Từ đường lớn rẽ vào, quý vị đi qua một dãy hàng quán đông người rồi mới tới sân đình rợp bóng bốn cây đa cổ thụ. Đình Thổ Tang không đứng một mình giữa cánh đồng như nhiều ngôi đình Bắc Bộ khác. Nó nằm giữa một làng buôn, bốn phía là nhà cửa và việc mua bán, bên cạnh có một hồ nước nhỏ, và chính chỗ ấy đã quy định cách ngôi đình này được dựng, được giữ, rồi được sửa suốt mấy trăm năm.
Bước vào trong, mắt sẽ bị kéo lên cao. Trên các đầu kẻ, các vì nách, các đầu dư của bộ khung gỗ lim, người thợ thế kỷ mười bảy đã để lại hai mươi mốt bức chạm mà nội dung không chỉ có rồng phượng trang trí. Đó là người đi cày, người bắn hổ, người đá cầu, người đánh cờ, người uống rượu, và cả một cảnh đánh ghen. Đây là lý do khiến giới nghiên cứu điêu khắc đình làng nhắc tới Thổ Tang trước nhiều ngôi đình lớn hơn.

IThần Lân Hổ và hai vị phối thờ
Đình thờ Lân Hổ đô thống Đại vương, tên thật theo thần tích là Phùng Tráng, một số tài liệu gọi ông là Phùng Lân Hổ. Cùng thờ trong đình còn có bà Phùng Thị Dung, mẹ của thần, và thần Nuôi Ná. Ba vị ấy làm thành lớp thờ chính của ngôi đình.
Cần nói rõ ngay rằng đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, một lối thờ không giáo chủ, không kinh sách bắt buộc, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào. Người lo việc thờ tự là ban khánh tiết của làng chứ không phải tăng ni hay đạo sĩ. Ngôi chùa Tùng Vân bên cạnh mới là cơ sở của nhà Phật, và đó là hai việc khác nhau đứng cạnh nhau, không phải một.
Theo hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa, Lân Hổ tên thật là Phùng Tráng, quê ở xã Phùng Bảng, huyện Minh Nghĩa, tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc vùng Đồng Thái, Ba Vì, Hà Nội). Ông từng đánh hổ cứu dân, sau đem người theo vua Trần đánh quân Nguyên Mông, giữ chức Đô ngự long quân, tiến trước đánh tan quân giặc dưới triều Trần Nhân Tông, được phong tước Lân Hổ Hầu, rồi mất ở vùng biên khi vua đi đánh giặc ở Ma Sa. Trong khi đó, truyền ngôn địa phương kể rằng ông bị thương ở trận Bạch Hạc, phi ngựa qua đất Địa Tang (tên cũ của Thổ Tang trước thời Pháp thuộc), nơi giọt máu rơi xuống dân làng cắm cành trúc làm dấu lập miếu Trúc, được vua Trần ban tám chữ Nam thiên tráng khí, Bắc khấu hàn tâm và các triều đại ban bảy đạo sắc phong.
Hai chữ Lân Hổ trong danh hiệu là chỗ đáng chú ý. Lân là con vật của cõi linh, hổ là con vật của núi rừng có thật. Ghép hai con ấy vào một danh hiệu là cách người xưa nói rằng vị này vừa dũng mãnh ở đời thường vừa được xếp vào hàng linh thiêng. Chi tiết ấy về sau còn trở lại trên chính các bức chạm của đình, nơi con hổ xuất hiện nhiều lần.
Trên phương diện khảo được, phần tiểu sử của thần chủ yếu dựa vào thần tích và ngọc phả lưu tại đình cùng các làng lân cận, chứ không dựa vào sử biên niên của triều đình. Các tài liệu đời nay khi nhắc tới ông đều dẫn lại lớp tư liệu ấy. Vì vậy thư viện ghi phần này ở dạng thần tích chép lại, đồng thời nêu rõ cả hai mạch kể về nơi hóa của thần giữa hồ sơ di sản và truyền ngôn địa phương.
Một điểm nữa là các nguồn chép không thống nhất về tên. Hồ sơ di tích ghi tên thật là Phùng Tráng, còn nhiều bài báo ghi thẳng là Phùng Lân Hổ và coi Lân Hổ là tên chứ không phải tước hiệu. Thư viện ghi cả hai cách và không chọn bừa một cách.
