VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đền thờ Trạng Trình, khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nơi thờ một bậc đại nho ngay trên đất quê ông, và cũng là nơi dễ nhầm giữa phần gốc với phần mới dựng lại.

Người được thờ
1491 tới 1585
có tài liệu ghi năm mất là 1586, xem phần lịch sử
Đền chính
1928
dựng lại kiểu chữ đinh, quay hướng Đông
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2367 ngày 23 tháng 12 năm 2015

Từ đường vào làng Trung Am, quý vị gặp trước hết một khoảng quảng trường lát đá rộng, giữa có pho tượng đá granit cao 5,7 mét, rồi mới tới cổng và khu đền. Đền chính không lớn, mái thấp, năm gian tiền đường nối vào hai gian hậu cung theo hình chữ đinh, cửa quay về hướng Đông. Phía sau và hai bên là hồ nước, vườn cây, một ngọn tháp bút, một nếp am nhỏ lợp ngói và một cái quán bên đường nước.

Điều cần nói ngay từ đầu: trong những thứ quý vị vừa nhìn thấy, phần lớn được dựng lại trong vài chục năm gần đây. Thư viện ghi rõ như vậy ngay ở đoạn mở, vì tôn một công trình mới thành đồ cổ là điều không hợp với chính người được thờ ở đây.

IThờ Một Bậc Đại Nho

Người được thờ là Nguyễn Bỉnh Khiêm, sinh năm 1491 tại chính làng Trung Am này. Ông đỗ đầu khoa thi năm 1535 dưới triều Mạc, làm quan, rồi cáo quan về quê năm 1542. Về làng, ông lập am Bạch Vân làm trường dạy học, dựng quán Trung Tân bên bến nước, và viết. Người đời sau gọi ông là Trạng Trình, ghép chữ Trạng của học vị với chữ Trình trong tước Trình Quốc công.

Bốn chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ tước hiệu ấy, nghĩa là đền thờ Trình Quốc công, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích.

Theo giáo nghĩa

Thư viện xếp nơi này vào nhóm Nho Giáo, cùng một nhãn với Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Mao ĐiềnVăn miếu Trấn Biên, chứ không xếp vào nhóm thờ cúng tổ tiên. Xin nói rõ lý do.

Trong lệ cũ, một người có thể được thờ theo nhiều tư cách. Thờ theo tư cách tổ họ thì đặt ở nhà thờ họ. Thờ theo tư cách thành hoàng thì đặt ở đình và gắn với một làng. Thờ theo tư cách bậc có công với đạo học thì thuộc hệ Nho học, và người được thờ không dừng ở phạm vi một họ hay một làng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc trường hợp thứ ba. Ông được thờ vì là thầy và là người làm chữ. Bằng chứng rõ nhất nằm ở chỗ khác: tên ông có trong danh sách tám danh nhân được tòng tự tại Văn miếu Mao Điền, tức được thờ theo bên cạnh ban Khổng Tử. Một người đã đứng trong ban thờ của văn miếu thì nơi thờ riêng của người ấy cũng thuộc cùng một mạch.

Theo sử liệu

Cái chắc chắn thuộc về ông, xét theo văn bản, là ba khối. Thứ nhất là thơ chữ Hán trong Bạch Vân am thi tập. Thứ hai là thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, một trong những tập thơ Nôm quan trọng của thế kỷ 16. Thứ ba là bài văn khắc trên bia quán Trung Tân, nơi ông tự giải nghĩa cái tên mình đặt cho quán.

Bài văn bia ấy cho biết ông hiểu chữ trung theo nghĩa nào. Trung ở đây không phải chữ trung trong trung với vua, mà là trung theo nghĩa đứng giữa, không lệch về bên nào, hướng lòng người về chỗ chí thiện. Chữ tân nghĩa là bến. Ghép lại thì Trung Tân là cái bến ở chỗ giữa, một chỗ dừng chân cho khách qua đường theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Các nguồn ghi quán được dựng năm 1542, cùng quãng ông cáo quan về làng.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất ở nơi này là chuyện sấm Trạng Trình. Nhiều người tới đây với ý nghĩ rằng đền thờ một nhà tiên tri và mong hỏi được điều sắp tới. Xin nói bằng giọng sử liệu, không phê phán ai.

