VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Sóc

Đền Gióng Sóc Sơn, khu di tích đền Sóc

Quần thể đền chùa dưới chân núi Vệ Linh, dựng ở đúng chỗ truyền thuyết kể Thánh Gióng cởi áo giáp sắt rồi bay về trời.

Hiện vật trong khu di tích
145
niên đại trải từ thời Lê, tập trung vào thời Nguyễn
Tượng đài trên đỉnh núi
85 tấn
đồng, cao 11,07 mét, hoàn thành năm 2010
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014

Từ cổng khu di tích, quý vị đi qua một quãng rừng thông rồi mới tới nếp nhà đầu tiên. Các công trình ở đây không xếp trên một mặt bằng phẳng mà bám theo sườn núi, càng vào trong càng lên cao: đền Trình dưới thấp, rồi đền Mẫu, rồi chùa Đại Bi, rồi đền Thượng, và trên cùng là đỉnh núi có một pho tượng đồng lớn nhìn ra bốn phía.

Chỗ quý vị đang đi lên chính là điều làm nơi này khác hẳn ngôi đền cùng thờ một vị ở vùng Phù Đổng. Đền Phù Đổng đứng trên đất bằng vì đó là đất sinh. Đền Sóc bám vào một quả núi vì theo truyền thuyết, đây là chỗ Thánh Gióng cởi áo giáp sắt để lại rồi bay lên. Nói cách khác, cả quần thể này được dựng quanh một chỗ đi, và địa hình dốc lên ấy chính là một phần của ý nghĩa.

IThánh Gióng Ở Chỗ Hóa

Vị được thờ là Thánh Gióng, tức Phù Đổng Thiên Vương, một trong bốn vị Tứ bất tử của người Việt. Riêng ở vùng núi này ngài còn mang thêm danh hiệu Sóc Thiên Vương, lấy theo tên đất. Chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ danh hiệu ấy, không phải chữ chép lại từ hoành phi trong đền.

Thần tích kể rằng sau khi làm xong việc, tráng sĩ đi ngược lên vùng núi phía bắc, tới ngọn núi này thì dừng lại, cởi áo giáp sắt để lại trên sườn núi, rồi cùng ngựa bay thẳng lên trời. Người sau lập miếu thờ ngay chỗ ấy. Đó là toàn bộ lý do tồn tại của khu di tích này.

Theo giáo nghĩa

Trong cách nghĩ cổ truyền của người Việt, hóa không đồng nghĩa với chết. Một người chết thì có mộ, có ngày giỗ, có phần âm để con cháu cúng. Một vị hóa thì không để lại thi hài, không có mộ, và nơi thờ không phải phần mộ mà là chỗ cuối cùng người ta còn nhìn thấy vị ấy. Thánh Gióng thuộc loại thứ hai, và điều đó quy định toàn bộ nếp thờ ở đây: đền Sóc không có lăng, không có mộ chí, không có ngày giỗ theo nghĩa thông thường.

Thứ thay cho ngôi mộ là vật để lại. Người vùng này chỉ vào một khối đá trên núi mà gọi là hòn đá Chồng, tương truyền chính là bộ áo giáp sắt đã hóa đá. Một vật bỏ lại giữa trời, không cần canh giữ, không ai lấy đi được: trong hệ tín ngưỡng bản địa, đó là dấu ấn mạnh hơn cả một nấm mồ.

Theo sử liệu

Lớp thờ tự ở đây có nhiều tầng chồng lên nhau, và cần phân biệt rõ. Ngoài đền Thượng thờ Thánh Gióng còn có đền Mẫu thờ mẹ ngài, đền Trình thờ thần linh thổ địa của bản vùng, và hai ngôi chùa Phật giáo là chùa Đại Bi cùng chùa Non Nước. Đây là kiểu thờ nhiều lớp rất quen của người Việt, nơi tín ngưỡng thờ anh hùng văn hóa, thờ thần đất và nhà Phật cùng đứng trong một khuôn viên mà không ai xóa ai. Việc trong quần thể có chùa không biến đền Sóc thành một ngôi chùa, cũng như việc có đền không biến hai ngôi chùa thành nơi thờ thần.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, nhiều người coi đền Sóc là nơi thờ chính còn đền Phù Đổng là đền vọng, hoặc ngược lại. Không phải. Hai nơi giữ hai đoạn khác nhau của cùng một thần tích: Phù Đổng là quê sinh, đền Sóc là chỗ hóa. Năm 2010, hội Gióng của cả hai nơi được ghi danh chung trong một hồ sơ, chính vì hai nơi làm thành một cặp không tách rời. Phần quê sinh xin quý vị đọc ở trang riêng của đền Phù Đổng.