Một chỗ hay hiểu lầm về đình làng nói chung, và về Thổ Tang nói riêng, là nhiều người thấy đình có hương án, có hoành phi câu đối, có người vào lễ, thì xếp luôn đình vào nhà chùa hoặc vào đền thờ Đạo Giáo.
Theo tư liệu di tích, đình làng Việt trước hết là nhà chung của làng, nơi họp việc làng, nơi phân ngôi thứ, nơi mở hội, và đồng thời là nơi thờ thành hoàng. Chức năng thờ tự và chức năng hành chính của làng nằm chung trong một nếp nhà, và chính vì thế mà mặt bằng đình khác hẳn mặt bằng chùa, gian giữa rộng và trống, sàn gỗ hoặc nền gạch để ngồi họp, hậu cung nhỏ đặt ở phía trong cùng. Ai quen đi chùa mà lần đầu vào đình thường thấy lạ ở chỗ ấy.
IITừ thế kỷ mười bảy đến lần đại trùng tu gần đây
Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa xếp đình Thổ Tang vào cuối thế kỷ mười bảy, giai đoạn mà đình làng Bắc Bộ đạt tới độ chín về chạm khắc. Niên đại ấy được suy ra từ phong cách của bộ khung gỗ và các bức chạm, bên cạnh truyền ngôn của các cụ cao niên trong làng rằng đình hoàn thành vào năm 1617. Các mốc về sau thì rõ hơn vì đã có hiện vật và văn bản.
- Thế kỷ 17Dựng đìnhHồ sơ di tích xác định đình dựng vào cuối thế kỷ 17 thời Lê trung hưng theo phong cách kiến trúc và chạm khắc của bộ khung gỗ lim. Truyền ngôn địa phương thì kể rằng đình được làm xong năm 1617 cùng bức hoành phi bốn chữ Thần nhân tư duyệt.
- Khoảng 1778Bức hoành phi Hòa Vi QuýTheo tư liệu địa phương, ba chữ Hòa Vi Quý do một vị Tổng đốc Sơn Tây ban cho làng để dàn hòa mối bất hòa giữa hai phe Tam Lâm và Tứ Xóm, rồi được làm thành hoành phi treo trong đình.
- Thế kỷ 18 tới 19Các lần tu bổHậu cung và một số cấu kiện mang dấu vết tu bổ của giai đoạn này, thể hiện ở lối tường hồi bít đốc và bờ nóc đắp gạch hoa chanh, mảnh hơn phần gỗ của đại đình.
- 1964Di tích quốc giaĐình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Trước đó, vào năm 1961, hệ sàn gỗ cổ trong lòng đình bị mất, chỉ còn dấu lỗ mộng trên bụng câu đầu. Ngôi chùa Tùng Vân bên cạnh được xếp hạng riêng vào năm 1992.
- 2018Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ xếp hạng đình Thổ Tang là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1820/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2018.
- 2022 tới 2023Đại trùng tuĐình được trùng tu lớn, hạ giải và tu bổ bộ khung gỗ cùng phần mái. Đây là lần can thiệp quy mô nhất trong nhiều chục năm.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin nói thẳng. Về năm dựng đình, hồ sơ của Cục Di sản văn hóa định niên đại vào cuối thế kỷ mười bảy dựa trên nghệ thuật điêu khắc, trong khi báo chí dẫn lời các cụ trong làng nói đình dựng xong năm 1617 nhưng vì dân làng bất hòa nên mãi tới khoảng năm 1778, khi có bức hoành phi Hòa Vi Quý, mới mở hội khánh thành. Về ngôi thứ của đình trong vùng, một số báo gọi Thổ Tang là ngôi đình cổ xưa bậc nhất của vùng Vĩnh Phúc cũ, thư viện ghi nhận như một cách nói của báo chí địa phương.
