ thờ: hương án, khám, hoành phi, câu đối trong đền đều sơn đen chứ không sơn son thếp vàng như phần lớn đền miếu Bắc Bộ.

Tục dâng bánh trôi ở đền Hát Môn có gốc từ đâu

Từ tích người bán bánh trôi bên đường đã dâng bánh cho Hai Bà, chỗ ấy nay là hạng mục quán Tiên trong khu đền. Bánh dâng gọi là bánh Thánh, làm bằng nếp cái hoa vàng loại chọn với nước lấy từ giếng thiêng trong làng. Người làng kiêng ăn bánh trôi từ Tết tới ngày mùng sáu tháng Ba.

Đền Hát Môn mở hội vào những ngày nào

Ba kỳ lễ trong năm. Kỳ lớn nhất từ mùng bốn tới mùng sáu tháng Ba âm lịch, ngày trọng nhất là mùng sáu, có đại lễ dâng bánh trôi. Kỳ thứ hai là mùng bốn tháng Chín. Kỳ thứ ba là ngày hai mươi tư tháng Chạp với lễ mộc dục, tức lễ tắm tượng cuối năm.

Đền Hát Môn và đền Hai Bà Trưng Mê Linh khác nhau thế nào

Hai nơi cùng thờ Trưng Trắc và Trưng Nhị nhưng giữ hai vai khác nhau. Hát Môn thờ trong vai người dựng cờ và người tuẫn tiết, lễ lớn nhất là ngày mất vào mùng sáu tháng Ba. Mê Linh thờ trong vai vua trên đất hai bà lên ngôi, lễ chính vào mùng sáu tháng Giêng.

Đọc Tiếp