VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Thổ Tang

Đình làng Thổ Tang

Ngôi đình của một làng buôn, giữ lại hai mươi mốt bức chạm gỗ tả đời sống thường ngày của người Việt thế kỷ mười bảy.

Niên đại
Thế kỷ 17
đời Lê trung hưng, theo hồ sơ di tích
Bức chạm gỗ
21 bức
ở kẻ hiên, kẻ, vì nách, đầu dư và cả tay ngai thờ
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018

Từ đường lớn rẽ vào, quý vị đi qua một dãy hàng quán đông người rồi mới tới sân đình. Đình Thổ Tang không đứng một mình giữa cánh đồng như nhiều ngôi đình Bắc Bộ khác. Nó nằm giữa một làng buôn, bốn phía là nhà cửa và việc mua bán, và chính chỗ ấy đã quy định cách ngôi đình này được dựng, được giữ, rồi được sửa suốt mấy trăm năm.

Bước vào trong, mắt sẽ bị kéo lên cao. Trên các đầu kẻ, các vì nách, các đầu dư của bộ khung gỗ lim, người thợ thế kỷ mười bảy đã để lại hai mươi mốt bức chạm mà nội dung không phải rồng phượng trang trí. Đó là người đi cày, người bắn hổ, người đá cầu, người đánh cờ, người uống rượu, và cả một cảnh đánh ghen. Đây là lý do khiến giới nghiên cứu điêu khắc đình làng nhắc tới Thổ Tang trước nhiều ngôi đình lớn hơn.

IThần Lân Hổ Và Hai Vị Phối Thờ

Đình thờ Lân Hổ đô thống Đại vương, tên thật theo thần tích là Phùng Tráng, một số tài liệu gọi ông là Phùng Lân Hổ. Cùng thờ trong đình còn có bà Phùng Thị Dung, mẹ của thần, và thần Nuôi Ná. Ba vị ấy làm thành lớp thờ chính của ngôi đình.

Cần nói rõ ngay: đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Người lo việc thờ tự là ban khánh tiết của làng chứ không phải tăng ni hay đạo sĩ. Ngôi chùa Tùng Vân bên cạnh mới là cơ sở của nhà Phật, và đó là hai việc khác nhau đứng cạnh nhau, không phải một.

Theo giáo nghĩa

Theo cách thần tích tự kể, Lân Hổ là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông đời Trần. Hồ sơ di tích chép ông giữ chức Đô ngự long quân, tiến trước đánh tan quân giặc dưới triều Trần Nhân Tông, được phong tước Lân Hổ Hầu, rồi mất ở vùng biên khi vua đi đánh giặc ở Ma Sa. Sau khi mất, ông được nhiều làng trong vùng tôn làm thành hoàng.

Hai chữ Lân Hổ trong danh hiệu là chỗ đáng chú ý. Lân là con vật của cõi linh, hổ là con vật của núi rừng có thật. Ghép hai con ấy vào một danh hiệu là cách người xưa nói rằng vị này vừa dũng mãnh ở đời thường vừa được xếp vào hàng linh thiêng. Chi tiết ấy về sau còn trở lại trên chính các bức chạm của đình, nơi con hổ xuất hiện nhiều lần.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, phần tiểu sử của thần chủ yếu dựa vào thần tích và ngọc phả lưu tại đình cùng các làng lân cận, chứ không dựa vào sử biên niên của triều đình. Các tài liệu đời nay khi nhắc tới ông đều dẫn lại lớp tư liệu ấy. Vì vậy chúng tôi ghi phần này ở dạng thần tích chép lại, không ghi ở dạng sử liệu đã kiểm chứng.

Một điểm nữa: các nguồn chép không thống nhất về tên. Có tài liệu ghi tên thật là Phùng Tráng, có tài liệu ghi thẳng là Phùng Lân Hổ và coi Lân Hổ là tên chứ không phải danh hiệu. Chúng tôi ghi cả hai cách và không chọn bừa một cách.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm về đình làng nói chung, và về Thổ Tang nói riêng: nhiều người thấy đình có hương án, có hoành phi câu đối, có người vào lễ, thì xếp luôn đình vào nhà chùa hoặc vào đền thờ Đạo Giáo.

Theo tư liệu di tích, đình làng Việt trước hết là nhà chung của làng, nơi họp việc làng, nơi phân ngôi thứ, nơi mở hội, và đồng thời là nơi thờ thành hoàng. Chức năng thờ tự và chức năng hành chính của làng nằm chung trong một nếp nhà, và chính vì thế mà mặt bằng đình khác hẳn mặt bằng chùa: gian giữa rộng và trống, sàn gỗ hoặc nền gạch để ngồi họp, hậu cung nhỏ đặt ở phía trong cùng. Ai quen đi chùa mà lần đầu vào đình thường thấy lạ ở chỗ ấy.

