Điều đầu tiên quý vị cần biết trước khi tới là đây không phải một ngôi đình. Đây là ba ngôi đình riêng biệt, của ba làng riêng biệt, đứng cách nhau vài trăm mét trên cùng một vùng đất. Đình Hương Canh là một ngôi, đình Ngọc Canh là một ngôi khác cách đó chừng một trăm bảy mươi mét về phía bắc, đình Tiên Hường là ngôi thứ ba cách đình Hương Canh chừng bốn trăm năm mươi mét về phía tây nam. Người ta gọi gộp là cụm đình Hương Canh, hoặc cụm đình Tam Canh, nhưng gộp là gộp trong cách gọi và trong hồ sơ xếp hạng, không phải gộp trong thực địa.
Điều thứ hai là cả ba cùng dựng theo lối chữ vương, một bố cục mà theo lệ cũ chỉ dành cho nơi thờ vua và người thân của vua. Ba ngôi đình làng cùng dùng lối ấy, trong cùng một vùng, là chuyện hiếm. Muốn hiểu vì sao thì phải biết ba làng này thờ ai, và đó là chỗ bắt đầu của câu chuyện.

ISáu vị thành hoàng của ba làng Cánh
Cả ba ngôi đình cùng thờ sáu vị thành hoàng, và cả sáu đều thuộc về một giai đoạn ngắn của lịch sử là hậu triều Ngô, tức phần sau của nhà Ngô vào giữa thế kỷ mười. Đây là điều làm cụm đình này khác với phần lớn đình làng Bắc Bộ, nơi thành hoàng thường là một vị lẻ, hoặc một nhiên thần, hoặc một người có công mở đất.
Danh sách sáu vị theo cách ghi phổ biến gồm hai vị vua là Ngô Xương Ngập, hiệu Thiên Sách Hoàng Đế, và Ngô Xương Văn, hiệu Quốc Vương Thiên Tử, cả hai là con của Ngô Quyền. Kế đó là một vị tướng, rồi ba vị nữ. Chính vì thờ nguyên một lớp người của hoàng tộc mà ba ngôi đình được dựng theo lối dành cho nơi thờ vua.
Ở đây nguồn vênh nhau, xin ghi cả ra. Về vị tướng, nhiều tư liệu địa phương ghi là Đỗ Cảnh Thạc, một tướng thời Ngô. Bản tin của cơ quan thông tấn khi công bố quyết định xếp hạng lại ghi vị này là Đông Nhạc Đại thần. Về ba vị nữ, cách ghi phổ biến tại chỗ là Linh Quang Thái hậu, A Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu nhân (trong đó A Lã Nương Nương và Thị Tùng Phu nhân là vương phi của Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn), trong khi bản tin nói trên ghi hai vị đầu là Linh Quang Thái hậu và Khả Lã Nương Nương, và xếp cả hai là vợ của Ngô Quyền.
Chênh lệch này là chuyện thường gặp với thần tích đình làng, khi một danh hiệu được chép bằng chữ Hán rồi truyền qua nhiều đời, tới lúc phiên âm lại thì mỗi nơi đọc một cách, và mỹ hiệu của thần có khi thay chỗ cho tên. Thư viện ghi cả hai cách và không chọn bừa một cách.
Theo cách tín ngưỡng thành hoàng tự nói về mình, thành hoàng là vị được làng rước về giữ đất và giữ người của làng ấy. Làng có quyền chọn, và cái được chọn nói ra điều làng muốn dựa vào. Chọn một nhiên thần là dựa vào sức của trời đất. Chọn người mở đất là dựa vào công lao có thật của tổ tiên mình. Chọn cả một lớp người của một triều vua, như ba làng Cánh đã làm, là dựa vào cái chính thống.
Việc ấy kéo theo hệ quả ngay ở mặt bằng công trình. Nơi thờ vua thì phải dựng theo lối của nơi thờ vua, tức bố cục chữ vương, và phải giữ nghi thức tế ở mức cao hơn lệ thường của đình làng. Ba ngôi đình ở đây vì thế mang dáng của một nơi thờ triều đình đặt giữa làng, chứ không mang dáng của một nếp nhà chung thông thường.
Chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này nằm ngay ở cái tên. Nhiều bài viết nói đình Hương Canh và mô tả như thể đó là một ngôi đình riêng lẻ được xếp hạng quốc gia đặc biệt, rồi đem lẫn số liệu của ba ngôi vào làm một.
Theo hồ sơ xếp hạng, đối tượng được công nhận là cụm di tích gồm ba ngôi đình, gồm đình Hương Canh, đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường. Ba ngôi có ba khuôn viên riêng, ba niên đại riêng, ba hướng riêng và ba mảng chạm riêng. Tên gọi đình Hương Canh vốn chỉ ngôi đình của làng Hương Canh, về sau được dùng thay cho cả cụm vì đó là ngôi lớn nhất và được biết tới sớm. Ghi lại điều này không phải để bắt lỗi ai, mà để quý vị khi tới nơi biết rằng mình phải đi ba chỗ chứ không phải một chỗ.
Thêm một chi tiết về tên là ngôi đình thứ ba được gọi bằng hai cách, đình Tiên Hường theo tên làng và đình Tiên Canh theo lối gọi chung ba làng Cánh (Tam Canh, xưa là vùng Kẻ Cánh). Nhiều bản tin dùng cách thứ hai. Hai cách ấy chỉ cùng một ngôi.
IIBa lần dựng và nhiều lần sửa
Ba ngôi đình không dựng cùng một năm. Hồ sơ xếp hạng đặt cả cụm vào khoảng cuối thế kỷ mười bảy tới đầu thế kỷ mười tám, nhưng trong khoảng ấy thì mỗi làng dựng đình của mình vào một thời điểm, rồi sửa theo nhịp riêng của làng mình. Các mốc dưới đây gom cả ba ngôi để quý vị thấy được nhịp chung.
- Cuối thế kỷ 17Dựng đình Hương CanhNgôi đình của làng Hương Canh, ngôi lớn nhất trong cụm, được dựng trong giai đoạn này (có nguồn xếp vào khoảng thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 18). Đây cũng là ngôi định ra lối kiến trúc mà hai ngôi sau đi theo.
- 1769Tòa Tiền đường đình Ngọc CanhTheo tư liệu di tích, tòa Tiền đường của đình Ngọc Canh được dựng năm này.
- 1776Dựng đình Tiên HườngNgôi đình thứ ba của cụm được dựng năm này, sau đó được trùng tu năm 1799 với việc làm mới tòa Tiền đường và tòa Trung đường. Đầu thời Nguyễn, làng đào hồ rộng 2.160 mét vuông ở phía tây để lấy đất đắp nền đình.
- 1813 tới 1820Tòa Bái đường đình Ngọc CanhĐình Ngọc Canh được dựng thêm tòa Bái đường trong hai năm 1813 tới 1814, hoàn thiện tô vẽ sơn son thếp vàng năm 1820, và tới năm 1903 làm mới tòa Hậu cung.
- 1888Trùng tu đình Hương CanhLần tu sửa được ghi lại sớm của đình Hương Canh trong tư liệu di tích.
- 1925 tới 1928Nâng nền và dựng Phương đình ở đình Hương CanhĐình Hương Canh được nâng cao nền khoảng 1,5 mét để tránh ngập lụt, đồng thời sửa tòa Tiền đường thành Phương đình hai tầng tám mái. Tòa Hậu cung từng bị dỡ bỏ năm 1964 trước khi được phục dựng lại về sau.
- 2007 tới 2014Tu bổ lần lượt cả ba ngôiĐình Hương Canh được tu bổ Đại đình, Phương đình, phục dựng Hậu cung và xây mới Nghi môn trong các năm 2007 tới 2010. Đình Ngọc Canh được tu sửa trong khoảng 2009 tới 2011 tùy theo nguồn ghi. Đình Tiên Hường được tu sửa năm 2014.
- 2022Di tích quốc gia đặc biệtBa ngôi đình vốn được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1984 (đình Hương Canh) và năm 1994 (đình Ngọc Canh, đình Tiên Hường). Ngày 29 tháng 12 năm 2022, cả cụm được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1649/QĐ-TTg.
Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng. Thứ nhất là năm tu sửa đình Ngọc Canh, có tư liệu ghi năm 2009, có tư liệu ghi năm 2011. Thứ hai là năm được công nhận, quyết định của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 29 tháng 12 năm 2022, nhưng vì lễ đón bằng diễn ra vào đầu năm 2023 nên không ít bài viết ghi năm 2023. Thư viện lấy ngày ký quyết định làm mốc và ghi rõ chỗ khác nhau.
Thứ ba là niên đại đình Hương Canh. Hồ sơ đặt cả cụm vào khoảng cuối thế kỷ mười bảy tới đầu thế kỷ mười tám, nhưng không có bia ghi năm dựng cho riêng ngôi đình lớn nhất. Niên đại của nó được suy từ phong cách bộ khung gỗ và từ lối chạm, chứ không từ văn bản, nên xin quý vị đọc con số ấy như một khoảng thời gian chứ không như một năm cố định.
IIIChữ vương, mái ngói và ba mảng chạm
Điểm chung lớn của ba ngôi đình là bố cục chữ vương. Chữ vương trong chữ Hán gồm ba nét ngang nối bằng một nét dọc ở giữa. Đem hình chữ ấy áp vào mặt bằng công trình thì ba nét ngang là ba tòa nhà đặt song song, gồm Tiền đường (hoặc Tiền tế, Phương đình), Đại bái (Trung đường) và Hậu cung, còn nét dọc ở giữa là đoạn nhà nối xuyên qua trục giữa. Lối này theo lệ cũ dành cho nơi thờ vua, và việc ba ngôi đình làng cùng dùng nó là hệ quả trực tiếp của việc ba làng thờ cả một lớp người của triều Ngô.
Điểm chung thứ hai là kỹ thuật lợp mái. Ngói mũi hài ở đây không lợp theo lối thông thường mà lợp theo cách được gọi là đóng óc vảy rồng, tức các viên ngói ăn khớp và níu vào nhau thành từng lớp chồng như vảy rồng, khiến mặt mái vừa kín vừa liên kết chặt. Đây là một trong hai điểm mà giới nghiên cứu nhắc tới đầu tiên khi nói về cụm đình này, bên cạnh bố cục chữ vương.
Đình Hương Canh
Ngôi lớn nhất của cụm. Khuôn viên hiện nay gồm Nghi môn, sân đình, Phương đình (Tiền đường), Đại bái và Hậu cung. Trong đợt trùng tu năm 1925 tới 1928, tòa Tiền đường cũ được sửa thành Phương đình hai tầng tám mái, ngang 8,2 mét, sâu 4 mét, gồm ba gian. Phía sau là tòa Đại bái năm gian hai dĩ, dài khoảng 26 mét, rộng khoảng 13,5 tới 14 mét, khung gỗ lim gồm 48 cột theo kiểu đầu cán cân, chân quân cờ, trong đó cột cái có chu vi chừng 2,4 mét, cao chừng 6 mét, còn cột quân có chu vi chừng 1,8 mét, cao chừng 4 mét. Về hướng của đình, Thông tấn xã Việt Nam ghi đình quay hướng tây về phía ao đình, trong khi báo Xây dựng ghi mặt tiền quay hướng tây nam nhìn ra hồ Điếm Lang, sân kéo song và sông Cầu Treo.
Mảng chạm của đình Hương Canh tập trung trên các bức cốn ở Đại bái, tả cảnh hội hè và trò chơi của làng như đấu vật, bơi chải, săn bắn, uống rượu và các đám đông đang xem. Đây là ngôi có nhiều hình người nhất trong cụm.
Đình Ngọc Canh
Nằm ở phía bắc đình Hương Canh, cách chừng 170 mét, quay hướng nam, nhìn ra phía sông Phan. Bố cục gồm tòa Tiền đường dựng năm 1769, tòa Bái đường dựng trong hai năm 1813 tới 1814 (tô vẽ sơn son thếp vàng năm 1820) và tòa Hậu cung làm mới năm 1903, nghĩa là ngôi đình này hình thành qua nhiều đợt và bộ khung của các tòa không cùng một tay thợ.