Cái gọi là sấm Trạng Trình không phải một văn bản duy nhất mà là một tập hợp nhiều dị bản, phần lớn là bản chép tay xuất hiện muộn hơn đời ông rất nhiều, câu chữ khác nhau giữa các bản, và cho tới nay giới nghiên cứu chưa xác định được một bản gốc nào do chính ông viết. Việc gán các câu sấm về sau vào tên một bậc danh nho là hiện tượng quen thuộc trong lịch sử văn bản.

Điều chắc chắn hơn là uy tín của ông khi còn sống. Học trò tôn ông là Tuyết Giang phu tử, tức bậc thầy bên sông Tuyết. Cái danh nhà tiên tri của đời sau mọc lên từ nền uy tín ấy, nhưng hai thứ không phải một.

IIBốn Trăm Năm Và Ba Mươi Năm

Lịch sử nơi này chia hai đoạn rất chênh nhau. Đoạn dài là bốn thế kỷ, trong đó ngôi đền nhỏ của làng được dựng, được sửa, rồi dựng lại một lần lớn vào năm 1928. Đoạn ngắn là khoảng ba mươi năm gần đây, trong đó khuôn viên mở rộng gấp nhiều lần và phần lớn các hạng mục quý vị thấy hôm nay ra đời.

  • 1491Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh tại Trung Am
    Ông sinh tại làng Trung Am, quê mẹ, nơi về sau dựng đền thờ ông. Thân phụ là Nguyễn Văn Định, phần mộ nay nằm trong khu di tích.
  • 1535Đỗ đầu khoa thi
    Ông đỗ tiến sĩ đệ nhất danh, tức trạng nguyên, dưới triều Mạc, rồi ra làm quan. Về sau được phong tới tước Trình Quốc công, từ đó có tên gọi Trạng Trình.
  • 1542Cáo quan, lập am Bạch Vân và quán Trung Tân
    Ông về làng, dựng am Bạch Vân làm trường dạy học và dựng quán Trung Tân bên bến nước, tự viết bài văn khắc bia giải nghĩa tên quán.
  • 1585Ông mất, dân làng lập đền thờ
    Ông mất tại quê nhà, dân làng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ. Về năm mất, nguồn ghi vênh nhau giữa 1585 và 1586, xin xem phần ghi chú bên dưới. Chùa Song Mai trong vùng, được ghi là dựng năm 1556, về sau cũng nằm trong phạm vi khu di tích.
  • 1735Trùng tu lớn thời Lê
    Dân làng trùng tu đền. Việc này được ghi lại trên một tấm bia đá dựng năm 1736, hiện là một trong các hiện vật có niên đại sớm còn lại của di tích.
  • 1928Dựng lại đền chính kiểu chữ đinh
    Đền được dựng lại theo hình chữ đinh, gồm năm gian tiền đường và hai gian hậu cung, quay hướng Đông. Đây là bộ khung của ngôi đền chính mà quý vị thấy hôm nay.
  • 1991 tới 2004Mở rộng và tôn tạo lớn
    Khu di tích được mở rộng nhân năm trăm năm ngày sinh của ông vào năm 1991, sau đó quảng trường cùng tượng đá granit cao 5,7 mét hoàn thành năm 2000, quán Trung Tân được dựng lại, am Bạch Vân được phục dựng năm 2004. Đây là giai đoạn làm thay đổi diện mạo khu di tích nhiều nhất.
  • 2015Di tích quốc gia đặc biệt
    Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367 ký ngày 23 tháng 12 năm 2015, cùng đợt với đền Trần Thương.
Theo sử liệu

Ba chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin ghi cả ba thay vì chọn bừa.

Năm mất. Phần lớn tài liệu ghi ông mất năm 1585, một số tài liệu khác ghi 1586. Chênh lệch nằm ở phép quy lịch, vì ông mất vào cuối tháng Mười Một âm lịch, mà ngày ấy quy sang dương lịch thì đã sang những ngày đầu của năm sau. Lễ tưởng niệm tổ chức đầu năm 2016 được ghi là kỷ niệm bốn trăm ba mươi năm ngày mất, tức tính theo mốc 1586.

