Đứng ở sân đình quay lưng lại sông Lam, quý vị nhìn thẳng vào một tòa nhà gỗ bảy gian hai chái, dài gần hai mươi sáu mét, mái xuống thấp, hàng cột cái to tới mức một người ôm không hết. Rồi bước vào trong và ngẩng lên. Từ câu đầu, xà, kẻ, bẩy cho tới ván gió, gần như không còn khoảng gỗ nào để trơn. Ở đây người thợ không chạm hình nổi lên trên mặt gỗ mà đục thủng hẳn lớp nền phía sau, để nhân vật tách hẳn ra khỏi khối, lối ấy gọi là chạm bong kênh.
Điều làm giới nghiên cứu quý ngôi đình này không chỉ là mật độ chạm. Đó là hai thứ hiếm cùng có mặt: một lạc khoản niên đại còn đọc được trên cấu kiện, chuyện không thường gặp với đình miền Trung, và một bảng đề tài trong đó con rồng đứng cạnh người đi cày, điển tích cổ đứng cạnh nồi cơm đang thổi.
IBa Lớp Thờ Trong Một Tòa Đình
Đình thờ chính Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, người trấn trị châu Nghệ An dưới thời Lý và được cả xứ này thờ làm phúc thần. Thư viện đã dành riêng một trang cho thân thế và công tích của ngài, xin mời quý vị đọc ở trang đền Quả Sơn, nơi được coi là đền chính trong hệ thống các nơi thờ ngài. Ở bài này chúng tôi không kể lại phần ấy, mà dồn vào hai lớp thờ còn lại cùng phần kiến trúc và chạm khắc, vốn mới là chỗ riêng của đình Hoành Sơn.
Hai lớp còn lại là Tứ vị Thánh Nương và chư Phật. Một ngôi đình làng mà trong cùng một tòa có cả nhân thần được triều đình phong, cả hệ thần biển của cư dân sông nước, cả tượng Phật, là hình ảnh rất đúng về cách người Việt vùng này thờ tự: không xếp thành ba nơi riêng mà để chung một chỗ.
Tứ vị Thánh Nương là bốn vị nữ thần được thờ dọc theo các cửa sông cửa biển từ Thanh Hóa vào tới phương Nam. Đây là hệ thần của người đi thuyền, người đánh cá, người buôn đường nước, và nơi thờ đầu mối của hệ này ở xứ Nghệ nằm ở cửa biển phía bắc tỉnh. Việc một ngôi đình cách biển khá xa, nằm bên trung lưu sông Lam, vẫn phối thờ Tứ vị Thánh Nương cho biết một điều về làng Hoành Sơn: đây là làng sống dựa vào dòng sông, và với người sống bằng nước thì thần nước là thần thiết thân, dù nước ấy là nước sông hay nước biển.
Chư Phật có mặt trong đình dưới dạng tượng thờ, trong đó đáng chú ý là bộ Tam Thế. Theo cách bày của Phật Giáo Bắc Tông, Tam Thế là ba pho tượng ứng với ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai, thường đặt ở hàng cao nhất trên Phật điện của chùa. Đưa bộ tượng ấy vào một ngôi đình làng là lối thờ hỗn dung quen thuộc của làng xã Việt, nơi ranh giới giữa đình và chùa không cứng như trong sách vở.
Trên phương diện khảo được, đình còn giữ mười pho tượng cổ, trong đó bộ Tam Thế là bộ được nhắc tới nhiều nhất trong hồ sơ di tích. Với một ngôi đình làng, con số mười pho tượng là đáng kể, vì đình thường thờ bằng bài vị và ngai chứ ít khi thờ bằng tượng.
Người đứng ra khởi xướng việc dựng đình là Đặng Thạc, một vị hương cống dưới triều vua Lê Hiển Tông. Hương cống là học vị của người đỗ kỳ thi Hương, tức một người có chữ trong làng. Chi tiết này giải thích một phần vì sao bảng đề tài chạm khắc ở đây có cả những điển tích chữ nghĩa bên cạnh cảnh sinh hoạt: người đứng chủ việc dựng đình là người đọc sách.
Một chỗ hay hiểu lầm. Vì đình Hoành Sơn và đền Quả Sơn cùng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và cùng nằm bên sông Lam, nhiều người tưởng hai nơi là một, hoặc tưởng đình Hoành Sơn là một hạng mục thuộc khu đền. Không phải. Đó là hai di tích riêng, thuộc hai loại khác nhau và cách nhau khá xa: một bên là đền, nơi có mộ và được coi là đền chính trong hơn năm mươi nơi thờ ngài, một bên là đình, tức nhà chung của làng Hoành Sơn, thờ ngài làm thành hoàng. Đền đáng đọc vì thân thế và vì cuộc rước, đình đáng đọc vì bộ khung gỗ và kho chạm. Hai nơi bổ cho nhau chứ không thay nhau.
