VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Tường Phiêu

Đình Cả

Ngôi đình lớn của xứ Đoài quay mặt về núi Tản, nơi mỗi ba năm một lần cả làng thắp bốn cây đuốc cao mười mét để rước Thánh trong đêm.

Đại bái
5 gian, chữ nhất
chừng 20 mét ngang, nguồn ghi 10 mét sâu, nguồn ghi 13 mét
Tục rước đêm
3 năm một lần
vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018

Từ ngoài đường nhìn vào, đình Tường Phiêu là một khối mái lớn nằm ngang, bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật, bốn góc mái cong hất lên, và trên mỗi góc ấy là một con rồng chạm nguyên thân quay đầu hướng vào giữa nóc. Đình quay mặt về phía tây nam, tức quay thẳng về dải Ba Vì, ngọn núi mà cả vùng này gọi bằng hai tiếng núi Tản.

Người làng không gọi đây là đình Tường Phiêu mà gọi là đình Cả. Chữ cả nghĩa là lớn nhất, đứng đầu, và cái tên ấy nói đúng vị trí của ngôi đình trong vùng. Nhưng thứ làm nên tên tuổi của nó không phải kích thước. Đó là một tục lệ chỉ ba năm mới làm một lần: đêm rằm tháng Giêng, bốn cây đuốc tre cao chừng mười mét được đốt lên để soi đường cho kiệu Thánh.

IBốn Vị Thành Hoàng Của Một Làng Bên Sông Tích

Đình thờ bốn vị thành hoàng. Theo bài vị đặt trong hậu cung, ba vị đầu được ghi là Tản Viên Sơn ba vị thượng đẳng, gồm chính vị, tả vị và hữu vị. Vị thứ tư là Quán Sơn thành hoàng. Cả bốn đều nằm trong vùng tín ngưỡng của hệ thần núi Tản, và đó là điều đầu tiên cần nắm về ngôi đình này: đây là một làng nằm trong địa bàn thờ Tản Viên của xứ Đoài, không phải một làng thờ một vị lẻ.

Cách ghi ba vị trên bài vị là lối ghi rất đặc trưng. Nó không kể tên từng vị mà đặt cả ba vào một thế bố cục: một vị ở giữa, một vị bên trái, một vị bên phải. Trong lối thờ cổ truyền, cách xếp ấy dựng lên một trục đối xứng ngay trong hậu cung, và người đi lễ lạy về giữa thì đồng thời lạy cả ba.

Theo giáo nghĩa

Xét theo hệ thần cổ truyền, Tản Viên Sơn Thánh đứng đầu hàng Tứ bất tử của người Việt, cùng với Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh. Ngài là thần núi, và cái việc mà dân gian gắn cho ngài là việc trị nước, giữ cho đồng ruộng khỏi ngập. Với một làng nằm ven sông Tích, ngay dưới chân vùng núi Tản, đó không phải một ý niệm trừu tượng mà là việc của mỗi mùa mưa.

Lối thờ ở đây là thờ thành hoàng theo nếp đình làng, không phải một cửa đền Tứ Phủ. Nghi thức là tế lễ theo lối cổ truyền, có đội tế của làng, có chúc văn, không có hàng Mẫu hàng Quan, không phải chốn hầu đồng. Người coi việc thờ là ban khánh tiết của làng.

Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ ngay để quý vị khỏi lẫn. Về ba vị Tản Viên, một số tài liệu giải rằng ba vị ấy là Tản Viên Sơn Thánh cùng hai vị Cao SơnQuý Minh, vốn được dân gian kể là hai người em họ của ngài. Bài vị tại đình thì chỉ ghi ba vị theo thế chính, tả, hữu chứ không kể tên. Hai cách hiểu ấy không mâu thuẫn nhau nhưng cũng chưa có tài liệu nào chứng minh dứt điểm rằng bài vị ở đây nhất định chỉ Cao Sơn và Quý Minh, nên chúng tôi ghi cả hai.

