VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ Lê Hoàn

Đền Lê Hoàn, đền vua Lê Đại Hành

Ngôi đền dựng trên chính mảnh đất người được thờ sinh ra, nơi bộ khung gỗ và hai tấm bia đầu thế kỷ 17 vẫn còn đứng cùng nhau.

Khởi từ miếu làng
1005
dựng sau khi vua mất, mở rộng thành đền thời Hồng Đức
Hai bia đá
1602 và 1626
còn tại đền, ghi việc cấp 67 mẫu ruộng và công tích của vua
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018

Đền không đứng trên núi, không đứng bên sông lớn, cũng không có tam quan đồ sộ. Nó nằm ngay trong làng Trung Lập, giữa những nếp nhà và mảnh vườn, đi qua một cái cổng vừa phải là tới sân. Ba toà nhà gỗ nối nhau theo chữ công, mái lợp ngói mũi hài vẩy cong, cột lim to và sẫm màu, trên các cấu kiện gỗ chạm rồng.

Điều làm nơi này khác mọi đền vua khác nằm ở chỗ đứng. Đây không phải đền dựng ở kinh đô, cũng không phải lăng mộ. Đây là đền dựng trên đúng mảnh đất người được thờ sinh ra, do chính dân làng ấy lập từ khi ông vừa mất. Từ một cái miếu nhỏ, qua nghìn năm nó thành ngôi đền mà người xứ Thanh quen gọi là ngôi đền cổ bậc nhất vùng.

Đền thờ Lê Hoàn
Đền thờ Lê Hoàn. Ảnh: Nguoivuban, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IVua Lê Đại Hành Trên Đất Quê Sinh

Vị được thờ chính là Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, người mở triều Tiền Lê, sống trong khoảng năm 941 tới năm 1005, mất tại điện Trường Xuân ở kinh đô cũ. Ông sinh tại làng Trung Lập, và chính vì thế mà vùng này được gọi là đất phát tích của nhà Tiền Lê. Trong hậu cung, gian giữa đặt tượng vua Lê Hoàn bằng đồng, các ban phụ phối thờ thân mẫu là Thái hậu Đặng Thị, thân phụ là Trường Hưng Vương Lê Mịch, vua Lê Long Đĩnh và Hoàng hậu Dương Vân Nga ở chái tây, còn tiền đường và trung đường thờ hoàng tộc cùng các quan văn võ.

Ba chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ tên húy của người được thờ, nghĩa là đền thờ Lê Hoàn, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích.

Theo giáo nghĩa

Đây là lối thờ nhân thần, cụ thể hơn là thờ một vị vua trên đất quê. Trong lệ cũ, một vị vua có thể được thờ ở nhiều chỗ với nhiều tư cách khác nhau, và mỗi tư cách kéo theo một lối bày và một lối lễ riêng.

Thờ ở kinh đô cũ là thờ theo tư cách người đứng đầu nước, với nghi lễ mang dáng cung đình. Thờ ở lăng mộ là thờ theo tư cách người đã khuất, trọng phần mộ và phần tế. Còn thờ ở quê sinh là thờ theo tư cách người con của làng, việc thờ do dân làng đảm nhận, lệ làng chi phối, nghi thức gần với lệ thờ thành hoàng hơn là lệ triều đình.

Đền Lê Hoàn ở Trung Lập thuộc loại thứ ba. Đó là lý do trong kỳ hội của đền, đám rước không đi giữa các cung điện mà đi vòng trong làng, qua đền thờ mẹ vua và qua lăng phần cha vua, tức đi đúng một vòng của một gia đình trong một xóm.

Theo sử liệu

Thần tích của làng chép rằng thân mẫu của vua là bà Đặng Thị, thân phụ là ông Lê Mịch, và chuyện bà nằm mộng thấy hoa sen trước khi sinh ra vua được kể trong vùng qua nhiều đời, còn được khắc lại trên tấm bia đá năm 1626. Đây là lớp thần tích, không phải sử biên niên. Giá trị của nó nằm ở chỗ cho thấy làng Trung Lập đã nhận vua làm người của làng mình sớm và chắc tới mức nào.