IIMột Lạc Khoản Còn Đọc Được
Phần lớn đình làng Việt không cho biết mình dựng năm nào. Người nghiên cứu phải đoán niên đại qua phong cách chạm khắc, qua kiểu thức bộ vì, qua sắc phong, và kết quả bao giờ cũng là một khoảng vài chục năm chứ không phải một con số. Đình Hoành Sơn là ngoại lệ: trên cấu kiện của đình có lạc khoản, tức dòng chữ ghi thời điểm làm, và dòng ấy còn đọc được.
- Cảnh Hưng thứ 23Khởi dựng theo lạc khoảnLạc khoản ghi đình được làm vào tháng Chạp năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23. Tháng Chạp âm lịch của năm ấy rơi vào đầu năm 1763 dương lịch, nên các tài liệu quen ghi gọn là năm 1763.
- 1764Hoàn thànhCông trình được hoàn thành vào năm sau. Người đứng ra khởi xướng là Đặng Thạc, một vị hương cống dưới triều vua Lê Hiển Tông.
- Thế kỷ 19Bổ sung đồ thờ và tượngĐình tiếp nhận thêm đồ tế khí, hoành phi, câu đối và các pho tượng qua lệ cúng tiến của làng. Mười pho tượng cổ hiện còn thuộc nhiều lớp niên đại khác nhau.
- 1980Di tích quốc giaĐình được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
- Cuối thế kỷ 20Xuống cấp vì nước và thời tiếtHồ sơ ghi tình trạng nước ngập nền, mái bị sạt, một số chi tiết trang trí bị mất. Đây là bệnh chung của kiến trúc gỗ nằm ở vùng thấp ven sông.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2082 ngày 25 tháng 12 năm 2017. Đây là di tích kiến trúc nghệ thuật đầu tiên của tỉnh Nghệ An được xếp hạng ở cấp này.
- 2021 tới 2025Dự án tu bổDự án tu bổ đình với tổng mức đầu tư 24 tỉ đồng từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 tới 2025, dự kiến thi công trong ba năm. Ngoài phần đình chính còn có tường rào, hạ tầng kỹ thuật và đồ tế khí.
- Trong quá trình hạ giảiGiữ tối đa cấu kiện gốcViệc hạ giải cho thấy chỉ một số cấu kiện gỗ bị mối mọt nặng cần thay, phần còn lại được giữ nguyên bản. Đây là chi tiết đáng ghi, vì nó quyết định việc bộ chạm gốc còn hay mất.
Một chỗ cần nói rõ về con số năm. Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 ứng với năm Nhâm Ngọ, và việc dựng đình được ghi vào tháng Chạp của năm ấy. Tháng Chạp là tháng cuối của năm âm lịch, nên nó rơi vào khoảng đầu năm dương lịch kế tiếp, tức đầu năm 1763. Vì vậy quý vị sẽ thấy tài liệu chỗ ghi 1762, chỗ ghi 1763, chỗ ghi thẳng khoảng giữa thế kỷ 18. Cả ba cách ghi đều đúng theo cách quy đổi riêng của từng người, và chúng tôi nêu nguyên dòng lạc khoản để quý vị tự đối chiếu, thay vì chọn một con số rồi bỏ hai con số kia.
IIIBảy Gian Hai Chái Và Nghề Chạm Bong Kênh
Khuôn viên rộng 1.663,3 mét vuông, gồm hai tòa nối nhau là đại đình và hậu cung, cùng sân, vườn và tường bao. Kích thước cụ thể của hai tòa được hồ sơ ghi khá chi tiết, điều không phải di tích nào cũng có.
Rộng 330,4 mét vuông, kích thước 25,97 nhân 12,725 mét, gồm bảy gian hai chái. Đây là tòa chứa toàn bộ giá trị chạm khắc của đình.
Rộng 44,8 mét vuông, kích thước 6,37 nhân 7,035 mét, một gian. Đây là nơi đặt ban thờ chính, kín và tối hơn đại đình theo đúng nhịp dẫn của lối thờ tự cổ.
Tổng cộng 32 cột, gồm 12 cột cái cao chừng 5 mét và 20 cột quân cao chừng 4 mét, đường kính cột trên 50 phân. Bộ cột này là thứ giữ cho tòa nhà đứng được qua nhiều mùa nước.