IITừ Thế Kỷ Mười Bảy Đến Lần Đại Trùng Tu Gần Đây

Hồ sơ di tích xếp đình Thổ Tang vào thế kỷ mười bảy, giai đoạn mà đình làng Bắc Bộ đạt tới độ chín nhất về chạm khắc. Niên đại ấy được suy ra từ chính phong cách của bộ khung gỗ và của các bức chạm, chứ không từ một tấm bia ghi năm dựng. Các mốc về sau thì rõ hơn, vì đã có văn bản.

  • Thế kỷ 17Dựng đình
    Niên đại khởi dựng được xác định theo phong cách kiến trúc và chạm khắc của bộ khung gỗ lim, thuộc đời Lê trung hưng. Không có bia ghi năm dựng.
  • Khoảng 1778Bức hoành phi Hòa Vi Quý
    Theo tư liệu địa phương, ba chữ Hòa Vi Quý do một vị Tổng đốc Sơn Tây ban cho làng để dàn hòa việc làng, rồi được làm thành hoành phi treo trong đình.
  • Thế kỷ 18 tới 19Các lần tu bổ
    Hậu cung và một số cấu kiện mang dấu vết tu bổ của giai đoạn này, thể hiện ở lối tường hồi bít đốc và bờ nóc đắp gạch hoa chanh, mảnh hơn phần gỗ của đại đình.
  • 1964Di tích quốc gia
    Đình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Ngôi chùa Tùng Vân bên cạnh được xếp hạng riêng vào năm 1992.
  • 2018Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ xếp hạng đình Thổ Tang là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1820 ngày 24 tháng 12 năm 2018.
  • 2022 tới 2023Đại trùng tu
    Đình được trùng tu lớn, hạ giải và tu bổ bộ khung gỗ cùng phần mái. Đây là lần can thiệp quy mô nhất trong nhiều chục năm.
Theo sử liệu

Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Về ngôi thứ của đình trong vùng, có bài gọi Thổ Tang là ngôi đình cổ nhất còn lại của đất Vĩnh Phúc cũ. Chúng tôi không tìm được văn bản của cơ quan quản lý di sản khẳng định điều ấy, nên chỉ ghi lại như một cách nói của báo chí địa phương, không ghi như một kết luận.

Về mặt chữ Hán của hai tiếng Thổ Tang, chúng tôi cũng phải nói rõ: ba chữ ghi ở đầu bài là chữ chúng tôi suy ra theo âm, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một bảng cổng nào. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hiện vật của đình, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.

IIIBộ Khung Gỗ Và Hai Mươi Mốt Bức Chạm

Đình dựng theo bố cục chữ Đinh, gồm tòa đại đình nằm ngang và hậu cung nối vào phía sau. Hồ sơ di tích ghi kích thước tòa đại bái là 25,3 mét nhân 14,78 mét. Bộ khung làm bằng gỗ lim, kết cấu chồng rường giá chiêng, mái lợp ngói, bốn góc đao cong.

Hậu cung nối với đại đình theo lối liên kết mái, xây tường hồi bít đốc, bờ nóc đắp gạch hoa chanh, các cấu kiện gỗ mảnh hơn hẳn phần đại đình. Nhìn hai phần ấy cạnh nhau là thấy ngay hai lớp thời gian khác nhau trong cùng một công trình.

Theo sử liệu

Về số gian và số cột, các nguồn ghi khác nhau khá xa, xin ghi cả ra chứ không chọn bừa. Hồ sơ của cơ quan quản lý di sản mô tả đại bái theo lối ba gian hai chái lớn hai chái nhỏ, với 48 cột gồm 8 cột cái đường kính 0,7 mét, 16 cột quân đường kính 0,52 mét và 24 cột hiên đường kính 0,45 mét. Một số báo lại mô tả đình theo lối năm gian hai dĩ với 56 cột xếp thành tám hàng ngang sáu hàng dọc, và có bài ghi tới 60 cột. Ba cách mô tả này nhiều khả năng chỉ là ba cách đếm khác nhau trên cùng một bộ khung, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm.

Về đường kính cột lớn nhất cũng vậy: hồ sơ ghi cột cái đường kính 0,7 mét, trong khi tư liệu của ngành du lịch địa phương ghi cột lớn nhất đường kính 82 xăngtimét và cho biết trong đình còn một cây cột xoan đường kính 70 xăngtimét chưa bị mối mọt.