Về mặt chữ Hán của hai tiếng Thổ Tang, thư viện cũng phải nói rõ rằng ba chữ ghi ở đầu bài là chữ suy ra theo âm (vốn đổi từ tên cũ Địa Tang sang Thổ Tang vào thời Pháp thuộc), không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một bảng cổng nào. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hiện vật của đình, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IIIBộ khung gỗ và hai mươi mốt bức chạm
Đình dựng theo bố cục chữ Đinh, quay hướng tây, gồm tòa đại bái nằm ngang và hậu cung nối vào phía sau. Trước sân đình có bốn cây đa cổ thụ đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam, bên cạnh có hồ nước nhỏ. Hồ sơ di tích ghi kích thước tòa đại bái là 25,3 mét nhân 14,78 mét. Bộ khung làm bằng gỗ lim, kết cấu chồng rường giá chiêng, mái lợp ngói mũi hài, bốn góc đao cong. Xưa kia lòng đình có hệ sàn gỗ nâng cao, nhưng sàn đã mất từ năm 1961, nay ở bụng câu đầu vẫn còn nguyên các lỗ mộng của dầm sàn.
Hậu cung gồm ba gian, nối với gian giữa đại bái theo lối liên kết mái, xây tường hồi bít đốc, bờ nóc đắp gạch hoa chanh, các cấu kiện gỗ mảnh hơn hẳn phần đại bái. Nhìn hai phần ấy cạnh nhau là thấy ngay hai lớp thời gian khác nhau trong cùng một công trình.
Về số gian và số cột, các nguồn ghi khác nhau khá xa, xin ghi cả ra chứ không chọn bừa. Hồ sơ của Cục Di sản văn hóa mô tả đại bái theo lối ba gian hai chái lớn hai chái nhỏ, gồm sáu hàng chân cột với tổng cộng 48 cột, chia thành 8 cột cái đường kính 0,7 mét, 16 cột quân đường kính 0,52 mét và 24 cột hiên đường kính 0,45 mét. Một số báo lại mô tả đình theo lối năm gian hai dĩ với 56 cột xếp thành tám hàng ngang sáu hàng dọc, và có bài ghi tổng cộng 60 cột (nếu tính gộp cả cột hậu cung). Ba cách mô tả này nhiều khả năng đến từ cách gọi tên gian chái và phạm vi đếm cột khác nhau trên cùng một công trình.
Về đường kính cột lớn nhất cũng vậy, hồ sơ ghi cột cái đường kính 0,7 mét, trong khi một số bài báo địa phương ghi cột lớn nhất đường kính 82 xăngtimét và cho biết trong đình có một cây cột xoan đường kính 70 xăngtimét chưa bị mối mọt.
Chạm ở đâu và chạm cái gì
Điều làm nên tiếng của Thổ Tang không nằm ở kích thước mà nằm ở vị trí đặt chạm. Người thợ không dồn hết công vào một vài mảng lớn dễ thấy, mà rải chạm khắp bộ khung. Theo hồ sơ của Cục Di sản văn hóa, chạm khắc tập trung ở kẻ hiên, kẻ, vì nách (cốn), đầu dư và hệ thống ván gió giữa hai hàng xà thượng ở hai gian hồi, còn báo Nhân Dân ghi thêm các vị trí trên lá lật và tay ngai thờ. Nghĩa là muốn xem hết thì phải đi quanh, ngẩng lên, và nhìn vào cả những chỗ khuất.
Đề tài thì chia làm hai lớp. Lớp thứ nhất là đề tài quen của đình làng, gồm rồng, phượng, tứ linh, tứ quý, cửa võng chạm cửu long tranh châu và lưỡng long chầu nguyệt. Rồng ở đây có lối riêng, tai to, râu dài, nanh vắt lên, phần ức chạm hoa. Lớp thứ hai mới là chỗ hiếm, với hai mươi mốt bức chạm tả cảnh sinh hoạt của làng quê thế kỷ mười bảy.
Bức được nhắc tới nhiều nhất, tả cảnh lễ mở đầu mùa cày. Trong một khuôn gỗ hẹp có đủ nhiều hạng người, người cầm cày, người dắt trâu, người đứng xem, mỗi người một tư thế. Đây là tư liệu hình ảnh hiếm về một nghi lễ nông nghiệp mà ngày nay chỉ còn biết qua sách.
Hai bức khác nhau trên cốn và kẻ, một tả người giương cung nhắm con hổ, một tả người ngồi trên lưng hổ. Con hổ trở đi trở lại trong đình nhiều lần, và điều ấy khó tách khỏi tích đánh hổ và danh hiệu Lân Hổ của vị thần được thờ.
