Đền không đứng trên núi, không đứng bên sông lớn, cũng không có tam quan đồ sộ. Nó nằm ngay trong làng Trung Lập, giữa những nếp nhà và mảnh vườn, đi qua một cái cổng vừa phải là tới sân. Ba toà nhà gỗ nối nhau theo chữ công, mái lợp ngói mũi hài vẩy cong, cột lim to và sẫm màu, trên các cấu kiện gỗ chạm rồng.
Điều làm nơi này khác mọi đền vua khác nằm ở chỗ đứng. Đây không phải đền dựng ở kinh đô, cũng không phải lăng mộ. Đây là đền dựng trên đúng mảnh đất người được thờ sinh ra, do chính dân làng ấy lập từ khi ông vừa mất. Từ một cái miếu nhỏ, qua nghìn năm nó thành ngôi đền mà người xứ Thanh quen gọi là ngôi đền cổ bậc nhất vùng.
IVua Lê Đại Hành Trên Đất Quê Sinh
Vị được thờ là Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, người mở triều Tiền Lê, sống trong khoảng năm 941 tới năm 1005, mất tại điện Trường Xuân ở kinh đô cũ. Ông sinh tại làng Trung Lập, và chính vì thế mà vùng này được gọi là đất phát tích của nhà Tiền Lê.
Ba chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ tên húy của người được thờ, nghĩa là đền thờ Lê Hoàn, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích.
Đây là lối thờ nhân thần, cụ thể hơn là thờ một vị vua trên đất quê. Trong lệ cũ, một vị vua có thể được thờ ở nhiều chỗ với nhiều tư cách khác nhau, và mỗi tư cách kéo theo một lối bày và một lối lễ riêng.
Thờ ở kinh đô cũ là thờ theo tư cách người đứng đầu nước, với nghi lễ mang dáng cung đình. Thờ ở lăng mộ là thờ theo tư cách người đã khuất, trọng phần mộ và phần tế. Còn thờ ở quê sinh là thờ theo tư cách người con của làng, việc thờ do dân làng đảm nhận, lệ làng chi phối, nghi thức gần với lệ thờ thành hoàng hơn là lệ triều đình.
Đền Lê Hoàn ở Trung Lập thuộc loại thứ ba. Đó là lý do trong kỳ hội của đền, đám rước không đi giữa các cung điện mà đi vòng trong làng, qua đền thờ mẹ vua và qua lăng phần cha vua, tức đi đúng một vòng của một gia đình trong một xóm.
Thần tích của làng chép rằng thân mẫu của vua là bà Đặng Thị, và chuyện bà nằm mộng trước khi sinh ra ông được kể trong vùng qua nhiều đời, còn được khắc lại trên một trong hai tấm bia đá đầu thế kỷ 17. Đây là lớp thần tích, không phải sử biên niên. Giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy làng Trung Lập đã nhận vua làm người của làng mình sớm và chắc tới mức nào.
Phần thuộc về sử liệu rõ hơn là hệ văn bản còn tại đền: hai tấm bia dựng năm 1602 và năm 1626, cùng mười bốn đạo sắc phong trải từ năm 1674 tới năm 1887, cho biết nơi thờ này liên tục đứng trong sổ thờ tự chính thức suốt hơn hai trăm năm.
Chỗ hay lẫn nhất là lẫn hai ngôi đền cùng thờ một người. Trong khu Cố đô Hoa Lư có đền thờ vua Lê Đại Hành, đứng cạnh đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, và rất nhiều người nghe tên rồi tưởng đó cũng là ngôi đền đang nói ở đây. Không phải, đó là hai di tích khác nhau, ở hai tỉnh khác nhau, và thuộc hai tư cách thờ khác nhau.
Ngôi ở Hoa Lư là nơi thờ tại kinh đô cũ, gắn với nơi ông trị vì và nơi ông mất. Ngôi ở Trung Lập là nơi thờ trên quê sinh, gắn với nơi ông ra đời, do dân làng dựng và giữ. Người đi lễ theo lệ cũ trong vùng thường phân biệt rất rõ hai chỗ này, gọi nơi đây là đền Lê Hoàn hoặc đền vua Lê ở Trung Lập để khỏi lẫn.