Mảng chạm của đình Ngọc Canh nghiêng về lao động và sinh hoạt, với những bức cốn được định danh cụ thể trong tư liệu di sản như Dựng cột buồm (đóng thuyền buồm), Uống rượu, Chơi cờ và Hát nhà quan. Chi tiết người thợ đóng thuyền dựng cột buồm trong một ngôi đình cách sông không xa là thứ đáng đọc kỹ, vì nó cho biết nghề gì từng gắn với đời sống của làng vào lúc người thợ cầm đục.
Đình Tiên Hường
Còn gọi là đình Tiên Canh. Nằm ở phía tây nam đình Hương Canh, cách chừng 450 mét, quay hướng tây nam, nhìn về phía sông Hồng. Đình dựng năm 1776, trùng tu năm 1799 với việc làm mới tòa Tiền đường và tòa Trung đường, hợp với Nhà hậu thành bố cục chữ vương. Phía tây (bên trái) của đình có một hồ nước rộng khoảng 2.160 mét vuông, đào từ đầu thời Nguyễn để lấy đất đắp nền đình.
Mảng chạm của đình Tiên Hường khác hẳn hai ngôi kia, nghiêng về hình cây cỏ, muông thú và tứ linh, với hoa sen, rùa và rồng ổ ở nhiều tư thế. Ít hình người hơn, nhiều hình linh vật hơn. Ba mảng chạm của ba ngôi đình vì thế làm thành ba chương khác nhau của cùng một cuốn sách gỗ, và đi đủ ba ngôi mới đọc hết cuốn ấy.
Một chỗ hay bị nói gộp là nhiều bài viết đem con số 48 cột và kích thước 26 mét nhân 13,5 mét ra để mô tả cả cụm, như thể ba ngôi đình cùng một khổ. Theo tư liệu di tích, những con số ấy là của riêng tòa đại bái đình Hương Canh, ngôi lớn nhất. Đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường có khổ khác, bố cục các tòa cũng khác vì hình thành qua nhiều đợt dựng. Thư viện chưa tra được tư liệu ghi đầy đủ kích thước từng tòa của hai ngôi sau, nên không suy ra con số nào cho chúng.
Về tên chữ Hán ghi ở đầu bài, thư viện phải nói rõ rằng ba chữ ấy là chữ suy ra theo âm của tên làng, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một bảng nghi môn nào của ba ngôi đình. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Cụm đình này cho một trường hợp ít gặp khi ba ngôi đình đứng gần nhau mà quay các hướng khác nhau. Đình Hương Canh quay hướng tây (có nguồn ghi tây nam), đình Ngọc Canh quay hướng nam, đình Tiên Hường quay hướng tây nam. Nếu ba làng cùng thờ một hệ thần, cùng dựng một lối chữ vương, thì vì sao không cùng một hướng. Câu trả lời theo lối xem đất cổ truyền nằm ở chỗ đình quay theo nước của làng mình, không quay theo đình bên cạnh.
Đọc từng ngôi thì thấy rõ. Đình Hương Canh quay mặt ra ao đình (hồ Điếm Lang và sông Cầu Treo), tức một vùng nước nằm ngay trước cửa. Trong phép xem đất, nước tĩnh trước cửa là minh đường đúng nghĩa, chỗ để khí dừng lại mà tụ chứ không chảy qua. Ở đồng bằng Bắc Bộ, ao đình gần như luôn là vật do làng tự đào hoặc tự giữ, chính vì làng cần một minh đường mà địa hình không sẵn có. Ngôi lớn nhất của cụm chọn cách ấy, tức chọn cái chắc chắn.