Thứ hai, chùa Non Nước trong khu di tích này là ngôi chùa trên núi Vệ Linh ở vùng Sóc Sơn, hoàn toàn không liên quan tới núi Non Nước ở vùng Ninh Bình, cũng không liên quan tới cụm Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng mà người ta đôi khi cũng gọi là Non Nước. Ba nơi trùng tên nhưng khác đất, khác lịch sử, khác tông phái.

Thứ ba, pho tượng đồng lớn trên đỉnh núi là một tượng đài dựng năm 2010, không phải hiện vật cổ của khu đền. Đây là hai lớp niên đại cách nhau cả nghìn năm, đứng trong cùng một khu di tích.

IITừ Miếu Nhỏ Đến Quần Thể Trên Núi

Nếp thờ ở đây bắt đầu từ một ngôi miếu nhỏ của dân vùng núi, thờ vị mà họ gọi là Đổng Thiên Vương. Bước ngoặt biến ngôi miếu ấy thành một khu đền quy mô gắn với tên vua Lê Hoàn, tức Lê Đại Hành, ở khoảng cuối thế kỷ 10.

  • Trước thời Tiền LêMiếu thờ Đổng Thiên Vương
    Một ngôi miếu nhỏ của dân vùng núi lập ở chân núi Vệ Linh, thờ vị mà truyền thuyết nói đã bay về trời từ ngọn núi này.
  • Khoảng năm 980Dựng thành khu đền
    Theo truyền tụng địa phương, vua Lê Hoàn vào lễ ở ngôi miếu nhỏ trên đường đi, sau đó cho tạc tượng bằng gốc trầm hương, dựng đền quy mô và gia phong danh hiệu cho vị được thờ.
  • Thời LêLớp bia đá sớm nhất
    Trong khu di tích còn tấm bia bát giác thuộc lớp niên đại thời Lê, nằm trong số 145 hiện vật có giá trị của khu đền.
  • Thời NguyễnLớp hiện vật dày nhất
    Phần lớn hoành phi, câu đối, lư hương và tượng thờ hiện còn thuộc lớp thời Nguyễn, cho biết các đợt tu bổ liên tiếp trong giai đoạn này.
  • 1962Xếp hạng di tích quốc gia
    Khu di tích được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • 1993Dựng lại đền Thượng
    Ngôi đền chính được dựng lại trong đợt tu bổ này. Nếp nhà thấy hôm nay chủ yếu thuộc lớp công trình ấy, đặt trên nền thờ tự cũ.
  • 2010Tượng đài trên đỉnh núi và UNESCO ghi danh
    Pho tượng đồng cao 11,07 mét nặng khoảng 85 tấn được hoàn thành trên đỉnh núi. Cùng năm, hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc được ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • 2014Di tích quốc gia đặc biệt
    Khu di tích đền Sóc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408 ký ngày 31 tháng 12 năm 2014.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói rõ. Chỗ thứ nhất là tên ngọn núi. Phần lớn tài liệu gọi là núi Vệ Linh, có nơi gọi là núi Sóc hoặc núi Mã, và một số bản kể dân gian còn dùng tên núi Vây Rồng cho chính chỗ cởi áo giáp. Đây nhiều khả năng là các tên gọi khác nhau của cùng một dải núi hoặc của các mỏm khác nhau trong dải ấy, nhưng chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm nên ghi cả các cách gọi.