Hai bức tả trò chơi dân gian. Bức đá cầu ở cốn gian bên chạm hai người trong thế chân đang hất quả cầu, thân người ngả theo đà. Bức đánh cờ tả hai người ngồi đối diện bên bàn cờ, dáng ngồi khác nhau.
Mảng chạm trên kẻ hiên gian hồi phía bắc tả bốn người đàn ông ngồi uống rượu dưới thân rồng uốn, được hồ sơ di sản định danh là tích Tứ hiệu Thường Sơn (bốn vị ẩn sĩ núi Thương Sơn). Đặt cảnh uống rượu ngay dưới hình rồng là nét phóng khoáng đặc trưng của điêu khắc đình làng.
Hai bức tả thói thường của con người, không né tránh và không tô vẽ. Giới nghiên cứu coi đây là bằng chứng rằng người thợ đình làng được quyền đưa cả cái đáng chê của đời sống vào chỗ thờ tự, như một lời nhắc cho làng.
Các bức chạm tiên nữ tóc búi cao, đeo trang sức, ngồi trên lưng rồng hoặc lưng phượng, cùng cảnh múa quạt, hát cửa đình và uống rượu cần. Đây là mảng nối giữa lớp đề tài linh thiêng và lớp đề tài đời thường.
Ngoài chạm khắc, trong đình còn một hiện vật thuộc loại khác hẳn, đó là bức hoành phi ba chữ Hòa Vi Quý, nghĩa là lấy sự hòa thuận làm điều quý. Theo tư liệu địa phương, ba chữ ấy do một vị Tổng đốc Sơn Tây ban cho làng vào khoảng năm 1778, khi giữa hai phe Tam Lâm và Tứ Xóm trong làng có việc bất hòa, rồi được làm thành hoành phi treo lại. Bên cạnh bức hoành phi bốn chữ Thần nhân tư duyệt và hai dòng chữ khắc trên câu đầu là Dân phú quốc cường cùng Nhân khang vật thịnh, ba chữ Hòa Vi Quý không phải mỹ tự vua phong cho thần mà là lời dặn về cách ăn ở của người trong làng.
Một chỗ hay bị gộp là ngay cạnh đình có chùa Tùng Vân, và nhiều bài viết gộp hai nơi thành một cụm rồi kể lẫn lộn. Theo hồ sơ di tích, đây là hai di tích được xếp hạng riêng, đình xếp hạng năm 1964 còn chùa xếp hạng năm 1992, và chúng thuộc hai lối thờ khác nhau. Chùa Tùng Vân là cơ sở của nhà Phật, giữ chuông đồng, khánh đồng và tượng Phật đất, do nhà chùa lo việc. Đình là nhà chung của làng, thờ thành hoàng, do ban khánh tiết lo việc. Đứng cạnh nhau không có nghĩa là cùng một nơi.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết phải nhận ra kiểu đất. Thổ Tang nằm trên dải đất cao ven sông Hồng, vùng đồng bãi phía dưới ngã ba Bạch Hạc, nơi sông Hồng, sông Lô và sông Đà đã gặp nhau rồi mới chảy xuôi. Đây là đất phù sa, bằng phẳng, không có núi để làm hậu chẩm và cũng không có gò lớn. Phép xem đất cổ truyền vốn dựng lên từ địa hình có núi có sông, đem nguyên phép ấy áp vào một vùng bãi thì không khớp. Ở đây phải đọc theo lối biến, tìm xem thứ gì đang giữ vai của núi và thứ gì giữ vai của nước.
Thứ giữ vai của nước ở tầng đại cục là sông Hồng chảy ở phía tây nam, nhưng con sông lớn ấy theo lối cũ thuộc loại nước quá mạnh và quá động, tụ khí kém. Vì vậy làng không dựng đình sát bờ sông mà lùi hẳn vào bãi đất cao bên trong, lấy hồ nước nhỏ bên cạnh đình và các ao làng trong khu dân cư làm chỗ tụ thủy gần. Thứ giữ vai của núi là dải đất cao và tuyến đê, thứ mà ở vùng bãi sông Hồng luôn được coi là xương sống của làng, vì làng nào cũng dựa vào đó mà tránh nước.
