VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Đại Phùng

Đình làng Đại Phùng

Ngôi đình dựng bằng thứ gỗ rẻ nhất của làng quê mà giữ được một trong những kho chạm khắc dày đặc nhất còn lại của thế kỷ 17.

Bộ khung
64 cột
gỗ xoan, cột lớn nhất đường kính trên 0,6 mét
Họa tiết chạm
gần 1.000
niên đại thế kỷ 17, tập trung ở đại bái
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019

Bước qua cổng vào sân đình, việc đầu tiên quý vị nên làm là ngẩng lên. Cả bộ khung gỗ trên đầu, từ đầu dư nhô ra khỏi cột cái, qua các thanh kẻ, các bức cốn, tới xà thượng và câu đầu, đều kín chạm. Không phải chạm điểm xuyết vài chỗ cho có, mà chạm dày tới mức khó tìm ra một khoảng gỗ trơn. Người ta đếm được gần một nghìn họa tiết trong ngôi đình này.

Điều lạ hơn nằm ở chất gỗ. Đình làng cỡ lớn ở Bắc Bộ hầu hết dựng bằng lim, thứ gỗ cứng và bền, phải mua từ rừng xa. Đại Phùng dựng bằng gỗ xoan, loại gỗ trồng ngay trong vườn nhà, mềm hơn, rẻ hơn, và theo lệ thường thì không ai dám giao cho nó gánh một bộ mái đình. Làng này đã giao, và bộ khung ấy đứng được hơn ba trăm năm.

IHai Vị Thành Hoàng, Một Trời Một Đất

Đình thờ hai vị, và hai vị ấy thuộc hai lớp khác hẳn nhau. Vị thứ nhất là Đức Thánh Tích Lịch Hỏa Quang thượng đẳng thần, một vị thiên thần, tức thần của trời đất chứ không có gốc là người thật. Vị thứ hai là tướng quân Vũ Hùng, một nhân thần, người có công dẹp giặc dưới thời nhà Trần ở thế kỷ 14.

Chỗ đáng chú ý là phạm vi thờ của hai vị không bằng nhau. Theo tư liệu địa phương, Tích Lịch Hỏa Quang là thành hoàng chung của cả tổng Phùng xưa, gồm tám làng, còn Vũ Hùng là thành hoàng riêng của làng Đại Phùng. Một ngôi đình mà giữ cùng lúc cả vị thần của tổng lẫn vị thần của làng, ấy là dấu cho biết vị trí của Đại Phùng trong vùng không phải vị trí của một làng thường.

Theo giáo nghĩa

Xét theo lối thờ cổ truyền, tích lịch là tiếng sấm sét, hỏa quang là ánh lửa, tức ánh chớp. Tên hiệu ấy đặt vị thần vào lớp thần coi hiện tượng của trời, cùng mạch với hệ thần mây, mưa, sấm, chớp mà vùng đồng bằng Bắc Bộ thờ rất rộng. Với một làng sống bằng ruộng nước, sấm chớp là báo hiệu của mưa, mà mưa là thứ quyết định cả năm làm ăn. Thờ một vị thần sấm không phải việc thờ cho đẹp, đó là việc thờ cái điều kiện sống còn của đồng ruộng.

Vũ Hùng thì thuộc lớp khác hẳn: lớp nhân thần, người thật được thờ như thần vì có công với dân. Thần phả chép ngài sinh ngày 18 tháng Giêng và hóa ngày 18 tháng Mười Một âm lịch, hai ngày ấy tới nay vẫn là ngày lễ của đình. Một ngôi đình giữ cả thần trời lẫn người thật là lối bày thờ rất quen của làng Việt: lớp trên coi thời tiết, lớp dưới coi việc người, và cả hai cùng đứng trong một tòa.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, tên hiệu Tích Lịch Hỏa Quang hiện được các tài liệu giải thích không giống nhau. Tư liệu địa phương xếp vị này vào hàng thiên thần coi sấm chớp, gắn với hệ thần mây mưa sấm chớp. Một số bài viết khác chỉ chép nguyên tên hiệu mà không giải nghĩa. Chúng tôi trình bày cách giải nghĩa thứ nhất vì nó có tư liệu đỡ, đồng thời nói rõ rằng đây chưa phải điều đã được một công trình nghiên cứu nào khẳng định dứt điểm.