Chỗ thứ hai là niên đại khởi dựng. Các nguồn đều gắn việc dựng đền với vua Lê Hoàn ở khoảng cuối thế kỷ 10, có nguồn nêu con số khoảng năm 980, nhưng đây là niên đại của truyền tụng địa phương chứ không phải của bia ký đương thời. Mốc vật chất sớm nhất mà người đời sau đọc được trực tiếp là tấm bia thời Lê, muộn hơn nhiều thế kỷ.

IIICác Công Trình Trong Quần Thể

Quần thể không có một trục dọc duy nhất như đền miếu đồng bằng, mà là một chuỗi công trình nối nhau theo độ dốc của sườn núi. Khu di tích hiện giữ 145 hiện vật có giá trị, niên đại trải từ thời Lê và tập trung vào thời Nguyễn, gồm hoành phi, câu đối, bia đá, lư hương và tượng thờ.

Nghi môn

Hai lớp cổng dựng theo lối tứ trụ, trên trụ đắp hình phượng nổi. Đây là chỗ mở đầu của cả tuyến đi lên.

Đền Trình, tức đền Hạ

Ngôi đền thấp nhất trong tuyến, thờ thần linh thổ địa của bản vùng. Gồm hai lớp nhà đại bái và hậu cung. Theo lệ, người đi lễ trình ở đây trước rồi mới lên các nơi thờ phía trên.

Đền Mẫu

Thờ mẹ Thánh Gióng. Mặt bằng theo lối chữ Nhị, gồm tiền tế và hậu cung đứng song song, không nối nhau bằng ống muống.

Chùa Đại Bi

Ngôi chùa Phật giáo trong quần thể, mặt bằng theo lối chữ Đinh, quy mô vừa phải, nằm xen giữa các nơi thờ thần.

Đền Thượng

Ngôi đền chính, gồm nghi môn, tiền tế, trung cung và hậu cung. Trong hậu cung đặt pho tượng Thánh Gióng mà truyền tụng nói được tạc từ gốc trầm hương theo lệnh vua Lê Hoàn.

Nhà bia

Xây bằng gạch theo lối phương đình bốn mái, đặt tấm bia bát giác thuộc lớp niên đại thời Lê, hiện vật có giá trị vào bậc nhất của khu di tích.

Chùa Non Nước

Ngôi chùa trên cao, mặt bằng theo lối chữ Đinh, quy mô bề thế. Trong chùa đặt pho tượng Phật bằng đồng đúc liền khối, các nguồn ghi nặng khoảng ba mươi tấn.

Hòn đá Chồng

Khối đá trên sườn núi, tương truyền là bộ áo giáp sắt Thánh Gióng để lại trước khi bay về trời. Đây là dấu vật gốc của cả nếp thờ tự trong vùng.

Trên đỉnh núi, ở độ cao khoảng ba trăm lẻ hai mét, dựng một tượng đài Thánh Gióng bằng đồng cao 11,07 mét, nặng khoảng 85 tấn, hoàn thành năm 2010. Xin nhắc lại điều đã nói ở phần trên: đây là công trình mới, không phải hiện vật cổ, và nó được đặt tách hẳn khỏi cụm công trình thờ tự phía dưới chứ không chen vào giữa.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Cũng như hầu hết đền thờ gắn với thần tích, chỗ này không được chọn theo phép tầm long điểm huyệt. Đền dựng ở đây vì truyền thuyết nói vị được thờ đã rời trần gian ở đây. Nhưng khác với phần lớn trường hợp, địa hình lại hợp một cách hiếm thấy với nội dung được thờ, và đó là chỗ đáng đọc.

Xét về hình thế, quần thể dựa hẳn vào một dải núi, lưng có hậu chẩm vững, hai bên có sườn đồi khép lại, phía trước là vùng đất thấp mở ra. Ở châu thổ Bắc Bộ, nơi phần lớn đền miếu phải đào ao để bù cho địa hình phẳng, một chỗ có núi thật để tựa đã là của hiếm. Điểm khác biệt nằm ở chỗ đền không lấy núi làm bình phong rồi quay lưng lại, mà đặt cả một tuyến công trình leo dần lên núi.