Diện tích khu di tích. Cục Di sản văn hóa ghi 91.500,7 mét vuông, tức hơn chín hecta, còn một số tài liệu địa phương ghi 12,43 hecta. Chênh lệch này thường do phạm vi khoanh vùng bảo vệ được tính khác nhau.

Năm dựng lại quán Trung Tân. Có tài liệu ghi năm 2000, có tài liệu ghi năm 2001. Cả hai đều thống nhất đây là công trình phục dựng chứ không phải cái quán gốc ông dựng năm 1542.

IIIPhần Gốc Và Phần Dựng Lại

Khu di tích hôm nay gồm nhiều hạng mục nằm rải trong một khuôn viên rộng, có hồ, có vườn, có quảng trường. Người đi lần đầu rất dễ nhìn cả khu như một tổng thể cổ. Thực ra các hạng mục ấy thuộc những lớp niên đại cách nhau rất xa, và bảng dưới đây là cách gọn nhất để quý vị phân biệt.

Bảng phân lớp niên đại các hạng mục chính trong khu di tích, dựa theo tài liệu di tích và tư liệu giới thiệu của địa phương. Nguồn: Tài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa và tư liệu giới thiệu khu di tích của thành phố Hải Phòng..
Hạng mụcNiên đại công trình hiện cóGhi chú
Đền chính1928Dựng lại kiểu chữ đinh, năm gian tiền đường nối hai gian hậu cung, quay hướng Đông. Đây là bộ khung cổ nhất còn đứng trong khu.
Bia ghi việc trùng tu1736Ghi lại đợt trùng tu đền năm 1735. Là hiện vật có niên đại sớm, thuộc lớp thế kỷ 18.
Hệ hiện vật trong đềnthế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 20Gồm tượng thờ, hoành phi câu đối, đồ thờ, thuộc nhiều đợt cung tiến khác nhau.
Đền thờ thân phụ thân mẫulớp tu bổ về sauNếp thờ riêng dành cho cha mẹ ông, gắn với khu mộ phần thân phụ là cụ Nguyễn Văn Định.
Quán Trung Tândựng lại năm 2000 hoặc 2001Quán gốc do chính ông dựng năm 1542 đã không còn. Công trình hiện nay là phục dựng.
Am Bạch Vânphục dựng năm 2004Am gốc là trường dạy học ông lập từ năm 1542. Nếp am hiện nay được dựng lại trên vị trí cũ.
Tháp Bút Kình Thiênxây lại kiểu hai tầng tám máiNgọn tháp mang nghĩa cây bút chống trời. Công trình hiện nay là xây lại, không phải kiến trúc cổ.
Quảng trường, tượng đài và nhà trưng bàynăm 2000 và năm 2013Tượng đá granit cao 5,7 mét đặt giữa quảng trường lát đá, hoàn thành năm 2000. Nhà trưng bày tư liệu về ông được bổ sung và chỉnh lý năm 2013.

Nói như vậy không phải để hạ thấp phần mới. Phục dựng là việc bình thường và cần thiết, nhất là với một khu mà thời gian và thời tiết đã lấy đi gần hết công trình gỗ. Điều cần giữ là nói đúng cái gì có từ bao giờ, để người đọc không hiểu lầm rằng mình đang đứng trước một cái am bốn trăm năm tuổi trong khi nó mới hơn hai chục năm.

Nhìn ở góc kiến trúc, thứ đáng xem nhất trong khu vẫn là đền chính. Bố cục chữ đinh là lối rất gọn của nhà thờ tự Bắc Bộ: một nếp ngang làm tiền đường cho người hành lễ, một nếp dọc thụt vào làm hậu cung cho ban thờ. Cái gọn ấy hợp với người được thờ, một người đã bỏ chốn quan trường về ở am tranh và lấy việc dạy học làm việc chính của đời mình.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Với nơi này còn phải nói thêm một điều: phần lớn cảnh quan hiện nay là do đợt tôn tạo của những năm 2000 tạo ra, nên khi đọc thế đất phải tách cho rõ đâu là thế đất cũ của làng và đâu là bố cục mới đặt vào sau.