Về Quán Sơn thành hoàng, nguồn vênh nhiều hơn. Một tài liệu cho rằng vị này là con rể của vua Đinh Tiên Hoàng, một tài liệu khác lại chép vị này là một vị tướng sống ở thời Ngô. Hai thuyết cách nhau gần một thế kỷ và chúng tôi chưa tra được công trình nào phân xử. Vì vậy thư viện ghi lại cả hai thuyết, giữ nguyên tên hiệu Quán Sơn thành hoàng như bài vị ghi, và không chọn bừa một thân thế.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm về những ngôi đình thờ hệ thần Tản Viên. Xứ Đoài có nhiều làng cùng thờ hệ thần này, và người đọc hay gộp chúng làm một, coi như các làng ấy cùng kể một chuyện và cùng giữ một lệ. Không phải vậy. Mỗi làng có bài vị riêng, có thần tích riêng của làng mình, có niên đại kiến trúc riêng và có lệ hội riêng, đôi khi khác nhau tới mức một tục ở làng này hoàn toàn không có ở làng bên cạnh. Ở Tường Phiêu, thứ không làng nào khác có là tục rước đêm với bốn cây đình liệu, và đó mới là chỗ đáng đọc về ngôi đình này.

IITừ Mốc 1430 Tới Bộ Khung Lê Trung Hưng

Như hầu hết đình làng Việt, lịch sử ngôi đình này phải đọc theo hai lớp: lớp khởi dựng mà tư liệu của làng chép lại, và lớp kiến trúc hiện còn mà giới nghiên cứu định niên đại bằng phong cách chạm khắc. Hai lớp ấy ở đây cách nhau hơn hai trăm năm.

  • 1430Mốc khởi dựng theo tư liệu của làng
    Một số tài liệu ghi đình được khởi công dựng năm 1430. Đây là mốc chép theo tư liệu của làng, không phải niên đại của bộ khung gỗ hiện còn.
  • Thế kỷ 17Lớp chạm khắc chính
    Phần lớn mảng chạm còn thấy hôm nay mang đặc trưng thế kỷ 17: rồng kích cỡ lớn, nét đao mác thưa và dứt khoát. Đây là lớp nghệ thuật làm nên giá trị của đình.
  • Thế kỷ 17 tới 18Định hình bộ khung Lê Trung Hưng
    Bộ khung gỗ và bố cục mặt bằng hiện thấy được định hình trong giai đoạn này, mang phong cách nghệ thuật Hậu Lê. Hồ sơ xếp hạng lấy đây làm niên đại của di tích.
  • Thế kỷ 19 tới 20Các đợt tu bổ
    Đình trải qua nhiều đợt tu bổ, trong đó có việc dựng và sửa nghi môn cùng các hạng mục phụ. Phần cấu kiện mang chạm khắc được giữ.
  • 1993Di tích quốc gia
    Đình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2018Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 9 cho đình Tường Phiêu.
  • 2019Đón bằng xếp hạng
    Lễ đón bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt được tổ chức tại đình, gắn với kỳ hội tháng Giêng của làng.
Theo sử liệu

Về niên đại khởi dựng, nguồn vênh nhau rõ và chúng tôi không chọn bừa. Một số tài liệu phổ biến ghi đình khởi dựng năm 1430, tức đầu thời Lê sơ, rồi trùng tu qua các thế kỷ 17 tới 20. Trong khi đó, hồ sơ xếp hạng và các bài khảo tả kiến trúc đều ghi đình mang phong cách nghệ thuật Lê Trung Hưng, thế kỷ 17 tới 18, và đó là niên đại của thứ đang đứng.

Hai con số ấy không nhất thiết chọi nhau. Mốc 1430 nói về nơi thờ và về việc lập đình của làng, còn mốc thế kỷ 17 tới 18 nói về bộ khung gỗ. Nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào chứng minh có một công trình đời Lê sơ tại chính chỗ này, cũng chưa thấy một lạc khoản niên hiệu nào trên cấu kiện được công bố, nên xin ghi cả hai và để quý vị giữ tách bạch.

IIIChữ Nhất, Bốn Góc Rồng Và Hệ Chấn Song

Mặt bằng đình theo bố cục hình chữ nhất, tức một nét ngang, gồm hai phần chính là nghi mônđại bái. Đây là lối bố cục của đình sớm, khi ngôi đình còn là một tòa duy nhất chứ chưa nối thêm hậu cung thành chữ đinh hay chữ công. Vật liệu gồm gỗ lim cho bộ khung, đá ong cho phần chân tường và bó nền, đất nung cho ngói và các chi tiết trang trí, cả ba đều là vật liệu sẵn của xứ Đoài.

Nghi môn

Cổng vào với hai trụ biểu. Trụ biểu là hai cột gạch cao đứng hai bên lối, đỉnh thường đắp nghê hoặc búp sen, đánh dấu ranh giới giữa đường làng và phần đất của đình.