Chính cái tuyến dốc ấy là phần đáng nói nhất. Trong lối bố cục cổ truyền, một trục nằm ngang dẫn người đi từ ngoài vào trong, tức đi sâu vào phần thiêng. Ở đây trục lại dựng đứng, dẫn người đi từ dưới lên trên. Đền Trình ở chân, đền Mẫu và chùa Đại Bi ở lưng chừng, đền Thượng cao hơn, chùa Non Nước cao hơn nữa, sau cùng là đỉnh trống không còn công trình thờ tự nào. Đọc theo con mắt cũ, đây là một mặt bằng được xếp theo chiều thăng chứ không theo chiều nhập, và nó nói đúng cái việc đã xảy ra ở đây theo truyền thuyết. Người đi lễ leo dần lên, tới chỗ cao nhất thì không còn gì để vào nữa, chỉ còn trời. Ít nơi nào mà địa hình và nội dung thờ tự trùng khít với nhau đến vậy.

Sau cùng là cặp đối xứng với Phù Đổng. Một nơi ở bãi bồi ven sông Đuống, đất bằng, phải đào ao làm minh đường, thờ phần sinh ra. Một nơi ở chân núi, đất dốc, không cần đào gì cả, thờ phần đi mất. Đọc hai nơi cùng lúc thì thấy người xưa không chỉ chọn hai chỗ thờ, mà chọn hai loại địa hình trái nhau để nói hai đầu của một đời người. Đó là một lối phong thủy thiên về nghĩa hơn là thiên về hình thế, và nó chỉ hiện ra khi ta không đọc lẻ từng nơi.

VHội Gióng Mùng Sáu Tháng Giêng

Hội Gióng đền Sóc khai hội mùng sáu tháng Giêng âm lịch và kéo dài thêm ít ngày sau đó. Cấu trúc của hội khác hẳn hội Gióng tháng Tư ở Phù Đổng: ở đây không có lớp diễn xướng đánh cờ, mà trọng tâm là lễ cung tiến, tức việc các thôn làng trong vùng rước lễ vật về đền, mỗi làng một thứ đã định sẵn từ đời này qua đời khác.

Tám lễ vật và tám thôn làng cung tiến trong hội Gióng đền Sóc. Tên đơn vị hành chính của các thôn đã thay đổi nhiều lần, ở đây ghi theo tên thôn làng vì lệ cung tiến gắn với làng chứ không gắn với đơn vị hành chính. Nguồn: Hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại về hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, cùng chương trình lễ hội do cơ quan quản lý di tích công bố..
Lễ vậtThôn làng cung tiếnÝ nghĩa theo lệ
Giò hoa treVệ LinhBó hoa tre chẻ nhỏ nhuộm màu, gắn với cây tre trong thần tích. Đây là lễ vật được nhắc tới nhiều nhất của hội.
Thần mãPhù MãHình con ngựa, tượng cho con ngựa đã đưa Thánh lên trời từ chính ngọn núi này.
Voi chiếnDược ThượngVoi kết bằng giấy và tre, rước về sân đền để cung thỉnh.
Ngà voiĐức HòaLễ vật đi kèm với voi, do một làng khác đảm nhận theo lệ phân vai cố định.
Cỏ voiYên SàoCỏ dâng cho voi và ngựa trong đám rước, một lễ vật giản dị mà không làng nào được làm thay.
Trầu cauĐan TảoLễ vật gắn với nếp sinh hoạt thường ngày của dân vùng này.
Kiệu tướngYên TàngKiệu rước các bé gái đóng vai tướng, một lớp diễn xướng nhỏ nằm trong đám rước.
Cầu húcXuân DụcQuả cầu dùng cho trò cầu húc, trò chơi dân gian mà truyền tụng nói do Thánh dạy dân.

Trình tự trong ngày khai hội giữ nếp cũ: dâng hương, đọc văn tế, rồi rước và tế của từng thôn làng theo thứ tự đã định. Sau phần tế, các lễ vật được chia cho người về dự, dân quen gọi là tan lộc. Trong đó giò hoa tre và trầu cau là hai thứ được xin nhiều nhất, người ta tin rằng giữ một nhánh tre của hội thì cả năm được yên lành.