Một chỗ nhỏ nữa dễ nhầm: Lê Hoàn của triều Tiền Lê không phải Lê Lợi của triều Hậu Lê. Hai người cách nhau hơn bốn trăm năm, cùng họ Lê và cùng gắn với đất Thanh Hóa.
IITừ Miếu Tre Lá Đến Ngôi Đền Gỗ Lim
Lịch sử nơi này đi theo một đường rất thẳng: dân làng dựng miếu ngay sau khi vua mất, các triều sau lần lượt mở rộng, và tới thời Lê Thánh Tông thì thành ngôi đền quy mô như còn thấy hôm nay. Không có đoạn dời chỗ, không có đoạn đổi vị thờ. Chính sự liên tục ấy làm nên cái mà người xứ Thanh gọi là ngôi đền cổ bậc nhất vùng.
- 1005Dân làng dựng miếu tre láNgay sau khi vua mất, dân làng Trung Lập dựng một ngôi miếu nhỏ bằng tre lá trên đất quê sinh của ông để thờ. Đây là lớp sớm nhất của di tích.
- Thời LýTrùng tu lần đầu được ghiCác tài liệu địa phương ghi ngôi miếu được trùng tu dưới thời Lý Thái Tổ, tức đầu thế kỷ 11, khi việc thờ các bậc tiền triều được các triều sau tiếp nối.
- Thời Hồng ĐứcMở thành đền quy môDưới niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, tức khoảng năm 1470 tới 1497, đền được xây dựng thành quy mô lớn như bố cục còn thấy hôm nay.
- 1602Dựng tấm bia thứ nhấtBia ghi lại việc triều đình cấp ruộng cho làng năm 1484 để lo việc thờ tự, tức cách nhà nước quân chủ bảo đảm nguồn lo lễ cho một nơi thờ. Đây là một trong hai tấm bia đầu thế kỷ 17 hiện còn tại đền.
- 1626Dựng tấm bia thứ haiBia chép công tích của vua Lê Đại Hành cùng truyền thuyết về thân mẫu ông là bà Đặng Thị. Hai tấm bia 1602 và 1626 là hệ văn bản gốc quan trọng nhất của di tích.
- 1674 tới 1887Mười bốn đạo sắc phongHệ sắc phong trải hơn hai trăm năm, cho thấy nơi thờ liên tục được các triều đại thừa nhận và ban sắc.
- 1921Tu sửa nghinh mônCổng nghinh môn ba gian hai chái với bốn vì kèo và mười hai cột gỗ được tu sửa trong năm này, theo ghi chép của tài liệu di tích.
- 2018Di tích quốc gia đặc biệtSau khi được công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1990, di tích kiến trúc nghệ thuật đền thờ Lê Hoàn được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1820 ký ngày 24 tháng 12 năm 2018.
Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin ghi cả hai thay vì chọn bừa.
Kiểu bố cục và số gian. Phần lớn tài liệu mô tả đền theo lối chữ công, gồm ba toà liền kề là tiền đường, trung đường và hậu cung, tổng cộng mười ba gian. Một số bài khảo tả lại dùng chữ nội công ngoại quốc, tức chữ công ở lõi và các dãy nhà bọc quanh thành khung ngoài. Hai cách ghi này khác nhau ở chỗ có tính hay không tính các dãy bao.
Tượng vua hay bức họa. Một số tài liệu nhắc tới tượng vua đặt trong đền, trong khi các bài khảo tả hiện vật lại nêu một bức họa chân dung vua Lê Đại Hành, tương truyền do thợ vẽ người Trung Hoa thực hiện. Chúng tôi chưa tra được hồ sơ hiện vật nào nói dứt điểm, nên nêu cả hai.