Phần thuộc về sử liệu rõ hơn là hệ văn bản còn tại đền gồm hai tấm bia dựng năm 1602 và năm 1626, cùng mười bốn đạo sắc phong của các triều Lê và Nguyễn trải từ năm 1674 tới năm 1887, cho biết nơi thờ này liên tục đứng trong sổ thờ tự chính thức suốt hơn hai trăm năm.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay lẫn nhất là lẫn hai ngôi đền cùng thờ một người. Trong khu Cố đô Hoa Lư có đền thờ vua Lê Đại Hành, đứng cạnh đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, và rất nhiều người nghe tên rồi tưởng đó cũng là ngôi đền đang nói ở đây. Không phải, đó là hai di tích khác nhau, ở hai tỉnh khác nhau, và thuộc hai tư cách thờ khác nhau.

Ngôi ở Hoa Lư là nơi thờ tại kinh đô cũ, gắn với nơi ông trị vì và nơi ông mất. Ngôi ở Trung Lập là nơi thờ trên quê sinh, gắn với nơi ông ra đời, do dân làng dựng và giữ. Người đi lễ theo lệ cũ trong vùng thường phân biệt rất rõ hai chỗ này, gọi nơi đây là đền Lê Hoàn hoặc đền vua Lê ở Trung Lập để khỏi lẫn.

Một chỗ nhỏ nữa dễ nhầm là Lê Hoàn của triều Tiền Lê không phải Lê Lợi của triều Hậu Lê. Hai người cách nhau hơn bốn trăm năm, cùng họ Lê và cùng gắn với đất Thanh Hóa.

IITừ Miếu Tre Lá Đến Ngôi Đền Gỗ Lim

Lịch sử nơi này đi theo một đường rất thẳng, khi dân làng dựng miếu ngay sau khi vua mất, các triều sau lần lượt mở rộng, và tới thời Lê Thánh Tông thì thành ngôi đền quy mô như còn thấy hôm nay. Không có đoạn dời chỗ, không có đoạn đổi vị thờ. Chính sự liên tục ấy làm nên cái mà người xứ Thanh gọi là ngôi đền cổ bậc nhất vùng.

  • 1005Dân làng dựng miếu tre lá
    Ngay sau khi vua mất, dân làng Trung Lập dựng một ngôi miếu nhỏ bằng tre lá trên đất quê sinh của ông để thờ. Đây là lớp sớm nhất của di tích.
  • Thời LýTrùng tu lần đầu được ghi
    Các tài liệu địa phương ghi ngôi miếu được trùng tu dưới thời Lý Thái Tổ, tức đầu thế kỷ 11, khi việc thờ các bậc tiền triều được các triều sau tiếp nối.
  • Thời Hồng ĐứcMở thành đền quy mô và cấp ruộng thờ
    Dưới niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, khoảng năm 1470 tới 1497, đền được xây dựng thành quy mô lớn. Năm Hồng Đức thứ 15 tức năm 1484, triều đình chuẩn cấp 67 mẫu ruộng công cho làng để lo việc tế tự.
  • 1602Dựng tấm bia Hoàng Định thứ hai
    Tấm bia thứ nhất dựng năm Hoàng Định thứ 2 đời Lê Kính Tông, cao 1,22 mét và rộng 0,79 mét, ghi lại việc vua Lê Thánh Tông cấp 67 mẫu ruộng năm 1484 để bảo đảm nguồn hương đèn cho đền.
  • 1626Trùng tu đền và dựng bia Vĩnh Tộ thứ tám
    Tấm bia thứ hai dựng năm Vĩnh Tộ thứ 8 đời Lê Thần Tông nhân dịp trùng tu đền, cao 1,65 mét và rộng 1,17 mét, trán bia khắc dòng chữ Lê Đại Hành Hoàng đế điện miếu bi, chép truyền thuyết về bà Đặng Thị cùng công tích của vua.
  • 1674 tới 1887Mười bốn đạo sắc phong
    Hệ sắc phong của các triều Lê và Nguyễn trải hơn hai trăm năm, cho thấy nơi thờ liên tục được các triều đại thừa nhận và ban sắc.
  • 1921Tu sửa nghinh môn
    Cổng nghinh môn ba gian hai chái với bốn vì kèo và mười hai cột gỗ được tu sửa trong năm này, theo ghi chép của tài liệu di tích.
  • 2018 và 2023Di tích quốc gia đặc biệt và di sản phi vật thể
    Sau khi được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1990, đền thờ Lê Hoàn được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1820 ký ngày 24 tháng 12 năm 2018. Tháng 3 năm 2023, lễ hội đền thờ Lê Hoàn được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi khác nhau, xin ghi cả hai để người đọc tiện đối chiếu.