Thế đất và hướng

Cái cũ trước. Làng Trung Am nằm ở vùng Vĩnh Bảo, dải đất cuối cùng của châu thổ trước khi ra biển, bên con sông mà thơ ông gọi là Tuyết Giang. Đây là đồng bằng thuần túy, đất phẳng, không núi, nên phép xem đất phải bỏ phần xem sơn mà chuyển hẳn sang xem thủy. Làng có sông trước mặt, có bến, có đường nước ra vào, và chính vì có bến nên mới có chuyện dựng cái quán cho khách qua đò. Quán Trung Tân ra đời từ thế đất ấy chứ không phải từ một ý thích riêng.

Về hướng, đền chính quay về hướng Đông. Trong lối cổ truyền, hướng Đông thuộc hành Mộc, ứng với mùa xuân, với sự nảy nở và với buổi sáng. Đền miếu Bắc Bộ thường chuộng hướng Nam, nên một ngôi đền quay Đông là chọn lựa có ý. Với nơi thờ một người dạy học, hướng đón mặt trời mọc là hướng hợp nghĩa: đạo học lấy chữ khai làm gốc, mà khai là mở ra.

Về trục và lối cân đối, đây là chỗ nhìn ra tinh thần Nho học rõ nhất. Cũng như ở các văn miếu, khu này dàn theo một đường thẳng từ ngoài vào, hai bên đối nhau, không để chỗ nào lệch. Đạo Nho lấy chữ chính làm gốc, mà chính thì phải ngay ngắn. Đọc mặt bằng một nơi thờ Nho học là đọc một bài về trật tự, không phải đọc một bài về cảnh đẹp.

Sau cùng là ngọn tháp bút. Tên tháp là Kình Thiên, nghĩa là chống trời, và hình dáng là cây bút dựng đứng. Trong lối đọc cổ truyền, một khối cao dựng thẳng trên nền đất bằng đóng vai văn bút phong, tức ngọn bút của đất văn học, được coi là thứ làm cho một vùng phát về đường chữ nghĩa. Nơi có núi thì người xưa mượn luôn một ngọn núi nhọn, nơi đồng bằng thì phải xây lấy. Xin nhắc lại cho rõ: ngọn tháp hiện nay là công trình xây lại, nên lớp nghĩa thì cũ mà khối xây thì mới.

VLễ Tháng Mười Một Và Lệ Xin Chữ

Lễ ở đây theo lệ thờ một bậc tiên hiền chứ không theo lệ đền phủ. Kỳ lễ lớn nhất trong năm rơi vào ngày hai mươi bảy tới ngày hai mươi chín tháng Mười Một âm lịch, lấy ngày hai mươi tám, tức ngày mất của ông, làm ngày trọng. Người trong vùng quen gọi là lễ hội đền Trạng.

Một điểm đáng chú ý: kỳ lễ này không rơi vào mùa xuân như hầu hết hội làng Bắc Bộ mà rơi vào cuối năm âm lịch, vì nó bám theo ngày giỗ chứ không bám theo mùa nông nhàn.

Trình tự kỳ lễ chính trong năm và các lệ thường xuyên tại di tích. Ngày tiến hành từng phần có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Tài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa và tư liệu giới thiệu khu di tích của địa phương..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước ngày mở lễLễ cáo yếtNghi thức trình báo trước ban thờ, xin phép mở kỳ lễ.
Ngày 27 tháng Mười MộtKhai lễ và dâng hươngMở đầu kỳ lễ, các thôn trong vùng và khách thập phương lần lượt dâng hương trước ban thờ.
Ngày 28 tháng Mười MộtChính lễ, ngày giỗNgày trọng nhất trong kỳ lễ, có cung tuyên văn tế và tế chính trước ban thờ Trạng Trình.
Ngày 27 tới 29 tháng Mười MộtPhần hộiCác trò dân gian của vùng châu thổ như vật, múa rối nước và múa rồng, tổ chức trong khuôn viên di tích.
Ngày 29 tháng Mười MộtLễ tạKhép lại kỳ lễ, tạ ơn trước ban thờ sau khi các phần lễ và hội đã xong.
Đầu xuânLệ xin chữNgười trong vùng giữ nếp tới đền xin chữ đầu năm, đúng mạch của một nơi thờ đạo học.
Trước các kỳ thiLệ dâng hương của người đi họcHọc trò trong vùng tới dâng hương trước kỳ thi, một lệ hình thành từ chính tư cách người thầy của vị được thờ.