Về tướng Vũ Hùng, tư liệu địa phương chép danh hiệu phong tặng sau khi ngài hóa là Trần triều trung quân Vũ Hùng đại vương. Phần thân thế của ngài nằm trong thần phả của đình chứ không nằm trong sử biên niên, quý vị nên giữ tách bạch hai loại tư liệu ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm về ngôi đình này. Nhiều người nghe tên Đại Phùng rồi nghĩ ngay tới Phùng Hưng, vị anh hùng đất Đường Lâm, và cho rằng đình thờ ngài. Không phải. Chữ Phùng ở đây là tên đất, tên của tổng Phùng và của làng Đại Phùng, không liên quan tới họ Phùng của Phùng Hưng. Hai vị được thờ trong đình là Tích Lịch Hỏa Quang và Vũ Hùng, cả hai đều được chép rõ trong thần phả và trong hồ sơ di tích.

IITừ Thần Phả Đời Trần Tới Bộ Khung Thế Kỷ 17

Lịch sử ngôi đình phải đọc theo hai lớp tách rời nhau: lớp thần phả nói đình có gốc từ đời Trần, và lớp kiến trúc hiện còn, thứ mà giới nghiên cứu định niên đại được bằng phong cách chạm khắc. Hai lớp ấy cách nhau ba thế kỷ, và trộn chúng làm một là chỗ dễ sai nhất khi nói về đình làng Việt.

  • Thế kỷ 14Lớp thần phả
    Theo thần phả của đình, tướng Vũ Hùng sống dưới thời nhà Trần và được làng lập nơi thờ sau khi ngài hóa. Một tài liệu ghi mốc sớm nhất của đình vào khoảng niên hiệu đời Trần Nghệ Tông, tức những năm 1370 tới 1372. Đây là tư liệu thần phả, không phải niên đại của bộ khung gỗ hiện còn.
  • Nửa cuối thế kỷ 17Dựng tòa đại bái
    Tòa đại bái với bộ khung gỗ xoan và gần một nghìn họa tiết chạm được dựng trong giai đoạn này. Phong cách chạm khắc là căn cứ chính để giới nghiên cứu định niên đại, vì đình không để lại một lạc khoản niên hiệu nào trên cấu kiện.
  • Thế kỷ 18 tới 19Mở rộng tiền tế và hậu cung
    Hai hạng mục tiền tế và hậu cung được dựng thêm, đưa mặt bằng đình về bố cục ba tòa như hiện thấy. Lớp kiến trúc này muộn hơn đại bái và mang trang trí thưa hơn hẳn.
  • 1816 tới 1900Bổ sung hiện vật và sửa chữa nhỏ
    Đình nhận thêm hoành phi, câu đối, đồ tế khí và các đợt sửa chữa nhỏ theo lệ làng qua thế kỷ 19. Hiện vật của lớp này giúp đối chiếu các lần tu bổ.
  • 1991Di tích quốc gia
    Đình được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2010Tu bổ lớn
    Đình được tu bổ. Trong đợt này, một số cột gỗ xoan đã mục được thay bằng cột gỗ lim, còn các cấu kiện mang họa tiết chạm thì được giữ nguyên. Đây là chi tiết cần biết khi quý vị nhìn bộ cột trong đình, vì không phải cột nào cũng còn là cột xoan gốc.
  • 2019Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 10 cho đình Đại Phùng.
  • 2025Đón bằng xếp hạng
    Lễ đón bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt được tổ chức tại đình ngày 15 tháng 2 năm 2025, cách ngày ký quyết định hơn năm năm.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói rõ. Về năm khởi dựng, một tài liệu chép đình có từ thời vua Trần Nghệ Tông trong khoảng những năm 1370 tới 1372, trong khi hồ sơ di tích và phần lớn bài viết chuyên môn đều ghi bộ khung hiện còn thuộc nửa cuối thế kỷ 17. Hai con số ấy không mâu thuẫn nếu hiểu rằng lớp thứ nhất nói về nơi thờ, còn lớp thứ hai nói về ngôi nhà gỗ đang đứng. Nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào chứng minh có một công trình đời Trần tại chính chỗ này, nên ghi cả hai chứ không chọn bừa một con số.

Về tuổi đình, các bài viết trên báo hay dùng con số tròn là bốn trăm năm. Nếu tính từ nửa cuối thế kỷ 17 thì con số đúng hơn là hơn ba trăm năm. Chúng tôi ghi theo mốc thế kỷ chứ không ghi theo con số tròn ấy.