Kiểu bố cục và số gian. Phần lớn tài liệu mô tả đền theo lối chữ công, gồm ba toà liền kề là tiền đường, trung đường và hậu cung, tổng cộng mười ba gian. Một số bài khảo tả lại dùng chữ nội công ngoại quốc, tức chữ công ở lõi và các dãy nhà bọc quanh thành khung ngoài. Hai cách ghi này khác nhau ở chỗ có tính hay không tính các dãy bao.

Tượng đồng và bức họa chân dung. Các bài khảo tả của báo Thanh Hóa, VnExpress và Dân Trí đều ghi rõ gian giữa hậu cung đặt tượng vua Lê Hoàn bằng đồng. Trong khi đó, một số bài giới thiệu tổng hợp lại nhắc tới một bức họa chân dung vua Lê Đại Hành tương truyền do họa sĩ người Trung Hoa vẽ. Thư viện ghi nhận cả hai chi tiết theo đúng từng nguồn.

IIIBa Toà Gỗ Lim Và Hệ Hiện Vật

Đền làm hoàn toàn bằng gỗ lim, ba toà nối nhau theo chữ công, mái lợp ngói mũi hài với các góc vẩy cong. Điều đáng nói là quy mô của nó khiêm tốn so với tầm vóc của người được thờ. Không có sân lớp lớp, không có hồ bán nguyệt, không có rừng bia. Đây trước sau vẫn là quy mô của một ngôi đền làng, chỉ khác ở chỗ ngôi đền làng ấy được làm bằng thứ gỗ tốt nhất và được giữ suốt nhiều thế kỷ.

Nghinh môn

Cổng đón, ba gian hai chái, bốn vì kèo và mười hai cột gỗ, được tu sửa năm 1921. Đây là lớp mở đầu của khuôn viên trước khi vào sân đền.

Tiền đường

Toà ngoài cùng gồm năm gian trong ba toà chữ công, nơi tiến hành phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày, phối thờ hoàng tộc cùng các quan văn võ.

Trung đường

Toà giữa gồm năm gian, nối tiền đường với hậu cung. Đây là chỗ đặt hệ hương án và hoành phi câu đối chính của đền.

Hậu cung

Toà trong cùng gồm ba gian, không gian hẹp và thâm nghiêm hơn hai toà ngoài. Gian giữa đặt tượng đồng vua Lê Hoàn, các ban phụ thờ Thái hậu Đặng Thị, Trường Hưng Vương Lê Mịch, vua Lê Long Đĩnh và Hoàng hậu Dương Vân Nga ở chái tây.

Hai tấm bia đá

Bia năm 1602 cao 1,22 mét, rộng 0,79 mét ghi việc cấp 67 mẫu ruộng thờ năm 1484. Bia năm 1626 cao 1,65 mét, rộng 1,17 mét đặt trên lưng rùa đá, chép công tích của vua và truyền thuyết về bà Đặng Thị.