Điều đáng đọc nhất ở Thổ Tang là chỗ đứng của ngôi đình trong làng. Đình làng thuần nông thường đặt ở đầu làng, quay mặt ra cánh đồng, để thần trông coi phần đất làm ăn của dân. Thổ Tang không như vậy. Đây là một làng buôn, làng có chợ, có bến, có người đi xa rồi về, và ngôi đình nằm giữa khu dân cư, bốn phía là nhà ở và hàng quán. Đọc theo lối cổ truyền thì đó là cách lấy chỗ tụ người làm chỗ tụ khí. Với một làng mà cái sinh ra của cải là việc mua bán chứ không phải thửa ruộng, thì trung tâm khí của làng nằm ở chỗ người qua lại, và đình được đặt đúng vào đó.
Đi cùng với chỗ đứng ấy là quan hệ giữa đình và chùa Tùng Vân. Hai công trình đứng gần nhau, làm thành một trục tín ngưỡng ở giữa làng. Theo lối nghĩ cũ, đình giữ phần dương, tức việc của người sống, việc làng, việc ngôi thứ. Chùa giữ phần âm, tức việc cầu siêu, việc hậu. Một làng giữ đủ cả hai đầu ấy ngay giữa khu dân cư là một làng có bố cục tín ngưỡng khép kín, không phải đi đâu xa.
Sau cùng là hướng. Hồ sơ di tích của Cục Di sản văn hóa ghi rõ đình Thổ Tang quay hướng tây, một hướng khá hiếm gặp trong các ngôi đình Bắc Bộ vốn chuộng hướng nam và đông nam để đón gió mát mùa hè. Đọc theo địa thế vùng ngã ba sông, hướng tây của đình nhìn về phía ngã ba Bạch Hạc và dòng sông Hồng, tức quay mặt về phía nguồn nước lớn và cũng là nơi gắn với chiến tích Bạch Hạc trong thần tích của vị thành hoàng. Còn một điều riêng nữa đáng ghi. Ba chữ Hòa Vi Quý treo trên trục giữa của đình, theo cách đọc phong thủy, đóng vai giống một bức bình phong chữ, vì cái được đặt ở chính giữa lối nhìn thì cái ấy điều tiết khí của cả gian. Làng đặt vào đó một lời dặn về sự hòa thuận, chứ không đặt một mỹ tự về công trạng, và điều đó nói ra cái mà làng ấy coi trọng bậc nhất.
VLễ hội tháng Giêng
Lễ lớn của đình rơi vào tháng Giêng âm lịch, gắn với việc tưởng niệm thần Lân Hổ và thân mẫu của ngài. Về ngày cụ thể và về nhịp mở hội thì các nguồn ghi khác nhau, thư viện ghi đầy đủ các cách chép ở bảng dưới đây và nói rõ chỗ vênh ngay sau bảng.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 3 tháng Giêng | Lễ giỗ Mẫu | Theo tư liệu báo chí địa phương, ngày này làng làm lễ tưởng niệm bà Phùng Thị Dung, thân mẫu của thần Lân Hổ. |
| Mùng 9 hoặc mùng 10 tới 12 tháng Giêng | Lễ hội chính tưởng niệm thần Lân Hổ | Có nguồn ghi lễ tưởng niệm ngày mất của thần vào mùng 9 hoặc mùng 10 tháng Giêng, trong khi tư liệu du lịch và báo Nhân Dân ghi hội lớn mở từ mùng 10 tới 12 tháng Giêng với rước sắc, tế lễ, đấu vật, hát ca trù, hát chầu văn và trò chơi dân gian. |
| Rằm và mùng một hằng tháng | Lệ dâng hương thường kỳ | Ban khánh tiết mở cửa đình, dâng hương theo lệ của làng, quy mô gọn. |
| Trong kỳ hội | Rước sắc và tế | Đoàn rước đưa sắc phong từ nơi cất giữ ra đình, sau đó đội tế hành lễ theo nghi thức tế đình của Bắc Bộ. |
Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng. Thứ nhất là ngày mở hội. Tư liệu của ngành du lịch và báo Nhân Dân ghi hội mở từ mùng mười tới mười hai tháng Giêng, một số bài báo khác ghi lễ tưởng niệm thần vào mùng chín tháng Giêng, còn báo Giáo dục và Thời đại ghi làng mở hội hai ngày là mùng ba tháng Giêng (giỗ Mẫu) và mùng mười tháng Giêng (ngày mất của thần Lân Hổ). Thứ hai là nhịp mở hội, có tài liệu chép đại hội được làm năm năm một lần, còn các bài khác viết như một kỳ lễ hằng năm. Nhiều khả năng đây là sự khác nhau giữa kỳ đại hội có rước lớn theo lệ cũ và các ngày lễ thường niên, thư viện ghi cả các cách chép để quý vị đối chiếu.