Chạm ở đâu và chạm cái gì

Điều làm nên tiếng của Thổ Tang không nằm ở kích thước mà nằm ở vị trí đặt chạm. Người thợ không dồn hết công vào một vài mảng lớn dễ thấy, mà rải chạm khắp bộ khung: trên kẻ hiên, trên kẻ, trên vì nách, trên đầu dư, trên lá lật, và theo mô tả trong hồ sơ di tích thì chạm cả trên tay ngai thờ. Nghĩa là muốn xem hết thì phải đi quanh, ngẩng lên, và nhìn vào cả những chỗ khuất.

Đề tài thì chia làm hai lớp. Lớp thứ nhất là đề tài quen của đình làng: rồng, phượng, tứ linh, tứ quý, cửa võng chạm cửu long tranh châu và lưỡng long chầu nguyệt. Rồng ở đây có lối riêng, tai to, râu dài, nanh vắt lên, phần ức chạm hoa. Lớp thứ hai mới là chỗ hiếm, và là chỗ khiến người ta tìm tới.

Ngày hội xuống đồng

Bức được nhắc tới nhiều nhất, tả cảnh lễ mở đầu mùa cày. Trong một khuôn gỗ hẹp có đủ nhiều hạng người, người cầm cày, người dắt trâu, người đứng xem, mỗi người một tư thế. Đây là tư liệu hình ảnh hiếm về một nghi lễ nông nghiệp mà ngày nay chỉ còn biết qua sách.

Bắn hổ và cưỡi hổ

Hai bức khác nhau, một tả người giương cung nhắm con hổ, một tả người ngồi trên lưng hổ. Con hổ trở đi trở lại trong đình nhiều lần, và điều ấy khó tách khỏi danh hiệu Lân Hổ của vị thần được thờ.

Đá cầu và đánh cờ

Hai bức tả trò chơi. Bức đá cầu chạm hai người trong thế chân đang hất, thân người ngả theo đà. Bức đánh cờ tả hai người ngồi đối diện trên một bàn cờ, dáng ngồi khác nhau, người chống tay người khoanh tay.

Uống rượu

Một mảng chạm bốn người đàn ông ngồi uống rượu, phía trên là thân rồng uốn. Cách đặt cảnh sinh hoạt ngay dưới hình rồng là điều mà điêu khắc cung đình không bao giờ làm, và cũng là điều chỉ đình làng mới dám làm.

Đánh ghen và vợ chồng lười

Hai bức tả thói thường của con người, không né tránh và không tô vẽ. Giới nghiên cứu coi đây là bằng chứng rằng người thợ đình làng được quyền đưa cả cái đáng chê của đời sống vào chỗ thờ tự, như một lời nhắc cho làng.

Tiên nữ cưỡi rồng và cưỡi phượng

Các bức chạm tiên nữ tóc búi cao, đeo trang sức, ngồi trên lưng rồng hoặc lưng phượng. Đây là mảng nối giữa lớp đề tài linh thiêng và lớp đề tài đời thường, và cũng là mảng cho thấy tay nghề tả người của thợ đã tới đâu.

Ngoài chạm khắc, trong đình còn một hiện vật thuộc loại khác hẳn: bức hoành phi ba chữ Hòa Vi Quý, nghĩa là lấy sự hòa thuận làm điều quý. Theo tư liệu địa phương, ba chữ ấy do một vị Tổng đốc Sơn Tây ban cho làng vào khoảng năm 1778, khi trong làng có việc bất hòa, rồi được làm thành hoành phi treo lại. Ba chữ ấy không phải danh hiệu thần, không phải mỹ tự vua phong, mà là một lời dặn về cách ăn ở của người trong làng. Đặt một lời dặn như thế lên trục giữa của nơi thờ tự là cách làm ít gặp, và người Thổ Tang giữ nó như giữ một phần lai lịch của làng mình.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay bị gộp: ngay cạnh đình là chùa Tùng Vân, và nhiều bài viết gộp hai nơi thành một cụm rồi kể lẫn lộn. Theo hồ sơ di tích, đây là hai di tích được xếp hạng riêng, đình xếp hạng năm 1964 còn chùa xếp hạng năm 1992, và chúng thuộc hai lối thờ khác nhau. Chùa Tùng Vân là cơ sở của nhà Phật, giữ chuông đồng, khánh đồng và tượng Phật đất, do sư trụ trì lo việc. Đình là nhà chung của làng, thờ thành hoàng, do ban khánh tiết lo việc. Đứng cạnh nhau không có nghĩa là cùng một nơi.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nhận ra kiểu đất. Thổ Tang nằm trên dải đất cao ven sông Hồng, vùng đồng bãi phía dưới ngã ba Bạch Hạc, nơi sông Hồng, sông Lô và sông Đà đã gặp nhau rồi mới chảy xuôi. Đây là đất phù sa, bằng phẳng, không có núi để làm hậu chẩm và cũng không có gò lớn. Phép xem đất cổ truyền vốn dựng lên từ địa hình có núi có sông, đem nguyên phép ấy áp vào một vùng bãi thì không khớp. Ở đây phải đọc theo lối biến: tìm xem thứ gì đang giữ vai của núi và thứ gì giữ vai của nước.