Phần sân trước đại đình là chỗ diễn của kỳ lễ rước thần. Tường bao và các hạng mục phụ trợ được làm lại trong dự án tu bổ gần đây.
Hai chỗ nguồn vênh nhau về kiến trúc, xin nêu rõ. Thứ nhất là số bộ vì: hồ sơ của Cục Di sản văn hóa và bản tin về dự án tu bổ đều ghi đại đình có sáu bộ vì với tổng cộng 32 cột, trong khi trang thông tin du lịch của tỉnh ghi tám bộ vì. Chúng tôi nghiêng về con số sáu vì nó khớp với cách chia bảy gian hai chái và với tổng số cột, nhưng vẫn ghi cả hai vì chưa có tài liệu nào phân xử dứt điểm.
Thứ hai là bố cục mặt bằng: có tài liệu mô tả hai tòa đặt nối nhau theo một trục dọc, có tài liệu ghi đình theo bố cục hình chữ đinh, tức tòa sau đâm vuông góc vào giữa tòa trước. Hai cách mô tả này không giống nhau và chúng tôi ghi cả hai.
Chạm bong kênh, và vì sao nó khó
Kỹ thuật làm nên tên tuổi của đình là chạm bong kênh, đi kèm với chạm lộng. Xin giải nghĩa cho rõ, vì hai chữ này quyết định cách quý vị nhìn bộ chạm.
Chạm nổi thường là đục cho hình nhô lên khỏi mặt gỗ, hình vẫn dính liền vào nền phía sau. Chạm bong kênh đi xa hơn: thợ đục sâu vào, tách phần hình ra khỏi nền, để hình như bong lên, kênh khỏi mặt gỗ, có chỗ chỉ còn dính vào nền ở vài điểm. Chạm lộng thì đục thủng hẳn, tạo ra khoảng trống nhìn xuyên qua được.
Cái khó nằm ở ba chỗ. Một, gỗ càng bị lấy đi nhiều thì cấu kiện càng yếu, mà đây là cấu kiện chịu lực của một bộ mái, nên thợ phải biết chỗ nào được phép đục sâu và chỗ nào không. Hai, hình đã tách khỏi nền thì mọi mặt đều nhìn thấy, không còn chỗ nào giấu được nét vụng. Ba, người xem đứng dưới sàn nhìn lên, tức nhìn chếch, nên thợ phải tính trước góc nhìn ấy khi bố trí độ sâu. Đình Hoành Sơn được khen là chạm tới từng cử chỉ điệu bộ của nhân vật, và mức tỉ mỉ ấy chỉ đạt được khi cả ba điều trên được giải cùng lúc.
Chạm ở đâu và chạm cái gì
Chạm khắc tập trung ở đại đình, phân bố trên các cấu kiện xà, kẻ, bẩy, cốn và ván gió. Ván gió là tấm ván chắn ở đầu hồi, chỗ ít ai để ý, và việc thợ chạm cả ở đó cho thấy ý đồ phủ kín chứ không trang trí điểm xuyết. Gian giữa đại đình còn treo các bức y môn và chữ Hán.
Bảng đề tài chia làm ba lớp rõ rệt, và chính sự có mặt đủ cả ba lớp trong một tòa nhà mới là điều đáng nói.
- Lớp linh vật và điềm lành. Tứ linh gồm long, ly, quy, phượng, cùng đề tài lưỡng long chầu nguyệt. Đây là lớp bắt buộc của một nơi thờ tự, làm nhiệm vụ khẳng định tính thiêng của công trình.
- Lớp điển tích chữ nghĩa. Trong đó có tích Văn Vương nghinh Thái Công, kể việc vị vua đi đón người hiền, và đề tài vinh quy bái tổ, cảnh người đỗ đạt về làng. Hai đề tài này đòi người xem phải có chữ mới đọc ra, và chúng gắn với thân thế người đứng chủ việc dựng đình, vốn là một vị hương cống.
- Lớp đời thường. Chèo thuyền, đi cấy, đi cày, câu cá, bắt cá, thổi cơm, thưởng trà. Đây là lớp làm nên giá trị tư liệu của bộ chạm, vì nó ghi lại đời sống của một làng ven sông Lam giữa thế kỷ 18 bằng hình, thứ mà không văn bản nào thay được.