IIIBa Toà Gỗ Lim Và Hệ Hiện Vật
Đền làm hoàn toàn bằng gỗ lim, ba toà nối nhau theo chữ công, mái lợp ngói mũi hài với các góc vẩy cong. Điều đáng nói là quy mô của nó khiêm tốn so với tầm vóc của người được thờ. Không có sân lớp lớp, không có hồ bán nguyệt, không có rừng bia. Đây trước sau vẫn là quy mô của một ngôi đền làng, chỉ khác ở chỗ ngôi đền làng ấy được làm bằng thứ gỗ tốt nhất và được giữ suốt nhiều thế kỷ.
Cổng đón, ba gian hai chái, bốn vì kèo và mười hai cột gỗ, được tu sửa năm 1921. Đây là lớp mở đầu của khuôn viên trước khi vào sân đền.
Toà ngoài cùng trong ba toà chữ công, nơi tiến hành phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày và là chỗ đứng của đoàn tế trong kỳ hội.
Toà giữa, nối tiền đường với hậu cung. Đây là chỗ đặt hệ hương án và hoành phi câu đối chính của đền.
Toà trong cùng, chỗ đặt ban thờ trọng nhất. Không gian hẹp và tối hơn hai toà ngoài, theo đúng lối phân lớp sáng tối quen thuộc của đền miếu Bắc Trung Bộ.
Bia dựng năm 1602 ghi việc cấp ruộng cho làng năm 1484, bia dựng năm 1626 chép công tích của vua và truyền thuyết về bà Đặng Thị. Đây là hệ văn bản gốc của di tích.
Các cấu kiện gỗ chạm rồng, dùng đủ ba lối chạm thủng, chạm nổi và chạm bong, tạo thành các mảng dày trên vì kèo và cửa võng.
Về hiện vật, đền giữ một nhóm đồ gắn liền với truyền thuyết quanh vua. Có đôi đũa mà theo truyền tụng vua dùng để thử độc trước mỗi bữa, tài liệu ghi làm bằng hợp kim và có nơi ghi là đũa bạc. Có ba chiếc chén bạc dùng cùng bộ. Có một đĩa đá trắng khắc chữ Hán, đường kính khoảng 36 phân, được xác định thuộc giai đoạn khoảng năm 981 tới 1005. Vì lo mất mát, đĩa đá được đưa về bảo quản tại trụ sở chính quyền xã chứ không bày thường xuyên tại đền.
Xin nói rõ một câu về nội dung tấm bia 1626. Bia chép công tích của vua theo lối văn bia thời Lê, tức lối kể tóm tắt và tôn xưng. Thư viện chỉ nêu bia có nội dung ấy để quý vị biết giá trị văn bản của nó, còn phần diễn biến thì không thuộc phạm vi của trang này.
Nhìn chung, giá trị của đền Lê Hoàn không nằm ở quy mô mà nằm ở tính liên tục. Một bộ khung gỗ định hình từ thế kỷ 15, hai tấm bia thế kỷ 17, một hệ sắc phong trải từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19, và một nhóm hiện vật được truyền là còn từ đời vua, tất cả cùng đứng trong một khuôn viên nhỏ. Với một ngôi đền làng ở vùng nhiều lụt bão, giữ được chừng ấy lớp là chuyện hiếm.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều cần nói trước tiên: mảnh đất này không được chọn. Nó được nhận. Người xưa dựng đền ở đây không vì tìm ra một thế đất hay mà vì đây đúng là chỗ người được thờ sinh ra. Trong phép xem đất cổ truyền, đó là loại lý do đứng trên mọi lý do về hình thế, và lối cũ gọi là đất phát tích. Đất phát tích không cần đẹp, chỉ cần đúng.
Xét về hình thế, làng Trung Lập nằm trong vùng đồng bằng sông Chu thuộc đất Thọ Xuân cũ, đất bằng, không núi để làm hậu chẩm, không gò lớn để làm án. Gặp địa hình này, phép địa lý cổ chuyển sang xem thủy và xem vị trí trong làng. Điểm đáng chú ý là đền không đứng ở rìa làng như nhiều đền vua khác mà đứng giữa làng, xen giữa nhà cửa và vườn tược. Đọc theo lối cổ truyền, một nơi thờ đặt ở lõi khu dân cư là nơi thờ thuộc về đời sống hằng ngày chứ không thuộc về nghi lễ nhà nước, và cách đặt ấy khớp đúng với tư cách thờ một người con của làng.