Thứ giữ vai của nước thì rõ, là chính sông Hồng chảy ở phía ngoài. Nhưng con sông lớn ấy, theo lối cũ, thuộc loại nước quá mạnh và quá động, tụ khí kém. Vì vậy làng không dựng đình quay thẳng ra sông mà lùi hẳn vào trong, lấy các ao làng và mương nước nhỏ trong khu dân cư làm chỗ tụ gần. Thứ giữ vai của núi là dải đất cao và tuyến đê, thứ mà ở vùng bãi sông Hồng luôn được coi là xương sống của làng, vì làng nào cũng dựa vào đó mà tránh nước.

Điều đáng đọc nhất ở Thổ Tang là chỗ đứng của ngôi đình trong làng. Đình làng thuần nông thường đặt ở đầu làng, quay mặt ra cánh đồng, để thần trông coi phần đất làm ăn của dân. Thổ Tang không như vậy. Đây là một làng buôn, làng có chợ, có bến, có người đi xa rồi về, và ngôi đình nằm giữa khu dân cư, bốn phía là nhà ở và hàng quán. Đọc theo lối cổ truyền thì đó là cách lấy chỗ tụ người làm chỗ tụ khí. Với một làng mà cái sinh ra của cải là việc mua bán chứ không phải thửa ruộng, thì trung tâm khí của làng nằm ở chỗ người qua lại, và đình được đặt đúng vào đó.

Đi cùng với chỗ đứng ấy là quan hệ giữa đình và chùa Tùng Vân. Hai công trình đứng gần nhau, làm thành một trục tín ngưỡng ở giữa làng. Theo lối nghĩ cũ, đình giữ phần dương, tức việc của người sống, việc làng, việc ngôi thứ. Chùa giữ phần âm, tức việc cầu siêu, việc hậu. Một làng giữ đủ cả hai đầu ấy ngay giữa khu dân cư là một làng có bố cục tín ngưỡng khép kín, không phải đi đâu xa.

Sau cùng là hướng. Hồ sơ di tích không ghi hướng của đình theo địa bàn, nên chúng tôi không nêu một con số độ nào. Chỉ xin nói một điều chung của đình Bắc Bộ: các hướng được chuộng là nam và đông nam, vì đón được gió mát mùa hè và tránh được gió lạnh thổi từ phương bắc xuống, và phần lớn đình trong vùng đồng bãi này đều theo lối ấy. Còn một điều riêng nữa đáng ghi. Ba chữ Hòa Vi Quý treo trên trục giữa của đình, theo cách đọc phong thủy, đóng vai giống một bức bình phong chữ: cái được đặt ở chính giữa lối nhìn thì cái ấy điều tiết khí của cả gian. Làng đặt vào đó một lời dặn về sự hòa thuận, chứ không đặt một mỹ tự về công trạng, và điều đó nói ra cái mà làng ấy sợ mất nhất.

VLễ Hội Tháng Giêng

Lễ lớn của đình rơi vào tháng Giêng âm lịch, gắn với việc tưởng niệm thần Lân Hổ. Về ngày cụ thể và về nhịp mở hội thì các nguồn ghi khác nhau, chúng tôi ghi cả hai cách ở bảng dưới đây và nói rõ chỗ vênh ngay sau bảng.