Một chỗ hay hiểu lầm khi so sánh các ngôi đình. Người ta quen nói chạm khắc sinh hoạt là đặc sản của đình làng Bắc Bộ thế kỷ 17, và từ đó cho rằng đình miền Trung chỉ có tứ linh và hoa lá. Đình Hoành Sơn cho thấy không hẳn vậy. Ở đây, cảnh đi cày và cảnh thổi cơm nằm ngay cạnh con rồng, trên cùng một bộ khung, và làm ở thế kỷ 18 chứ không phải 17. Điều này không có nghĩa miền Trung bắt chước miền Bắc muộn một thế kỷ, mà có nghĩa là mạch chạm sinh hoạt của đình Việt trải rộng hơn và kéo dài hơn khung thời gian quen thuộc. Chúng tôi nêu lại bằng giọng tư liệu, không xếp bộ chạm nào hơn bộ chạm nào.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Đình nằm ở một thế mà sách cũ gọi là chuẩn mực: lưng tựa núi, mặt hướng sông. Sau lưng là dải núi thấp của vùng Thiên Nhẫn, trước mặt là sông Lam. Núi làm hậu chẩm, tức chỗ gối đầu, giữ cho khí không tán về phía sau. Sông làm minh đường, tức khoảng trống trước mặt để khí tụ lại. Ở đồng bằng Bắc Bộ, các làng phải đắp gò và đào ao mới có được cặp này, còn ở đây địa hình cho sẵn cả hai.
Điều đáng đọc riêng của làng Hoành Sơn nằm ở chỗ khác: cái giá phải trả cho thế đất ấy. Đất sát sông thì được nước nhưng phải chịu nước. Hồ sơ di tích ghi rõ tình trạng nước ngập nền đình, và đó là bệnh cố hữu của một công trình đặt ở vùng thấp ven sông chứ không phải tai nạn nhất thời. Người làng biết điều đó ngay từ khi dựng, và câu trả lời của họ nằm trong chính bộ khung: ba mươi hai cột lớn, đường kính trên năm mươi phân, cột cái cao tới năm mét. Cột càng to càng lâu mục chân, sàn càng cao thì nước lên càng lâu chạm tới cấu kiện chịu lực. Trong lối đọc cổ truyền, một nơi được chọn vì thế đất đẹp mà lại phải gia cố nặng tay như vậy chính là dấu cho biết người xưa đã cân nhắc cả hai mặt chứ không chỉ nhìn cái đẹp trên la bàn.
Thứ ba là mối quan hệ giữa thế đất và bảng đề tài chạm khắc. Bộ chạm ở đây có chèo thuyền, có câu cá, có bắt cá, tức là những việc chỉ có ở một làng sống với nước. Việc đình phối thờ Tứ vị Thánh Nương, hệ thần của người đi sông đi biển, là lớp nghĩa thứ hai của cùng một điều. Nói cách khác, dòng sông trước mặt không chỉ đóng vai minh đường trong phép xem đất, nó còn đi vào bàn thờ và đi lên bộ khung. Một thế đất được đọc không chỉ bằng phương vị mà bằng cả cái nghề mà thế đất ấy nuôi.
Sau cùng là mạch nước của cả một xứ. Đình Hoành Sơn và đền Quả Sơn cùng thờ một vị, cùng nằm bên sông Lam, cùng lưng tựa núi mặt hướng nước, chỉ khác chỗ trên dòng. Đọc hai nơi cùng lúc thì thấy người xưa đặt nơi thờ vị phúc thần của xứ Nghệ theo chính dòng sông mà ngài từng lo việc đắp đê khơi luồng. Trong phép xem đất, một chuỗi nơi thờ rải dọc một dòng nước được coi là cách giữ khí cho cả một lưu vực, chứ không phải từng điểm đứng lẻ.
VHai Kỳ Lễ Trong Năm
Theo lệ cũ, đình có hai kỳ lễ lớn trong năm, cả hai đều tính theo âm lịch. Về thời điểm thì nguồn vênh nhau, và chúng tôi ghi cả hai cách chép thay vì chọn một.