Chi tiết thứ hai là cụm ba điểm. Đền chính không đứng một mình. Trong cùng làng còn có nếp thờ dành cho thân mẫu vua, quen gọi là đền Quốc Mẫu, và phần lăng dành cho thân phụ vua, quen gọi là lăng Hoàng Khảo. Ba điểm ấy nối với nhau bằng đường rước trong ngày hội. Đọc theo phong thủy thì đây không phải ba di tích rời mà là một trục ký ức chạy trong lòng làng: chỗ cha, chỗ mẹ, chỗ con, và cuộc rước mỗi năm một lần là việc nối lại cái trục ấy bằng bước chân người sống.
Sau cùng là khối gỗ lim. Theo lối nghĩ cũ thì vật liệu cũng là một phần của thế. Lim là gỗ nặng, chịu ẩm, chịu mối, để lâu càng sẫm. Chọn lim cho một ngôi đền ở vùng đồng bằng nhiều lụt là chọn theo nguyên tắc lấy bền chống biến. Nơi nào thế đất không có gì để tựa thì con người phải tự làm ra chỗ tựa, và ở Trung Lập chỗ tựa ấy là bộ khung gỗ.
VHội Tháng Ba Và Đường Rước Trong Làng
Kỳ hội lớn nhất trong năm mở vào tháng Ba âm lịch, gắn với ngày giỗ của vua. Phần lớn tài liệu ghi kỳ hội chính từ ngày mùng bảy tới ngày mùng chín, một số bài lại ghi hội kéo bốn ngày từ mùng sáu tới mùng chín. Chúng tôi nêu cả hai cách ghi.
Phần đáng xem nhất là đám rước. Đoàn rước khởi từ đền chính, mang cờ lộng và dàn binh khí, đi qua đền Quốc Mẫu rồi tới lăng Hoàng Khảo, tức đi trọn một vòng nối ba nơi thờ của một nhà. Đây là điểm làm hội đền Lê Hoàn khác các hội đền vua khác: đường rước không đi trong khu di tích mà đi trong lòng làng.
| Thời điểm âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Trước ngày mở hội | Lễ cáo yết | Nghi thức trình báo trước ban thờ, xin phép mở hội trước khi các phần lễ chính bắt đầu. |
| Ngày mùng 7 tháng Ba | Khai hội và dâng hương | Mở đầu kỳ hội, các thôn trong xã và khách thập phương lần lượt dâng hương trước ban thờ. |
| Ngày mùng 7 tới mùng 9 tháng Ba | Rước kiệu qua ba nơi thờ | Đoàn rước đi từ đền chính qua đền Quốc Mẫu tới lăng Hoàng Khảo, mang cờ lộng và dàn binh khí theo lệ cũ. |
| Ngày mùng 8 tháng Ba | Chính hội và đại tế | Ngày trọng nhất trong kỳ hội, gắn ngày giỗ của vua, có cung tuyên văn tế và đại tế trước ban thờ. |
| Trong hội | Trò Xuân Phả | Trình diễn điệu múa cổ của vùng Thọ Xuân, một trong những trò diễn xưa nhất còn giữ được ở xứ Thanh. |
| Trong hội | Pồn Pôông, nhảy sạp và cồng chiêng | Các tiết mục của cộng đồng người Mường trong vùng, cho thấy kỳ hội này quy tụ cả người Kinh lẫn người Mường. |
| Trong hội | Hội làm bánh và trò chơi dân gian | Cuộc thi gói bánh lá răng bừa cùng bánh gai tứ trụ, kèm các trò quen của hội làng Bắc Trung Bộ trên sân đền và bãi làng. |
Xin nói thêm một câu về bánh lá răng bừa. Đây là thứ bánh gói lá, dáng thuôn dài giống cái răng bừa, món quen của vùng Thọ Xuân cũ. Trong truyền tụng địa phương, bánh gắn với lệ vua đích thân xuống ruộng cày trong ngày đầu năm, và chiếc bánh lấy hình cái răng bừa là để nhớ việc ấy. Chuyện này thuộc lớp truyền tụng chứ không phải sử biên niên, nhưng nó giải thích vì sao trong một kỳ hội thờ vua lại có một cuộc thi gói bánh.