Phần đáng chú ý trong hội Thổ Tang là hát ca trù và hát chầu văn được giữ trong nghi thức chứ không chỉ là tiết mục. Ở nhiều nơi, phần hát đã tách khỏi phần tế và trở thành biểu diễn. Ở đây hai phần vẫn nằm trong cùng một mạch, và người trong làng coi đó là một phần của việc thờ chứ không phải phần phụ thêm cho vui.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thị trấn Thổ Tang cũ, huyện Vĩnh Tường, nay là xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ
- Đường tới
- Đình nằm giữa khu dân cư của xã Thổ Tang, tỉnh Phú Thọ, thuộc thị trấn Thổ Tang cũ, huyện Vĩnh Tường. Chùa Tùng Vân ở ngay bên cạnh, đi bộ vài phút là tới.
- Toạ độ
- 21.2546, 105.4897
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong đình, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào các cấu kiện gỗ và các bức chạm. Muốn xem kỹ mảng chạm thì đứng dưới mà nhìn lên, không leo trèo và không dựa vào cột. Lễ vật đặt đúng ban, tiền bỏ hòm công đức. Chùa Tùng Vân bên cạnh là nơi thờ riêng, có lệ riêng của nhà chùa.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Thổ Tang
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Thổ Tang thờ ai
Đình thờ Lân Hổ đô thống Đại vương, tên thật theo thần tích là Phùng Tráng, người có công trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông đời Trần. Cùng thờ trong đình còn có bà Phùng Thị Dung là mẹ của thần và thần Nuôi Ná. Đây là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người Việt, không thuộc một tôn giáo có giáo hội nào.
Đình Thổ Tang có bao nhiêu bức chạm gỗ
Hai mươi mốt bức, theo hồ sơ di sản tập trung ở kẻ hiên, kẻ, vì nách (cốn), đầu dư và ván gió, còn báo Nhân Dân ghi thêm lá lật và tay ngai thờ. Đề tài gồm cả tứ linh tứ quý lẫn cảnh sinh hoạt như ngày hội xuống đồng, bắn hổ, cưỡi hổ, đá cầu, đánh cờ, uống rượu (Tứ hiệu Thường Sơn), đánh ghen và tiên nữ cưỡi rồng cưỡi phượng.
Hòa Vi Quý nghĩa là gì
Nghĩa là lấy sự hòa thuận làm điều quý. Theo tư liệu địa phương, ba chữ này do một vị Tổng đốc Sơn Tây ban cho làng vào khoảng năm 1778 khi giữa hai phe Tam Lâm và Tứ Xóm trong làng có việc bất hòa, rồi được làm thành hoành phi treo trong đình và giữ tới nay.
Đình Thổ Tang có bao nhiêu cột
Các nguồn ghi khác nhau. Hồ sơ của Cục Di sản văn hóa ghi tòa đại bái có 48 cột, gồm 8 cột cái, 16 cột quân và 24 cột hiên. Một số báo ghi 56 cột xếp tám hàng ngang sáu hàng dọc, có bài ghi tới 60 cột. Nhiều khả năng đây là các cách đếm khác nhau trên cùng một công trình.
Lễ hội đình Thổ Tang vào ngày nào
Lễ lớn rơi vào tháng Giêng âm lịch. Tư liệu du lịch và báo Nhân Dân ghi hội mở từ mùng mười tới mười hai tháng Giêng (năm năm mở đại hội một lần), một số báo ghi mùng chín tháng Giêng, và có nguồn ghi hai ngày lễ là mùng ba tháng Giêng (giỗ Mẫu) cùng mùng mười tháng Giêng (tưởng niệm thần Lân Hổ).