Hệ chạm gỗ

Các cấu kiện gỗ chạm rồng, thú và hoa lá dùng đủ ba lối chạm thủng, chạm nổi và chạm bong, tạo thành các mảng dày trên vì kèo và cửa võng.

Về hiện vật, đền giữ một nhóm đồ gắn liền với truyền thuyết quanh vua. Có đôi đũa mà theo truyền tụng vua dùng để thử độc trước mỗi bữa, tài liệu ghi làm bằng hợp kim và có nơi ghi là đũa bạc, cùng ba chiếc chén bạc dùng chung bộ. Có một đĩa đá trắng mà dân vùng quen gọi là đĩa ngọc, lòng đĩa khắc mười chữ Hán Giang Nam nhất phiến tuyết, trác khí vạn niên trân, tương truyền do sứ thần nhà Tống là Tống Cảo dâng tặng năm 990. Về đường kính chiếc đĩa này, tư liệu địa phương và bài tổng hợp kỷ lục ghi khoảng 36 phân, trong khi bài khảo tả trên báo VnExpress ghi gần nửa mét. Vì lo mất mát, đĩa đá được đưa về bảo quản tại trụ sở chính quyền xã và chỉ rước ra vào dịp lễ hội lớn.

Xin nói rõ một câu về nội dung tấm bia 1626. Bia chép công tích của vua theo lối văn bia thời Lê, tức lối kể tóm tắt và tôn xưng. Thư viện chỉ nêu bia có nội dung ấy để quý vị biết giá trị văn bản của nó, còn phần diễn biến thì không thuộc phạm vi của trang này.

Xét tổng thể, giá trị của đền Lê Hoàn không nằm ở quy mô mà nằm ở tính liên tục. Một bộ khung gỗ định hình từ thế kỷ 15, hai tấm bia thế kỷ 17, một hệ sắc phong trải từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19, và một nhóm hiện vật được truyền là còn từ đời vua, tất cả cùng đứng trong một khuôn viên nhỏ. Với một ngôi đền làng ở vùng nhiều lụt bão, giữ được chừng ấy lớp là chuyện hiếm.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều cần nói trước tiên là mảnh đất này không được chọn. Nó được nhận. Người xưa dựng đền ở đây không vì tìm ra một thế đất hay mà vì đây đúng là chỗ người được thờ sinh ra. Trong phép xem đất cổ truyền, đó là loại lý do đứng trên mọi lý do về hình thế, và lối cũ gọi là đất phát tích. Đất phát tích không cần đẹp, chỉ cần đúng.

Xét về hình thế, làng Trung Lập nằm trong vùng đồng bằng sông Chu thuộc đất Thọ Xuân cũ, đất bằng, không núi để làm hậu chẩm, không gò lớn để làm án. Gặp địa hình này, phép địa lý cổ chuyển sang xem thủy và xem vị trí trong làng. Điểm đáng chú ý là đền không đứng ở rìa làng như nhiều đền vua khác mà đứng giữa làng, xen giữa nhà cửa và vườn tược. Đọc theo lối cổ truyền, một nơi thờ đặt ở lõi khu dân cư là nơi thờ thuộc về đời sống hằng ngày chứ không thuộc về nghi lễ nhà nước, và cách đặt ấy khớp đúng với tư cách thờ một người con của làng.

Chi tiết thứ hai là cụm ba điểm. Đền chính không đứng một mình. Trong cùng làng còn có nếp thờ dành cho thân mẫu vua, quen gọi là đền Quốc Mẫu, và phần lăng dành cho thân phụ vua, quen gọi là lăng Hoàng Khảo. Ba điểm ấy nối với nhau bằng đường rước trong ngày hội. Đọc theo phong thủy thì đây không phải ba di tích rời mà là một trục ký ức chạy trong lòng làng, nối chỗ cha, chỗ mẹ với chỗ con, và cuộc rước mỗi năm một lần là việc nối lại cái trục ấy bằng bước chân người sống.