Một điểm nhân học đáng chú ý nữa: kỳ hội quy tụ cả tiết mục của người Kinh lẫn của người Mường trong vùng, với Pồn Pôông và cồng chiêng đứng cạnh trò Xuân Phả, điều phản ánh đúng cơ cấu dân cư của vùng đất này.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Trung Lập, xã Xuân Lập cũ, huyện Thọ Xuân, nay là xã Xuân Lập, tỉnh Thanh Hóa
- Đường tới
- Đền nằm ở làng Trung Lập, xã Xuân Lập, thuộc vùng Thọ Xuân cũ, tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa chừng vài chục cây số về phía tây. Đền Quốc Mẫu và lăng Hoàng Khảo nằm ngay trong cùng làng, nên đi ba nơi trong một chuyến là chuyện thường.
- Toạ độ
- 19.9739, 105.534
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trung đường và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào bia đá, cấu kiện gỗ chạm và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Một số hiện vật quý như chiếc đĩa đá không bày thường xuyên tại đền. Trong kỳ hội, đường rước đi trong làng, người dự thường nhường lối cho đoàn rước đi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ Lê Hoàn
Contribute photos, information or video for Le Hoan TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền thờ Lê Hoàn ở Thanh Hóa thờ ai
Thờ Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, người mở triều Tiền Lê, sống trong khoảng năm 941 tới năm 1005. Đền dựng trên chính quê sinh của ông ở làng Trung Lập, do dân làng lập ngay sau khi ông mất, nên đây là lối thờ một vị vua với tư cách người con của làng.
Đền thờ Lê Hoàn ở Thanh Hóa có phải đền vua Lê ở Hoa Lư không
Không. Đó là hai di tích khác nhau ở hai tỉnh khác nhau. Đền thờ vua Lê Đại Hành trong khu Cố đô Hoa Lư là nơi thờ tại kinh đô cũ, đứng cạnh đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Đền ở làng Trung Lập là nơi thờ trên quê sinh, do dân làng dựng và giữ.
Vì sao gọi đền Lê Hoàn là ngôi đền cổ bậc nhất xứ Thanh
Vì việc thờ ở đây liên tục từ năm 1005 tới nay mà không dời chỗ và không đổi vị thờ. Từ ngôi miếu tre lá dân làng dựng sau khi vua mất, đền được trùng tu thời Lý rồi mở thành quy mô lớn dưới niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, và bộ khung gỗ lim ấy còn đứng tới hôm nay.
Đền còn giữ những hiện vật gì đáng chú ý
Hai tấm bia đá dựng năm 1602 và năm 1626, mười bốn đạo sắc phong trải từ năm 1674 tới năm 1887, cùng một nhóm hiện vật gắn với truyền thuyết quanh vua gồm đôi đũa thử độc, ba chiếc chén bạc và một đĩa đá trắng khắc chữ Hán đường kính khoảng 36 phân. Chiếc đĩa đá hiện được bảo quản ở trụ sở chính quyền xã.
Lễ hội đền thờ Lê Hoàn vào ngày nào
Kỳ hội mở trong tháng Ba âm lịch, gắn ngày giỗ của vua. Phần lớn tài liệu ghi hội chính từ mùng bảy tới mùng chín, một số bài ghi hội kéo bốn ngày từ mùng sáu. Điểm đặc trưng là đám rước đi từ đền chính qua đền Quốc Mẫu tới lăng Hoàng Khảo, tức nối ba nơi thờ trong cùng một làng.