IIIBộ Khung Gỗ Xoan Và Kho Chạm Thế Kỷ 17

Khuôn viên đình rộng 2.542 mét vuông, gồm ba hạng mục nối nhau là tiền tế, đại báihậu cung, cùng một giếng cổ nằm phía bên phải. Tòa đại bái là phần cổ nhất và cũng là phần làm nên tên tuổi của đình.

Bộ khung đại bái dựng theo kiểu chồng rường giá chiêng hạ kẻ, sáu hàng chân, tổng cộng 64 cột, cột lớn nhất có đường kính trên 0,6 mét. Mái lớn và tường thấp, tỷ lệ ấy khiến ngôi đình nhìn từ xa như một mái nhà đặt sát mặt đất. Đó không phải sở thích thẩm mỹ mà là cách người làng ứng phó với gió đồng bãi: mái càng rộng và càng thấp thì càng ít bị gió lật, và bóng mái đổ xuống sân càng sâu.

Vì sao gỗ xoan lại đáng nói tới thế

Gỗ xoan là gỗ vườn nhà. Cây xoan trồng bờ ao, trồng góc vườn, chừng mươi mười lăm năm là được cây, gỗ nhẹ, thớ thẳng, dễ đục, nhưng mềm hơn lim nhiều và kém chịu ẩm. Đình làng cỡ lớn xưa nay vẫn chuộng lim vì lim gánh được tải và nằm ngoài mưa nắng vẫn bền.

Đại Phùng làm khác. Cả bộ cấu kiện nguyên thủy dựng bằng xoan, nghĩa là ngôi đình này mọc lên từ chính vườn tược của làng chứ không từ một chuyến buôn gỗ rừng. Điều ấy kéo theo hai hệ quả. Thứ nhất, nó cho biết khả năng của người thợ: dám dùng gỗ mềm cho một bộ khung sáu hàng chân là dám tin vào cách tính mộng và cách phân tải của mình. Thứ hai, nó giải thích vì sao lớp chạm ở đây dày và mềm mại tới vậy: xoan dễ đục hơn lim, nên bàn tay thợ được thả rộng hơn.

Chạm ở đâu và chạm cái gì

Gần một nghìn họa tiết của thế kỷ 17 phân bố trên bảy loại cấu kiện: đầu dư, kẻ liền, cốn, xà thượng, chồng rường, bát đỡcâu đầu. Nói cách khác, thợ chạm không chọn vài chỗ dễ thấy để khoe tay nghề mà phủ kín toàn bộ phần gỗ nằm trên tầm mắt. Đầu dư, tức đoạn gỗ thò ra khỏi cột cái đỡ câu đầu, là chỗ thường được chạm đầu rồng. Cốn, tức mảng gỗ tam giác giữa hai cột, là chỗ rộng nhất, nên dành cho các cảnh có nhiều nhân vật.

Vinh quy bái tổ

Cảnh người đỗ đạt về làng, có võng lọng, có người đón. Đây là đề tài quen của chạm đình thế kỷ 17, phản chiếu ước vọng khoa cử của làng quê chứ không ghi một sự việc có thật nào.

Mả táng hàm rồng

Cảnh táng mộ vào thế đất được coi là hàm rồng. Đề tài này hiếm, và đáng chú ý ở chỗ nó đưa thẳng niềm tin phong thủy của dân gian lên bộ khung của một nơi thờ tự công.

Tiên tắm đầm sen

Cảnh tiên nữ giữa đầm sen. Mảng chạm thuộc loại mềm và uyển chuyển nhất trong đình, cho thấy lợi thế của gỗ xoan dưới lưỡi đục.

Đấu vật

Cảnh hai đô vật trong tư thế ghì nhau. Đề tài lấy thẳng từ trò chơi của hội làng, thuộc lớp chạm sinh hoạt vốn là nét riêng của điêu khắc đình làng thế kỷ 17.

Ca trù và cảnh sinh hoạt

Các mảng chạm người tấu nhạc, người ngồi nghe, cảnh trai gái tình tự. Những cảnh này không có trong nghệ thuật cung đình cùng thời, và chính chúng làm nên giá trị tư liệu của kho chạm đình làng.

