VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Trà Cổ

Đình làng Trà Cổ

Ngôi đình Việt nằm xa về phía đông bắc, dựng đúng lối đồng bằng Bắc Bộ trên một bán đảo cát cách quê gốc của dân làng hơn hai trăm cây số.

Niên đại
Tương truyền 1461
thời Lê sơ theo truyền ngôn làng, có nguồn xếp đầu thế kỷ 16
Bộ khung
48 cột lim
kê trên tảng đá xanh, tiền đường 5 gian 2 chái nối 3 gian hậu cung
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1225 ngày 24 tháng 10 năm 2023

Đi hết bán đảo Trà Cổ, qua những rặng phi lao chắn cát, quý vị gặp một mái đình bốn mái đao cong nằm giữa xóm. Mái đình hơi võng xuống ở giữa, dáng như một chiếc thuyền úp. Bộ khung bên trong bằng gỗ lim, chân cột kê trên tảng đá xanh, các đầu xà chạm đầu rồng, các mảng chạm đều là rồng, phượng, hổ. Không có một chi tiết nào cho biết nơi này cách đồng bằng sông Hồng hơn hai trăm cây số.

Đó chính là điều đáng nói về đình Trà Cổ. Người ta thường nhắc tới nó bằng vị trí, ngôi đình Việt nằm ở cực đông bắc. Nhưng cái làm nên nó không phải vị trí mà là sự y nguyên, một ngôi đình dựng đúng lối của làng quê đồng bằng, ở một chỗ mà mọi thứ chung quanh đều khác, do những người đã rời quê mà không rời lệ quê. Câu nói của người trong vùng tóm gọn điều ấy trong sáu tiếng là Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn.

Đình Trà Cổ
Đình Trà Cổ. Ảnh: Bùi Thế Tâm, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThành hoàng từ quê cũ, sáu vị tiên công và Quận He

Lớp thờ phụng tại đình Trà Cổ gắn chặt với lai lịch di cư từ Đồ Sơn thuộc Hải Phòng ra lập làng. Theo hồ sơ di tích trên cổng thông tin địa phương, sau khi dựng đình, dân làng đã trở về quê cũ Đồ Sơn xin rước chân hương các vị thành hoàng làng về thờ tại đình (gồm các vị có danh hiệu Không Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc và Quảng Trạch), đồng thời phối thờ sáu vị tiên công có công khai khẩn lập nên làng Trà Cổ cùng Quận He Nguyễn Hữu Cầu, thủ lĩnh nông dân thời Lê Trịnh, người quê Hải Phòng.

Cần nhận ra ngay điểm riêng là sự kết hợp giữa thờ thành hoàng quê gốc và thờ tổ khai canh. Nhiều đình Bắc Bộ chỉ thờ một vị thần có danh hiệu trong hệ thần linh hoặc một nhân vật lịch sử. Ở Trà Cổ, bên cạnh chân hương các vị thành hoàng rước từ Đồ Sơn để nối mạch quê cũ, dân làng đưa chính sáu vị tổ đầu tiên của các dòng họ trong làng cùng vị thủ lĩnh đồng hương vào thờ trong cung cấm.

Theo giáo nghĩa

Theo cách truyền ngôn của làng tự kể, vào năm Quang Thuận thứ hai đời vua Lê Thánh Tông (1461), có mười hai gia đình chài lưới ở Đồ Sơn đi biển gặp bão, dạt vào bán đảo đầy cát và đầm lầy sú vẹt này. Sáu gia đình không chịu nổi cảnh lam lũ đã quay về, còn sáu gia đình ở lại khai hoang lấn biển, làm nghề chài và trồng cấy, dần thành làng.

Trong truyền ngôn còn một câu được nhắc đi nhắc lại, đại ý là những người ở lại nói với nhau rằng đất này tuy khổ nhưng đã tới thì ở lại dựng nghiệp. Sáu người đứng đầu sáu gia đình ấy về sau được làng tôn làm tiên công, tức các vị mở đầu. Cái tên Trà Cổ cũng được giải thích theo mạch đó, là ghép tên hai làng quê cũ ở vùng Đồ Sơn, Hải Phòng là Trà Phương và Cổ Trai, để người sau không quên mình từ đâu tới.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, các nguồn hiện nay có hai cách trình bày về trọng tâm lớp thờ và số lượng ngai thờ trong đình. Hồ sơ di tích trên cổng thông tin thành phố Móng Cái và tư liệu di sản ghi rõ dân làng rước chân hương năm vị thành hoàng từ quê cũ Đồ Sơn về thờ chính, phối thờ sáu vị tiên công và Quận He Nguyễn Hữu Cầu, đồng thời kiểm kê hiện vật trong đình hiện giữ tám cỗ long ngai bằng gỗ thời Nguyễn cùng mười hai đạo sắc phong. Trong khi đó, một số bài báo khi giới thiệu đình lại viết gọn rằng đình thờ sáu vị tiên công với sáu cỗ ngai bài vị sơn son thếp vàng chia đều hai bên trong cung cấm và phối thờ Quận He. Thư viện ghi rõ cả hai cách chép để quý vị đối chiếu.