Lệ xin chữ ở đây đáng nói thêm một câu, vì nó là lệ chung của cả nhóm Nho Giáo. Ở phần lớn các nơi thờ, thứ người ta mang về là lộc, là oản quả, là phẩm vật. Ở một nơi thờ đạo học, thứ mang về là chữ, bởi chữ chính là cái mà nơi ấy thờ. Cùng một mạch ấy là lệ tới dâng hương trước kỳ thi.

Cũng nên phân biệt hai loại người tới đây. Một loại tới theo mạch Nho học, xin chữ và tưởng nhớ một người thầy. Một loại tới theo mạch sấm ký, mong hỏi vận. Cả hai đều có thật trong đời sống của di tích, và thư viện chỉ ghi nhận chứ không xếp bên nào đúng hơn bên nào. Nhưng nếu quý vị muốn đọc nơi này cho đúng cái gốc của nó, thì gốc ấy là một cái am dạy học và một tấm bia bàn về chữ trung.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Trung Am, xã Lý Học cũ, huyện Vĩnh Bảo, nay là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Phòng
Đường tới
Khu di tích nằm ở thôn Trung Am, thuộc vùng Vĩnh Bảo cũ, thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khá xa về phía tây nam và nằm gần ranh giới với vùng Thái Bình cũ. Đi cùng tuyến có thể tính ghé thêm Văn miếu Mao Điền, nơi ông được thờ theo trong hàng tám danh nhân xứ Đông.
Toạ độ
20.6609, 106.5313
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào tiền đường và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ, không chạm tay vào bia đá, hoành phi câu đối và đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Lệ riêng của một nơi thờ Nho học là không đặt lễ mặn và không đốt vàng mã trước ban thờ. Khu mộ phần thân phụ ông nằm trong khuôn viên, xin quý vị giữ yên tĩnh khi đi qua.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Contribute photos, information or video for Nguyen Binh Khiem Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm thờ ai

Thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình, sinh năm 1491 tại chính làng Trung Am này, đỗ đầu khoa thi năm 1535, cáo quan năm 1542 rồi về quê lập am Bạch Vân dạy học. Ông được thờ với tư cách một bậc đại nho và một người thầy, không phải với tư cách thành hoàng làng hay tổ của một dòng họ.

Vì sao xếp đền này vào Nho Giáo chứ không xếp vào thờ cúng tổ tiên

Vì ông được thờ theo tư cách bậc có công với đạo học, cùng một mạch với các văn miếu. Dấu hiệu rõ nhất là tên ông nằm trong danh sách tám danh nhân được tòng tự tại Văn miếu Mao Điền, tức được thờ theo bên cạnh ban Khổng Tử. Người đã đứng trong ban thờ của văn miếu thì nơi thờ riêng cũng thuộc cùng một nhóm.

Am Bạch Vân và quán Trung Tân có phải công trình cổ không

Không. Am Bạch Vân do ông lập từ năm 1542 làm trường dạy học, nếp am hiện nay là phục dựng năm 2004. Quán Trung Tân do ông dựng cùng năm 1542 bên bến nước, công trình hiện nay là dựng lại, có tài liệu ghi năm 2000 và có tài liệu ghi năm 2001. Phần cổ nhất còn đứng trong khu là đền chính dựng lại năm 1928.

Sấm Trạng Trình có phải do chính ông viết không

Cho tới nay giới nghiên cứu chưa xác định được một bản gốc nào do chính ông viết. Cái gọi là sấm Trạng Trình là một tập hợp nhiều dị bản, phần lớn là bản chép tay xuất hiện muộn hơn đời ông rất nhiều và câu chữ khác nhau giữa các bản. Những gì chắc chắn thuộc về ông là Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập và bài văn bia quán Trung Tân.

Lễ hội đền Trạng Trình vào ngày nào

Kỳ lễ lớn nhất mở trong khoảng ngày hai mươi bảy tới ngày hai mươi chín tháng Mười Một âm lịch, lấy ngày hai mươi tám là ngày mất của ông làm ngày trọng. Ngoài kỳ lễ này, di tích còn giữ lệ xin chữ đầu xuân và lệ dâng hương của người đi học trước các kỳ thi.

Đọc Tiếp