Rồng, phượng và muông thú

Bên cạnh tứ linh còn có ngựa, voi, mèo, chim, cá. Việc con mèo và con cá được đặt cạnh con rồng trên cùng một bộ vì là điều chỉ đình làng mới cho phép.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm khi xem chạm đình. Nhiều người thấy cảnh đấu vật hay cảnh trai gái trên bộ vì rồi cho rằng thợ xưa chạm chơi, chạm lén, hoặc chạm để châm biếm. Theo các nghiên cứu về điêu khắc đình làng thế kỷ 17, không phải vậy. Lớp chạm sinh hoạt ấy nằm ở những vị trí trang trọng nhất của bộ khung, được làm công phu ngang các đề tài tứ linh, tức là được làng chấp thuận và được thợ cả bố trí có chủ ý. Đình làng thời ấy vừa là nơi thờ thần vừa là nhà chung của làng, nên cảnh đời thường có chỗ đứng chính đáng ngay trên đầu người đi lễ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải. Riêng với đình Đại Phùng, hồ sơ công khai không ghi rõ hướng đình theo địa bàn, nên chúng tôi không nêu một phương vị cụ thể nào, chỉ đọc những thứ nhìn thấy được trên thực địa.

Thế đất và hướng

Điều đáng đọc trước tiên là vùng đất. Đan Phượng nằm trong dải bãi giữa hai dòng, sông Hồng phía bắc và sông Đáy phía nam, tức đất bồi, đất mềm, đất chịu nước. Trong phép xem đất, một vùng nằm giữa hai dòng nước lớn được coi là vùng có khí nhưng khí động, vì nước hai bên đều đi chứ không đứng. Cách hóa giải quen thuộc của làng Việt là tự tạo lấy một điểm nước đứng ngay trong khuôn viên, và ở đây điểm ấy có thật: giếng cổ bên phải đình. Giếng làng trong lối nghĩ cũ không chỉ để lấy nước. Nó là minh đường thu nhỏ, một khoảng nước tĩnh đặt ngay trước cửa nơi thờ để giữ khí lại, thay cho cái ao hay cái hồ mà không phải làng nào cũng có.

Thứ hai là tỷ lệ mái và tường. Đại bái có mái rất lớn và tường rất thấp. Đọc theo con mắt cổ truyền, một nếp nhà mái sà, tường lửng, bốn phía thông gió là nếp nhà không chặn khí mà dẫn khí. Đình không dựng để giữ kín như hậu cung đền miếu, đình dựng để cả làng ra vào, nên cái thế mở ấy hợp chức năng. Ở vùng bãi nhiều gió, mái thấp còn là cách ghì công trình xuống đất, giữ cho nó vững theo nghĩa đen trước khi vững theo nghĩa phong thủy.

Thứ ba, và đây là chỗ riêng nhất của đình này, là chất liệu. Cả bộ khung dựng bằng gỗ xoan trồng trong làng. Theo lối nghĩ cổ truyền về đất và người, một công trình làm bằng vật liệu sinh ra từ chính mảnh đất ấy thì được coi là đồng khí, tức cùng một hơi đất, khác với công trình ghép bằng vật liệu chở từ nơi khác tới. Đây không phải điều ghi trong sách phong thủy chính thống mà là cách người làng vẫn nói về ngôi đình của mình, và chúng tôi ghi lại đúng như một cách nghĩ chứ không nâng nó thành nguyên tắc.

Sau cùng là vị trí trong tổng. Đại Phùng giữ ngôi đình có thờ vị thành hoàng chung của cả tám làng tổng Phùng, nghĩa là về mặt tín ngưỡng, làng này là chỗ tụ của một vùng chứ không phải một điểm lẻ. Trong cách đọc cổ truyền, nơi được cả vùng lấy làm chỗ tế chung thường là nơi có thế đất hội tụ hơn các làng bên. Chúng tôi nêu điều này như một lớp nghĩa để quý vị tham khảo, không phải như một kết luận đã được đo đạc.

VBa Kỳ Lễ Trong Năm

Đình có ba kỳ lễ chính, cả ba đều tính theo âm lịch và cả ba đều gắn với thân thế của hai vị được thờ. Kỳ lớn nhất là hội tháng Giêng, mở đúng ngày thần phả chép là ngày sinh của tướng Vũ Hùng.