Theo sử liệu

Cần nói một điều về tục tan lộc, bằng giọng sử liệu và không phê phán ai. Lệ gốc là phát lộc có trình tự, tức lễ vật được chia sau khi tế xong. Ở một số năm gần đây, lệ này từng diễn ra trong cảnh chen lấn, và từ đó ban tổ chức chuyển sang cách phát lộc tại chỗ có phân luồng thay vì để người dự tự lấy. Đây là một thay đổi về cách thực hành, không phải thay đổi về nội dung nghi lễ: thứ được chia vẫn là những lễ vật ấy, do những làng ấy dâng, theo thứ tự ấy.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Chân núi Vệ Linh, xã Phù Linh cũ, huyện Sóc Sơn, nay là xã Sóc Sơn, Hà Nội
Đường tới
Khu di tích nằm dưới chân núi Vệ Linh, xã Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội chừng ba mươi lăm tới bốn mươi cây số về phía bắc. Các công trình nối nhau theo sườn núi nên đi bộ từ cổng vào là cách duy nhất để đi hết quần thể.
Toạ độ
21.2922, 105.8316
Khi tới nơi

Đây là quần thể thờ tự đang hoạt động, trong đó có cả nơi thờ thần và nơi thờ Phật, nên lệ của từng nơi cần được giữ riêng: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung và trong chính điện chùa, không chạm tay vào bia đá và tượng thờ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Theo lệ, người đi lễ trình ở đền Trình trước rồi mới lên các nơi thờ phía trên. Đường lên đỉnh núi là đường dốc và có bậc, nên đi giày thấp.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Sóc

Contribute photos, information or video for Soc Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Sóc thờ ai

Thờ Thánh Gióng, tức Phù Đổng Thiên Vương, ở vùng núi này còn mang danh hiệu Sóc Thiên Vương. Trong quần thể còn có đền Mẫu thờ mẹ ngài, đền Trình thờ thần linh thổ địa, cùng hai ngôi chùa Phật giáo là chùa Đại Bi và chùa Non Nước.

Đền Sóc khác đền Phù Đổng ở chỗ nào

Đền Sóc là nơi thờ gắn với chỗ hóa, tức nơi truyền thuyết kể Thánh Gióng cởi áo giáp sắt rồi bay về trời. Đền Phù Đổng là nơi thờ trên quê sinh của ngài. Hội của hai nơi cũng khác nhau: đền Sóc mở mùng sáu tháng Giêng với lễ cung tiến, đền Phù Đổng mở tháng Tư với diễn xướng đánh cờ.

Chùa Non Nước ở đền Sóc có phải chùa Non Nước Ninh Bình không

Không. Chùa Non Nước trong khu di tích đền Sóc là ngôi chùa trên núi Vệ Linh ở vùng Sóc Sơn, không liên quan tới núi Non Nước ở vùng Ninh Bình, cũng không liên quan tới cụm Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng mà đôi khi cũng được gọi là Non Nước. Ba nơi chỉ trùng tên.

Hội Gióng đền Sóc có những lễ vật gì

Tám lễ vật do tám thôn làng cung tiến theo lệ cố định: giò hoa tre của Vệ Linh, thần mã của Phù Mã, voi chiến của Dược Thượng, ngà voi của Đức Hòa, cỏ voi của Yên Sào, trầu cau của Đan Tảo, kiệu tướng của Yên Tàng và cầu húc của Xuân Dục. Sau lễ tế thì chia lộc cho người về dự.

Tượng Thánh Gióng trên đỉnh núi có phải tượng cổ không

Không. Đó là tượng đài bằng đồng cao 11,07 mét, nặng khoảng 85 tấn, hoàn thành năm 2010. Pho tượng cổ gắn với truyền tụng là tượng trong hậu cung đền Thượng, mà lệ truyền nói được tạc từ gốc trầm hương theo lệnh vua Lê Hoàn ở khoảng cuối thế kỷ 10.

Đọc Tiếp