Sau cùng là khối gỗ lim. Theo lối nghĩ cũ thì vật liệu cũng là một phần của thế. Lim là gỗ nặng, chịu ẩm, chịu mối, để lâu càng sẫm. Chọn lim cho một ngôi đền ở vùng đồng bằng nhiều lụt là chọn theo nguyên tắc lấy bền chống biến. Nơi nào thế đất không có gì để tựa thì con người phải tự làm ra chỗ tựa, và ở Trung Lập chỗ tựa ấy là bộ khung gỗ.

VHội Tháng Ba Và Đường Rước Trong Làng

Kỳ hội lớn nhất trong năm mở vào tháng Ba âm lịch, gắn với ngày giỗ của vua mùng tám tháng Ba, và đã được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào tháng 3 năm 2023. Phần lớn tài liệu ghi kỳ hội chính từ ngày mùng bảy tới ngày mùng chín, một số bài lại ghi hội kéo bốn ngày từ mùng sáu tới mùng chín. Chúng tôi nêu cả hai cách ghi.

Phần đáng xem nhất là đám rước. Đoàn rước khởi từ đền chính, mang cờ lộng và dàn binh khí, đi qua đền Quốc Mẫu rồi tới lăng Hoàng Khảo, tức đi trọn một vòng nối ba nơi thờ của một nhà. Đây là điểm làm hội đền Lê Hoàn khác các hội đền vua khác, bởi đường rước không đi trong khu di tích mà đi trong lòng làng.

Trình tự các phần chính của kỳ hội tháng Ba âm lịch. Ngày tiến hành từng phần có thể xê dịch theo từng năm, và nguồn ghi vênh nhau về việc hội mở ba ngày hay bốn ngày. Nguồn: Các bài khảo tả lễ hội đền thờ Lê Hoàn trên báo chí và tài liệu giới thiệu di tích của địa phương..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước ngày mở hộiLễ cáo yếtNghi thức trình báo trước ban thờ, xin phép mở hội trước khi các phần lễ chính bắt đầu.
Ngày mùng 7 tháng BaKhai hội và dâng hươngMở đầu kỳ hội, các thôn trong xã và khách thập phương lần lượt dâng hương trước ban thờ.
Ngày mùng 7 tới mùng 9 tháng BaRước kiệu qua ba nơi thờĐoàn rước đi từ đền chính qua đền Quốc Mẫu tới lăng Hoàng Khảo, mang cờ lộng và dàn binh khí theo lệ cũ.
Ngày mùng 8 tháng BaChính hội và đại tếNgày trọng nhất trong kỳ hội, gắn ngày giỗ của vua, có cung tuyên văn tế và đại tế trước ban thờ.
Trong hộiTrò Xuân PhảTrình diễn điệu múa cổ của vùng Thọ Xuân, một trong những trò diễn xưa nhất còn giữ được ở xứ Thanh.
Trong hộiPồn Pôông, nhảy sạp và cồng chiêngCác tiết mục của cộng đồng người Mường trong vùng, cho thấy kỳ hội này quy tụ cả người Kinh lẫn người Mường.
Trong hộiLàm bánh chưng nung, gói bánh và diễn tích cày ruộngTục làm bánh chưng nung dâng vua, thi gói bánh lá răng bừa và bánh gai Tứ Trụ, cùng trò diễn tích vua cày ruộng tịch điền trên bãi làng.
Theo sử liệu

Xin nói thêm về tục làm bánh dâng vua và diễn tích cày ruộng. Bên cạnh hội làm bánh chưng nung dâng lên ban thờ, vùng Thọ Xuân cũ còn có thứ bánh lá răng bừa gói lá dáng thuôn dài giống cái răng bừa và bánh gai Tứ Trụ. Trong truyền tụng địa phương, chiếc bánh lá răng bừa cùng trò diễn tích cày ruộng trong hội gắn với việc vua Lê Đại Hành đích thân xuống ruộng cày tịch điền đầu năm Đinh Hợi 987. Chuyện chiếc bánh thuộc lớp truyền tụng dân gian, nhưng nó giải thích vì sao trong một kỳ hội thờ vua lại có tục thi làm bánh và diễn tích nhà nông.