Đình Ngọc Canh quay về phía sông Phan, một dòng chảy nhỏ của vùng. Nước động thì dẫn khí chứ không tụ khí, nhưng một dòng nhỏ chảy chậm thì vừa đủ động để mang khí tới mà không đủ mạnh để cuốn khí đi. Đình Tiên Hường quay về phía sông Hồng, đồng thời giữ một hồ nước đào rộng hơn hai nghìn mét vuông ở bên cạnh. Theo lối cũ, con sông lớn và xiết thuộc loại thủy vô tình, tức nước quá mạnh nên khó tụ, và các công trình hướng ra nó thường phải lùi xa, lấy khoảng cách và hồ nước tĩnh bên cạnh làm bộ đệm. Khoảng bốn trăm năm mươi mét mà ngôi đình này đứng tách khỏi đình Hương Canh, đọc theo lối ấy, không phải là chuyện ngẫu nhiên của địa giới làng mà còn là chuyện của tầm nhìn ra sông.
Điều thứ hai đáng đọc là quan hệ giữa ba ngôi. Ba đình không xếp theo một trục, không có ngôi nào đứng sau lưng ngôi nào. Chúng dàn ra thành thế chân vạc, mỗi ngôi giữ một góc và một hướng nước. Theo cách nghĩ cũ, trục dọc dẫn khí đi sâu và lập ra thứ bậc trên dưới, còn thế dàn ngang thì trải khí ra bề rộng và giữ cho các phần ngang vai nhau. Ba làng Cánh là ba làng ngang vai, cùng một hệ thần, không làng nào là làng gốc của làng nào, và cách ba ngôi đình đứng đã nói ra điều ấy trước khi bất cứ tư liệu nào nói.
Điều thứ ba là nền đất. Lần nâng nền đình Hương Canh thêm chừng một mét rưỡi trong những năm 1925 tới 1928 và việc đào hồ đắp nền đình Tiên Hường là những chỉ dấu quan trọng cho thấy vùng này thấp và có nước lên. Theo lối cũ, đất thấp thì khí ẩm và dễ tán theo nước, nên nơi thờ phải tôn nền để lấy thế cao. Việc làng chịu bỏ công hạ giải cả bộ khung để nâng nền, thay vì dời đình đi chỗ cao hơn, cho thấy chỗ đất ấy đã được coi là không thể đổi. Cũng chính chất đất ở đây, thứ đất sét chịu lửa, là cái nuôi nghề gốm sành đã làm nên tên tuổi của vùng Hương Canh. Đất nuôi nghề và đất đặt đình là một, và trong lối nghĩ cổ truyền thì đó là chỉ dấu tốt về một mảnh đất.
Sau cùng là hướng theo lệ chung. Đình Bắc Bộ chuộng hướng nam và đông nam. Trong cụm này chỉ có đình Ngọc Canh theo đúng lối ấy, hai ngôi còn lại quay tây hoặc tây nam. Đó là bằng chứng rằng người xưa không áp một công thức lên mọi công trình, khi thế nước của làng nằm ở phía tây thì đình quay về phía ấy, và cái được ưu tiên là nước trước mặt chứ không phải hướng đẹp trên sách.
VLễ hội của ba làng và trò kéo song
Ba làng giữ các kỳ lễ lớn trong năm, đều rơi vào dịp rằm và đều tính theo âm lịch. Vì cả ba đình cùng thờ một hệ thần nên các kỳ lễ này là việc chung của cả vùng Tam Canh, không phải việc riêng của một làng.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 14 và rằm tháng Hai | Kỳ lễ đầu năm | Kỳ lễ lớn của cả ba làng, dâng hương và tế các vị thành hoàng. Lễ đón bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đầu năm 2023 cũng được tổ chức đúng vào dịp lễ hội mùa xuân này. |
| Rằm tháng Bảy | Kỳ lễ giữa năm | Dâng hương và tế theo lệ làng tại cả ba đình. |
| Rằm tháng Mười | Kỳ lễ cuối năm | Kỳ lễ khép lại vòng lễ trong năm, tế các vị thành hoàng theo nghi thức tế đình của Bắc Bộ. |
| Đầu xuân (mùng 3 tới mùng 5 Tết và dịp hội) | Hội kéo song | Trò diễn dân gian đặc trưng của vùng Tam Canh, dùng cây song rừng dài hàng chục mét luồn qua cột lim để hai bên kéo, tái hiện việc luyện thủy quân của các vị vương triều Ngô trên sông Cà Lồ xưa. |
Điều đáng chú ý ở đây là nhịp ba kỳ tế trong một năm cùng trò kéo song. Phần lớn đình làng Bắc Bộ dồn vào một kỳ lễ đầu xuân, còn ba làng Cánh giữ lệ tế vào tháng Hai, tháng Bảy và tháng Mười, tức đầu năm, giữa năm và cuối năm. Đi kèm với lễ hội đầu xuân là hội kéo song, một hình thức kéo co truyền thống bằng dây song rừng đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014 (Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19 tháng 12 năm 2014) và nằm trong hồ sơ đa quốc gia Nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh năm 2015.