Đại bái

Tòa chính, năm gian, bố cục chữ nhất. Kích thước ngang chừng 20 mét, còn chiều sâu thì nguồn ghi 10 mét, nguồn ghi 13 mét. Toàn bộ mảng chạm quý nằm trong tòa này.

Bộ mái

Bốn mái, gồm hai mái chính và hai mái phụ ở đầu hồi, bốn góc đao cong hất lên. Bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật, trên mái còn giữ được các chi tiết gốm trang trí thời Hậu Lê.

Hậu cung

Phần đặt bài vị bốn vị thành hoàng, kín và tối hơn đại bái, chỉ mở trong các kỳ lễ. Đây là nơi rước kiệu Thánh xuất phát trong đêm rằm tháng Giêng những năm có tục rước đêm.

Rồng ở ba chỗ, mỗi chỗ một cách chạm

Nếu quý vị chỉ có thời gian xem một thứ trong ngôi đình này thì hãy xem rồng, vì rồng ở đây được chạm ở ba vị trí khác nhau và mỗi vị trí đòi một cách xử lý khác.

Thứ nhất, rồng ở góc mái. Trên bốn đầu đao, rồng được thể hiện nguyên thân, quay đầu hướng vào giữa nóc. Đây là chỗ khó, vì con rồng phải nằm gọn trên một cấu kiện cong, nhìn được từ dưới sân và nhìn được từ xa, mà vẫn giữ được thế lao lên của thân.

Thứ hai, rồng trên bức cốn. Cốn là mảng gỗ giữa hai cột, chỗ rộng nhất trong bộ vì. Rồng trên cốn ở đây mang đúng đặc trưng thế kỷ 17: kích cỡ lớn, các nét đao mác tỏa ra thưa và dứt khoát, không rối. Chỗ được giới nghiên cứu khen nhất là cách thợ hòa nét đao mác ấy với những vân xoắn nhỏ ở đầu và ở chân rồng, hai thứ ngược nhau về nhịp mà đặt cạnh nhau không chỏi.

Thứ ba, và đây là nét riêng nhất, rồng trên hệ chấn song. Chấn song là dãy thanh dọc chắn ở khoảng hở giữa các cột, phần lớn đình làng làm bằng con tiện, tức thanh gỗ tròn được tiện thành đốt, làm hàng loạt và giống hệt nhau. Ở Tường Phiêu, người thợ bỏ con tiện, thay bằng những thanh chạm rồng xoắn nổi. Nghĩa là một bộ phận vốn thuần kỹ thuật, vốn chỉ để chắn, đã được đưa lên hàng tác phẩm. Đây là điều khác hẳn các ngôi đình cùng thời và là chi tiết nên tìm khi quý vị đứng trong đại bái.

Ngoài rồng, đại bái còn các đề tài long nghê, tiên nữ cưỡi rồng, cảnh đội lễ lên đình và các cảnh sinh hoạt bình dị của làng. Cảnh đội lễ đáng chú ý riêng: đó là mảng chạm ghi lại chính cái việc đang diễn ra bên dưới nó, tức người làng bưng lễ vào đình. Người thợ thế kỷ 17 đã chạm lên bộ khung hình ảnh của những người sẽ đứng dưới bộ khung ấy.

Về hiện vật, đình giữ được ngai thờ, bài vị, bộ bát bửu, các đạo sắc phong, trong đó một tài liệu ghi con số sáu đạo, cùng bộ cửa võng gỗ thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17. Cửa võng là tấm gỗ chạm thủng treo ngang trước ban thờ, và một bộ cửa võng còn nguyên từ thế kỷ 17 là hiện vật quý ngang với mảng chạm trên bộ vì.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Chỗ đất này có một điều mà rất ít ngôi đình đồng bằng có được: hướng đình và vị thần được thờ trùng khít nhau. Đình quay mặt về phía tây nam, tức quay thẳng về dải Ba Vì, và vị thần chính trong hậu cung là thần của chính ngọn núi ấy. Trong phép xem đất, ngọn núi lớn nằm trước mặt một công trình được gọi là triều sơn, ngọn núi chầu về. Ở đây triều sơn không phải một khối đất vô danh mà là nơi ngự của vị thần đang được thờ bên trong. Người xưa không chỉ chọn một hướng đẹp, họ chọn một hướng có nghĩa.