Các kỳ lễ của đình, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích và báo chí địa phương. Ngày mở hội được các nguồn ghi khác nhau, xin xem phần nói rõ ngay dưới bảng..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Mùng 10 tới 12 tháng GiêngLễ hội chính của đìnhTheo tư liệu của ngành du lịch địa phương, hội mở trong ba ngày, gồm rước sắc, tế lễ, đấu vật, hát ca trù và hát chầu văn, cùng các trò chơi của làng.
Mùng 9 tháng GiêngLễ tưởng niệm thần Lân HổMột số nguồn báo chí ghi ngày này là ngày làng làm lễ tưởng niệm thần, có tế lễ, diễn xướng và trò chơi dân gian.
Rằm và mùng một hằng thángLệ dâng hương thường kỳBan khánh tiết mở cửa đình, dâng hương theo lệ của làng, quy mô gọn.
Trong kỳ hộiRước sắc và tếĐoàn rước đưa sắc phong từ nơi cất giữ ra đình, sau đó đội tế hành lễ theo nghi thức tế đình của Bắc Bộ.
Theo sử liệu

Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng. Thứ nhất là ngày mở hội: tư liệu của ngành du lịch địa phương ghi hội mở từ mùng mười tới mười hai tháng Giêng, trong khi một số bài báo ghi làng làm lễ tưởng niệm thần vào mùng chín tháng Giêng. Thứ hai là nhịp mở hội: có tài liệu chép lễ hội lớn được làm năm năm một lần chứ không phải năm nào cũng làm, còn các bài khác lại viết như một kỳ lễ hằng năm. Nhiều khả năng đây là chỗ khác nhau giữa kỳ đại hội theo lệ cũ và kỳ lễ thường niên hiện nay, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm, nên ghi cả hai.

Phần đáng chú ý trong hội Thổ Tang là hát ca trù và hát chầu văn được giữ trong nghi thức chứ không chỉ là tiết mục. Ở nhiều nơi, phần hát đã tách khỏi phần tế và trở thành biểu diễn. Ở đây hai phần vẫn nằm trong cùng một mạch, và người trong làng coi đó là một phần của việc thờ chứ không phải phần phụ thêm cho vui.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thị trấn Thổ Tang cũ, huyện Vĩnh Tường, nay là xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ
Đường tới
Đình nằm giữa khu dân cư của xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ, thuộc thị trấn Thổ Tang cũ, huyện Vĩnh Tường. Chùa Tùng Vân ở ngay bên cạnh, đi bộ vài phút là tới.
Toạ độ
21.2546, 105.4897
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong đình, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào các cấu kiện gỗ và các bức chạm. Muốn xem kỹ mảng chạm thì đứng dưới mà nhìn lên, không leo trèo và không dựa vào cột. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Chùa Tùng Vân bên cạnh là nơi thờ riêng, có lệ riêng của nhà chùa.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Thổ Tang

Contribute photos, information or video for Tho Tang Communal House

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Thổ Tang thờ ai

Đình thờ Lân Hổ đô thống Đại vương, tên thật theo thần tích là Phùng Tráng, người có công trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông đời Trần. Cùng thờ trong đình còn có bà Phùng Thị Dung là mẹ của thần và thần Nuôi Ná. Đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.

Đình Thổ Tang có bao nhiêu bức chạm gỗ

Hai mươi mốt bức, đặt ở kẻ hiên, kẻ, vì nách, đầu dư, lá lật và theo hồ sơ di tích thì có cả trên tay ngai thờ. Đề tài gồm cả tứ linh tứ quý lẫn cảnh sinh hoạt như ngày hội xuống đồng, bắn hổ, cưỡi hổ, đá cầu, đánh cờ, uống rượu, đánh ghen và tiên nữ cưỡi rồng cưỡi phượng.

Hòa Vi Quý nghĩa là gì

Nghĩa là lấy sự hòa thuận làm điều quý. Theo tư liệu địa phương, ba chữ này do một vị Tổng đốc Sơn Tây ban cho làng vào khoảng năm 1778 khi trong làng có việc bất hòa, rồi được làm thành hoành phi treo trong đình và giữ tới nay.

Đình Thổ Tang có bao nhiêu cột

Các nguồn ghi khác nhau. Hồ sơ của cơ quan quản lý di sản ghi 48 cột, gồm 8 cột cái, 16 cột quân và 24 cột hiên. Một số báo ghi 56 cột xếp tám hàng ngang sáu hàng dọc, có bài ghi tới 60 cột. Nhiều khả năng đây là các cách đếm khác nhau trên cùng một bộ khung.

Lễ hội đình Thổ Tang vào ngày nào

Lễ lớn rơi vào tháng Giêng âm lịch. Tư liệu của ngành du lịch địa phương ghi hội mở từ mùng mười tới mười hai tháng Giêng, một số báo lại ghi mùng chín tháng Giêng, và có tài liệu chép kỳ đại hội được làm năm năm một lần. Chỗ vênh này đã nói rõ trong bài.

Đọc Tiếp