Xin lưu ý thêm một điều về cách đi. Vì đây là cụm ba đình chứ không phải một ngôi, nên trong ngày lễ quý vị sẽ thấy việc thờ tự diễn ra ở ba chỗ cùng lúc, mỗi làng lo phần đình của làng mình. Muốn xem đủ thì phải đi cả ba, và ba ngôi cách nhau chỉ vài trăm mét nên đi bộ được.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thị trấn Hương Canh cũ, huyện Bình Xuyên, nay là xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ
- Đường tới
- Ba ngôi đình nằm trong xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ, thuộc thị trấn Hương Canh cũ, huyện Bình Xuyên. Đình Ngọc Canh cách đình Hương Canh chừng một trăm bảy mươi mét về phía bắc, đình Tiên Hường cách chừng bốn trăm năm mươi mét về phía tây nam, đi bộ giữa ba nơi được.
- Toạ độ
- 21.2662, 105.6549
Cả ba ngôi đều là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong đình, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm vào cấu kiện gỗ và các bức chạm, không leo lên bệ hay dựa vào cột. Xem mảng chạm thì đứng dưới nhìn lên. Lễ vật đặt đúng ban của từng đình. Mỗi đình do ban khánh tiết của làng ấy trông coi, xin hỏi đúng người của đình mình đang đứng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cụm đình Hương Canh
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Cụm đình Hương Canh gồm mấy đình
Gồm ba ngôi đình riêng biệt của ba làng Cánh là đình Hương Canh, đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường, ngôi thứ ba còn được gọi là đình Tiên Canh. Ba ngôi có ba khuôn viên riêng, cách nhau vài trăm mét, được xếp hạng chung trong một hồ sơ nên quen gọi gộp là cụm đình Hương Canh hoặc cụm đình Tam Canh.
Cụm đình Hương Canh thờ ai
Cả ba đình cùng thờ sáu vị thành hoàng thuộc hậu triều Ngô, gồm hai vị vua là Ngô Xương Ngập hiệu Thiên Sách Hoàng Đế và Ngô Xương Văn hiệu Quốc Vương Thiên Tử, một vị tướng (Đỗ Cảnh Thạc hoặc Đông Nhạc Đại thần tùy nguồn ghi) và ba vị nữ (Linh Quang Thái hậu, A Lã hoặc Khả Lã Nương Nương, Thị Tùng Phu nhân).
Kiến trúc chữ vương là gì
Là bố cục mặt bằng đặt theo hình chữ vương trong chữ Hán, gồm ba tòa nhà song song là Tiền đường (hoặc Phương đình), Đại bái và Hậu cung làm thành ba nét ngang, nối với nhau qua trục giữa làm nét dọc. Theo lệ cũ, lối này dành cho nơi thờ vua và người thân của vua.
Đóng óc vảy rồng nghĩa là gì
Là cách lợp ngói mũi hài sao cho các viên ngói ăn khớp và níu vào nhau thành từng lớp chồng như vảy rồng, làm mặt mái vừa kín nước vừa liên kết chặt. Đây là một trong hai điểm riêng mà giới nghiên cứu nhắc tới đầu tiên khi nói về cụm đình này, bên cạnh bố cục chữ vương.
Lễ hội cụm đình Hương Canh vào ngày nào
Ba làng giữ ba kỳ lễ lớn trong năm, vào dịp rằm tháng Hai (tế ngày 14 và 15), rằm tháng Bảy và rằm tháng Mười âm lịch. Đặc biệt vào dịp đầu xuân, vùng Tam Canh có hội kéo song (dùng dây song rừng), một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nằm trong hồ sơ Nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh năm 2015.