Thứ hai là dòng sông Tích chảy qua vùng này. Sông Tích là dòng nhỏ, chảy chậm, quanh co giữa đồng. Trong cách phân loại cổ truyền, một dòng nước nhỏ mà uốn khúc được coi là dòng hữu tình, khác với dòng lớn chảy thẳng vốn bị coi là cuốn khí đi. Núi lớn ở xa làm chỗ chầu, nước nhỏ ở gần làm chỗ tụ, đó là cặp đôi mà sách cũ chuộng. Với một làng thờ vị thần trị nước, dòng sông trước mặt lại còn là thứ thuộc phần việc của chính vị thần ấy, thêm một lớp nghĩa nữa.

Thứ ba là bố cục chữ nhất, đọc theo con mắt phong thủy thì đây là một thế mở. Đình chỉ có một nét ngang, không có tòa nối vào sâu, nghĩa là toàn bộ chiều dài công trình phơi ra mặt trước. Khí không bị dẫn vào trong theo một trục hun hút như ở đền miếu, mà trải đều ra bề ngang. Với một ngôi đình mà cả làng ra vào, cái thế trải ngang ấy hợp chức năng hơn thế dẫn sâu. Bốn con rồng trên bốn đầu đao đều quay đầu vào giữa nóc, và trong lối đọc cổ truyền, đó là hình ảnh của bốn phương cùng chầu về một điểm, giữ cho cái thế mở ấy vẫn có tâm.

Sau cùng là trục của cuộc rước, chỗ hay nhất trong cách đọc đất của làng này. Kiệu Thánh không quanh quẩn trong sân đình mà đi hẳn ra ngoài, lên đền Ngo ở phía trên, rồi tối mới rước về, đường về đi qua cầu Ngo và qua gò Lốc. Đọc theo phong thủy, hai điểm ấy làm thành một trục có đầu trên và đầu dưới, đền ở thượng và đình ở hạ, còn cuộc rước là việc nối hai đầu trục lại mỗi ba năm một lần. Cái gò và cây cầu trên đường về không phải chỗ đi ngang tùy tiện: trong lệ rước, chúng là những điểm dừng, tức là làng đã đánh dấu sẵn các mốc trên trục ấy. Một thế đất được đọc bằng chân người đi trong đêm, chứ không chỉ bằng la bàn.

VHội Tháng Giêng Và Bốn Cây Đình Liệu

Hội đình mở vào tháng Giêng âm lịch, chính hội là ngày rằm. Về số ngày thì nguồn vênh nhau: tư liệu của ngành văn hóa Hà Nội ghi hội diễn ra từ ngày 13 tới ngày 16, một bài khác ghi từ ngày 14 tới ngày 16. Chúng tôi ghi cả hai.

Điều làm nên tên tuổi của kỳ hội này là tục rước đêm, và tục ấy không làm hằng năm mà ba năm một lần, vào các năm mang chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Nghĩa là quý vị muốn xem thì phải xem đúng năm.

Trình tự kỳ hội tháng Giêng, phần rước đêm chỉ làm vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Nguồn: Tư liệu về lễ hội truyền thống đình Tường Phiêu của ngành văn hóa Hà Nội..
Thời điểmNghi thứcNội dung
Trước chính hộiSửa soạn đình liệuLàng chuẩn bị bốn cây đuốc lớn bằng tre, cao chừng mười mét, gọi là đình liệu, cùng những cây đuốc nhỏ gọi là đuốc rồng.
Sáng ngày 14 tháng GiêngRước lên đền NgoĐoàn rước đi từ đình Tường Phiêu lên đền Ngo, còn gọi là đền Ngô Sơn, mang theo kiệu và đồ tế.
Tại đền NgoDâng hương và lấy lửaLễ dâng hương tại đền, rồi làm nghi thức lấy lửa. Ngọn lửa này là thứ sẽ được mang về thắp cây đình liệu đầu tiên.
Tối ngày 14 tháng GiêngKhai hỏa và thắp đình liệuCây đình liệu thứ nhất được châm lửa, rồi lần lượt tới các cây còn lại, làm thành bốn cột lửa soi đường cho đoàn rước trong đêm.
Đêm ngày 14 tháng GiêngRước Tam vị Đức Thánh về đìnhKiệu Thánh được rước trở về đình dưới ánh đình liệu và đuốc rồng, đường về đi qua cầu Ngo và địa danh gò Lốc.
Ngày rằm tháng GiêngChính hội và đại tếLễ tế lớn nhất trong năm tại đại bái, có đội tế của làng, chúc văn và dâng lễ của các giáp.
Ngày 16 tháng GiêngLễ tạ và hoàn cungKhép lại kỳ hội, an vị bài vị và đồ tế, các giáp làm lễ tạ.