| Thời điểm âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Tháng Hai | Lễ kỳ phúc | Kỳ lễ cầu phúc cho cả làng theo lệ cũ, tế tại đại đình, có đọc chúc văn và dâng lễ của các giáp. Một số tài liệu chép kỳ kỳ phúc này diễn ra vào tháng Sáu chứ không phải tháng Hai. |
| Rằm tháng Sáu | Lễ rước thần | Kỳ lễ lớn nhất trong năm theo lệ cũ, có rước thần với kiệu và đồ tế khí, phần rước diễn ra ở sân đình và trong địa bàn làng. |
| Rằm và mùng một | Lệ thường tháng | Ban khánh tiết của làng thắp hương theo lệ, không có nghi thức tế lớn. |
| Trong các kỳ lễ | Tế tại đại đình và hậu cung | Phần tế chính diễn ra tại đại đình, phần dâng hương lên ban thờ chính diễn ra ở hậu cung theo đúng trình tự ngoài trước trong sau. |
Chỗ nguồn vênh, xin nói thẳng. Một số tài liệu chép đình có hai kỳ lễ lớn là lễ kỳ phúc tháng Hai và lễ rước thần rằm tháng Sáu. Trong khi đó, trang thông tin du lịch của tỉnh lại ghi kỳ lễ kỳ phúc diễn ra vào tháng Sáu. Có thể đây là chỗ khác nhau giữa lệ cũ và cách tổ chức về sau, cũng có thể là cách gọi tên hai kỳ lễ đã nhập vào nhau theo thời gian. Chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm nên ghi cả hai.
Cần lưu ý thêm rằng các kỳ lễ ở đây được ghi theo lệ cũ. Trong những năm đình xuống cấp nặng và trong thời gian thi công tu bổ, quy mô tổ chức có thể khác với lệ chép trong hồ sơ. Thư viện chỉ ghi phần không đổi, tức ngày theo âm lịch và nội dung nghi thức, không ghi lịch tổ chức của từng năm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Hoành Sơn, xã Khánh Sơn cũ, huyện Nam Đàn, nay là xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An
- Đường tới
- Đình nằm ở làng Hoành Sơn, xã Khánh Sơn cũ, huyện Nam Đàn, nay là xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An, bên bờ sông Lam, cách thành phố Vinh chừng ba mươi lăm cây số về phía tây nam. Đi cùng tuyến sông Lam nên tính ghé thêm đền Quả Sơn ở phía thượng lưu.
- Toạ độ
- 18.6165, 105.5561
Đây là nơi thờ tự của làng chứ không phải nhà trưng bày, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, lễ vật đặt đúng ban và tiền bỏ hòm công đức. Bộ chạm bong kênh có nhiều chi tiết mảnh, chỉ dính vào nền ở vài điểm, nên một cái chạm tay cũng đủ làm gãy. Xin quý vị xem bằng mắt, không tựa vào cột và không di chuyển các pho tượng.
Những nơi gần đây trong thư viện
XIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Hoành Sơn
Contribute photos, information or video for Hoanh Son Communal HouseThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Hoành Sơn thờ ai
Đình thờ chính Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, người trấn trị châu Nghệ An thời Lý, đồng thời phối thờ Tứ vị Thánh Nương là hệ thần của cư dân sông nước và chư Phật, trong đó có bộ tượng Tam Thế. Thân thế và công tích của Lý Nhật Quang được thư viện viết riêng ở trang đền Quả Sơn.
Đình Hoành Sơn xây dựng năm nào
Lạc khoản trên cấu kiện ghi đình được làm vào tháng Chạp năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23, và hoàn thành năm 1764. Vì tháng Chạp âm lịch rơi vào đầu năm dương lịch kế tiếp nên tài liệu quen ghi gọn là năm 1763. Người khởi xướng việc dựng đình là Đặng Thạc, một vị hương cống.
Chạm bong kênh là gì
Là lối chạm trong đó thợ đục sâu để tách phần hình ra khỏi nền gỗ phía sau, khiến hình như bong lên và kênh khỏi mặt gỗ, có chỗ chỉ còn dính vào nền ở vài điểm. Lối này khó vì cấu kiện bị lấy đi nhiều gỗ mà vẫn phải chịu lực, và vì hình đã tách khỏi nền thì mọi mặt đều lộ.
Đình Hoành Sơn chạm những đề tài gì
Ba lớp. Lớp linh vật gồm tứ linh và lưỡng long chầu nguyệt. Lớp điển tích gồm Văn Vương nghinh Thái Công và vinh quy bái tổ. Lớp đời thường gồm chèo thuyền, đi cấy, đi cày, câu cá, bắt cá, thổi cơm, thưởng trà. Chạm phân bố trên xà, kẻ, bẩy, cốn và cả ván gió ở đầu hồi.
Đình Hoành Sơn và đền Quả Sơn có phải một không
Không. Đó là hai di tích riêng, tuy cùng thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và cùng nằm bên sông Lam. Đền Quả Sơn có khu lăng mộ và được coi là đền chính trong hơn năm mươi nơi thờ ngài. Đình Hoành Sơn là nhà chung của làng Hoành Sơn, thờ ngài làm thành hoàng, và đáng đọc ở bộ khung gỗ cùng kho chạm.