Một điểm nhân học đáng chú ý nữa là kỳ hội quy tụ cả tiết mục của người Kinh lẫn của người Mường trong vùng, với Pồn Pôông và cồng chiêng đứng cạnh trò Xuân Phả, điều phản ánh đúng cơ cấu dân cư của vùng đất này.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Trung Lập, xã Xuân Lập cũ, huyện Thọ Xuân, nay là xã Xuân Lập, tỉnh Thanh Hóa
Đường tới
Đền nằm ở làng Trung Lập, xã Xuân Lập, thuộc vùng Thọ Xuân cũ, tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa chừng vài chục cây số về phía tây. Đền Quốc Mẫu và lăng Hoàng Khảo nằm ngay trong cùng làng, nên đi ba nơi trong một chuyến là chuyện thường.
Toạ độ
19.9739, 105.534
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ, gồm việc ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trung đường và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào bia đá, cấu kiện gỗ chạm và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Một số hiện vật quý như chiếc đĩa đá không bày thường xuyên tại đền. Trong kỳ hội, đường rước đi trong làng, người dự thường nhường lối cho đoàn rước đi trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ Lê Hoàn

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền thờ Lê Hoàn ở Thanh Hóa thờ ai

Thờ chính là Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, người mở triều Tiền Lê, sống trong khoảng năm 941 tới năm 1005. Trong hậu cung còn phối thờ thân mẫu là Thái hậu Đặng Thị, thân phụ là Trường Hưng Vương Lê Mịch, vua Lê Long Đĩnh và Hoàng hậu Dương Vân Nga, còn tiền đường và trung đường thờ hoàng tộc cùng các quan văn võ.

Đền thờ Lê Hoàn ở Thanh Hóa có phải đền vua Lê ở Hoa Lư không

Không. Đó là hai di tích khác nhau ở hai tỉnh khác nhau. Đền thờ vua Lê Đại Hành trong khu Cố đô Hoa Lư là nơi thờ tại kinh đô cũ, đứng cạnh đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Đền ở làng Trung Lập là nơi thờ trên quê sinh, do dân làng dựng và giữ.

Vì sao gọi đền Lê Hoàn là ngôi đền cổ bậc nhất xứ Thanh

Vì việc thờ ở đây liên tục từ năm 1005 tới nay mà không dời chỗ và không đổi vị thờ. Từ ngôi miếu tre lá dân làng dựng sau khi vua mất, đền được trùng tu thời Lý rồi mở thành quy mô lớn dưới niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, và bộ khung gỗ lim ấy còn đứng tới hôm nay.

Đền còn giữ những hiện vật gì đáng chú ý

Hai tấm bia đá dựng năm 1602 và năm 1626, mười bốn đạo sắc phong trải từ năm 1674 tới năm 1887, cùng nhóm hiện vật gắn với truyền thuyết quanh vua gồm đôi đũa thử độc, ba chiếc chén bạc và đĩa đá trắng khắc mười chữ Hán có đường kính khoảng 36 phân theo tư liệu địa phương hoặc gần nửa mét theo khảo tả báo chí. Chiếc đĩa đá hiện được bảo quản ở trụ sở chính quyền xã.

Lễ hội đền thờ Lê Hoàn vào ngày nào

Kỳ hội mở trong tháng Ba âm lịch, gắn ngày giỗ của vua mùng 8 tháng Ba, đã được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023. Phần lớn tài liệu ghi hội chính từ mùng 7 tới mùng 9, một số bài ghi hội kéo bốn ngày từ mùng 6. Điểm đặc trưng là đám rước đi từ đền chính qua đền Quốc Mẫu tới lăng Hoàng Khảo, nối ba nơi thờ trong cùng một làng.

›Đọc Tiếp