Xin nói thêm về hai chữ đình liệu, vì đây là thứ ít người biết. Liệu trong chữ Hán có nghĩa là đốt, là đuốc lửa tế trời. Đình liệu vì vậy không phải cây đuốc để soi cho sáng theo nghĩa thực dụng mà là một lễ vật bằng lửa, đốt lên trong sân đình như một phần của nghi thức. Việc ngọn lửa ấy phải được lấy từ đền Ngo rồi mang về chứ không châm bằng lửa sẵn trong làng càng cho thấy đây là nghi thức chứ không phải việc chiếu sáng.

Theo lệ mà làng giữ lại, bốn cây đình liệu được đốt lên là để soi đường cho Thánh trên đường về. Cả một đoàn rước đi trong đêm dưới bốn cột lửa, qua cầu, qua gò, là hình ảnh mà kỳ hội của những làng khác không có. Đó cũng là lý do tục rước đêm của Tường Phiêu được nhắc tới như một trong những tục hội đáng chú ý nhất của xứ Đoài.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Tường Phiêu, xã Tích Giang cũ, sau nhập thành xã Tích Lộc, nay là xã Phúc Thọ, Hà Nội
Đường tới
Đình nằm ở làng Tường Phiêu, xã Tích Giang cũ, sau nhập thành xã Tích Lộc, nay là xã Phúc Thọ, Hà Nội, cách trung tâm thành phố chừng bốn mươi cây số về phía tây. Đền Ngo, điểm rước của kỳ hội tháng Giêng, nằm cùng địa bàn và đi cùng tuyến được.
Toạ độ
21.1171, 105.5167
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ của làng cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào đại bái, đi nhẹ nói khẽ, lễ vật đặt đúng ban và tiền bỏ hòm công đức. Hệ chấn song chạm rồng nằm trong tầm tay, xin quý vị xem bằng mắt và không sờ vào gỗ. Trong đêm rước những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, việc đốt đình liệu và rước kiệu do các giáp trong làng đảm nhiệm, người tới dự đứng ngoài lối rước.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Tường Phiêu

Contribute photos, information or video for Tuong Phieu Communal House

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Tường Phiêu thờ ai

Đình thờ bốn vị thành hoàng. Theo bài vị, ba vị đầu ghi là Tản Viên Sơn ba vị thượng đẳng gồm chính vị, tả vị, hữu vị, vị thứ tư là Quán Sơn thành hoàng. Cả bốn thuộc vùng tín ngưỡng của hệ thần núi Tản. Một số tài liệu giải ba vị Tản Viên là Tản Viên Sơn Thánh cùng Cao Sơn và Quý Minh.

Vì sao đình Tường Phiêu còn gọi là đình Cả

Chữ cả nghĩa là lớn nhất, đứng đầu. Đây là ngôi đình lớn của vùng và là tên mà dân trong làng quen dùng. Tên Tường Phiêu là tên làng, còn đình Cả là tên gọi theo vai vế của ngôi đình trong hệ thống thờ tự của địa phương.

Đình liệu trong hội đình Tường Phiêu là gì

Là bốn cây đuốc lớn làm bằng tre, cao chừng mười mét, đốt lên trong đêm rằm tháng Giêng để soi đường cho kiệu Thánh trên đường rước về đình. Lửa thắp cây đình liệu đầu tiên phải lấy từ đền Ngo mang về, nên đây là một nghi thức chứ không phải việc chiếu sáng thông thường.

Hội đình Tường Phiêu mở ngày nào và có tục rước đêm hằng năm không

Hội mở vào tháng Giêng âm lịch, chính hội ngày rằm. Nguồn vênh nhau về số ngày, một tài liệu ghi từ ngày 13 tới 16, một tài liệu ghi từ ngày 14 tới 16. Tục rước đêm không làm hằng năm mà ba năm một lần, vào các năm mang chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Đình Tường Phiêu có gì đáng xem về chạm khắc

Đáng xem nhất là rồng, được chạm ở ba chỗ với ba cách xử lý khác nhau: rồng nguyên thân trên bốn đầu đao, rồng khổ lớn trên bức cốn với nét đao mác thưa đặc trưng thế kỷ 17, và đặc biệt là hệ chấn song chạm rồng xoắn nổi thay cho con tiện, điều khác hẳn các ngôi đình cùng thời.

Đọc Tiếp