Ba kỳ lễ chính trong năm cùng lệ thường tháng của đình, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích của địa phương Đan Phượng và thần phả lưu tại đình..
Ngày âm lịchLễNội dung
Ngày 18 tháng GiêngNgày sinh tướng Vũ HùngHội lớn nhất trong năm của làng, gồm lễ tế Thành hoàng tại đại bái và phần hội ngoài sân với cờ người, thả chim bồ câu và các trò chơi cổ truyền.
Ngày 12 tháng HaiLễ tưởng niệm Tích Lịch Hỏa QuangKỳ lễ dành cho vị thiên thần là thành hoàng chung của tổng Phùng xưa, quy mô gọn hơn hội tháng Giêng nhưng giữ đủ phần tế.
Ngày 18 tháng Mười MộtNgày hóa tướng Vũ HùngLễ giỗ theo thần phả, tế và dâng hương tại đình, không mở phần hội.
Rằm và mùng mộtLệ thường thángBan khánh tiết của làng thắp hương theo lệ, không có nghi thức tế lớn.

Việc đình giữ ba kỳ lễ cho hai vị thần là cách sắp xếp rất đáng chú ý. Vị thiên thần được một kỳ, vị nhân thần được hai kỳ, một cho ngày sinh và một cho ngày hóa. Lối bày ấy cho thấy trong nếp sống của làng, vị thần gần gũi hơn là vị có tên có tuổi, còn vị thần của trời thì đứng cao hơn nhưng được nhắc ít lần hơn. Đây là điều thường thấy ở những ngôi đình thờ song song cả thiên thần lẫn nhân thần.

Phần hội ngoài sân giữ được các trò cổ của vùng, trong đó cờ người là trò được nhắc tới nhiều nhất trong tư liệu địa phương. Sân đình rộng và mái đổ bóng sâu, hai thứ ấy khiến khoảng sân trước đại bái thành chỗ diễn tự nhiên mà không cần dựng thêm gì.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Đại Phùng, xã Đan Phượng cũ, nay là xã Đan Phượng, Hà Nội
Đường tới
Đình nằm ở thôn Đại Phùng, xã Đan Phượng cũ, nay là xã Đan Phượng, Hà Nội, cách trung tâm thành phố chừng hai mươi cây số về phía tây bắc theo quốc lộ 32. Đình ở ngay trong làng nên lối vào là đường làng chứ không phải đường lớn.
Toạ độ
21.0919, 105.6653
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải nhà trưng bày, nên lệ của làng cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không trèo lên bệ hay tựa vào cột để xem chạm cho gần. Các mảng chạm đều nằm trên cao và xem bằng mắt là đủ, xin quý vị không chạm tay vào gỗ, vì mồ hôi tay là thứ làm hỏng bề mặt gỗ xoan nhanh hơn cả mưa nắng. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Đại Phùng

Contribute photos, information or video for Dai Phung Communal House

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Đại Phùng thờ ai

Đình thờ hai vị. Đức Thánh Tích Lịch Hỏa Quang thượng đẳng thần là thiên thần, được coi là thành hoàng chung của cả tổng Phùng xưa gồm tám làng. Tướng quân Vũ Hùng là nhân thần, người có công dẹp giặc thời nhà Trần ở thế kỷ 14 và là thành hoàng riêng của làng Đại Phùng.

Đình Đại Phùng có gì đặc biệt

Hai thứ. Thứ nhất là bộ khung dựng bằng gỗ xoan, loại gỗ vườn nhà mềm và rẻ, chuyện hiếm ở một ngôi đình sáu mươi tư cột. Thứ hai là gần một nghìn họa tiết chạm thế kỷ 17 phủ kín đầu dư, kẻ liền, cốn, xà thượng, chồng rường, bát đỡ và câu đầu.

Đình Đại Phùng xây dựng năm nào

Bộ khung hiện còn thuộc nửa cuối thế kỷ 17, định niên đại theo phong cách chạm khắc vì đình không để lại lạc khoản niên hiệu. Thần phả của đình thì chép nơi thờ có gốc từ đời Trần, một tài liệu nêu khoảng những năm 1370 tới 1372. Hai mốc ấy thuộc hai lớp tư liệu khác nhau.

Đình Đại Phùng được xếp hạng năm nào

Đình được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991, rồi được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019, thuộc đợt 10. Lễ đón bằng xếp hạng được tổ chức tại đình ngày 15 tháng 2 năm 2025.

Hội đình Đại Phùng mở ngày nào

Hội lớn nhất mở ngày 18 tháng Giêng âm lịch, đúng ngày thần phả chép là ngày sinh của tướng Vũ Hùng. Ngoài ra còn lễ tưởng niệm Tích Lịch Hỏa Quang ngày 12 tháng Hai và lễ ngày hóa của tướng Vũ Hùng ngày 18 tháng Mười Một, cả ba đều tính theo âm lịch.

Đọc Tiếp