Về số gia đình ra lập làng, phần lớn tư liệu địa phương ghi ban đầu có mười hai gia đình bị bão dạt vào, sáu gia đình quay về còn sáu gia đình ở lại, còn một số bài tóm lược chỉ nhắc tới sáu gia đình. Dù theo cách ghi nào thì con số sáu vị tiên công ở lại mở đất vẫn hoàn toàn thống nhất.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm là vì đình nằm ở nơi địa đầu nên nhiều bài viết chỉ nhìn công trình theo mạch phòng giữ. Cách kể ấy làm mờ mất bản chất của một ngôi đình làng.

Theo tư liệu di tích, đình Trà Cổ là một đình làng đúng nghĩa, nơi họp việc làng, nơi phân ngôi thứ, nơi mở hội, và là nơi thờ thành hoàng cùng các vị tiên công của làng. Ý nghĩa cột mốc mà người đời sau nhắc tới là ý nghĩa văn hóa, tức việc một lối kiến trúc, một lối thờ tự và một bộ lễ tiết của đồng bằng sông Hồng được giữ nguyên ở một nơi rất xa nơi nó sinh ra. Cái làm nên giá trị là sự bền bỉ của lệ làng qua nhiều thế kỷ.

IITừ sáu gia đình đến ngôi đình hôm nay

Niên đại khởi dựng của đình được truyền là năm 1461 (niên hiệu Quang Thuận thứ hai đời Lê Thánh Tông). Đây là con số truyền ngôn của làng chứ không phải con số chép trong bia, và một số nhà nghiên cứu lịch sử đặt việc lập làng và dựng đình vào đầu thế kỷ mười sáu. Bộ khung gỗ hiện thấy mang dấu của nhiều lớp tu bổ về sau, từ thế kỷ mười sáu qua thời Nguyễn tới hiện đại.

  • 1461Lập làng và dựng đình theo truyền ngôn
    Theo truyền ngôn của làng, các gia đình chài lưới người Đồ Sơn ra khai lập làng Trà Cổ vào năm Quang Thuận thứ hai và dựng ngôi đình đầu tiên, rồi về quê cũ rước chân hương thành hoàng ra thờ.
  • Thế kỷ 16Lớp kiến trúc có ván sàn
    Bộ khung còn giữ hệ thống ván sàn gỗ, đặc điểm mà giới nghiên cứu xếp vào lớp đình làng thế kỷ này. Một số tài liệu lịch sử cũng đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ 16.
  • Thế kỷ 18Phối thờ Quận He
    Quận He Nguyễn Hữu Cầu (mất năm 1751), người quê Hải Phòng, được dân làng đưa vào phối thờ trong đình như một vị phúc thần đồng hương.
  • 1974Di tích quốc gia
    Đình được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 15-VH/QĐ ngày 13 tháng 3 năm 1974.
  • 2012Trùng tu lớn
    Sau các lần sửa chữa vào các năm 1879 và 1940, đình được trùng tu lớn năm 2012, định hình diện mạo hiện thấy trên khuôn viên rộng hơn một nghìn mét vuông.
  • 2019Lễ hội vào danh mục di sản quốc gia
    Ngày 20 tháng 12 năm 2019, lễ hội đình Trà Cổ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4590/QĐ-BVHTTDL.
  • 2023Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1225/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2023 xếp hạng đình Trà Cổ là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt, cùng đợt với thương cảng Vân Đồn.
Theo sử liệu

Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng. Thứ nhất là niên đại khởi dựng, con số 1461 được nhắc phổ biến trong truyền ngôn làng và báo chí, trong khi hồ sơ di tích địa phương ghi nhận thêm ý kiến của các nhà nghiên cứu đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ mười sáu (mốc 1516 cũng từng được nhắc tới). Hai mốc ấy cách nhau khoảng nửa thế kỷ, thư viện ghi cả hai.

Thứ hai là các đợt sửa chữa trước đây, tư liệu địa phương ghi nhận đình từng trải qua nhiều lần tu sửa dưới thời Nguyễn (trong đó có mốc năm 1879) và năm 1940 trước đợt đại trùng tu năm 2012. Thứ ba là xếp hạng, đình được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1974 và di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định ký ngày 24 tháng 10 năm 2023, nên các bài viết trước mốc 2023 vẫn ghi đình là di tích quốc gia.

IIIMái võng hình thuyền và bộ khung gỗ lim

Đình dựng trên khuôn viên rộng hơn một nghìn mét vuông, quay hướng nam. Bố cục gồm tòa bái đường (tiền đường) năm gian hai chái nối với ba gian hậu cung ở phía trong, tạo thành mặt bằng chữ Đinh quen thuộc của đình Bắc Bộ. Bộ khung bằng gỗ lim, gồm bốn mươi tám cột cái và cột quân kê trên các tảng đá xanh và đá sa thạch, các cột được giằng đan bởi hệ xà ngang dọc mà ở các đầu xà đều chạm hình đầu rồng.

Điều dễ nhận khi đứng từ xa là đường bờ nóc. Mái đình lợp ngói mũi hài không thẳng băng mà hơi võng xuống ở giữa rồi vươn cao dần về hai đầu với bốn góc đao cong vút, dáng như một con thuyền đang rẽ sóng. Với một làng sống bằng nghề biển, hình con thuyền nằm ngay trên mái nơi thờ của làng là hình ảnh gắn liền với đời sống thực tế của cư dân vùng đảo cát.

Hệ ván sàn và cung cấm

Trong lòng đình còn giữ hệ thống ván sàn, tức sàn gỗ nâng cao khỏi mặt nền ở hai bên gian giữa. Đây là đặc điểm của lớp đình làng sớm, và cũng là đặc điểm nói rõ chức năng, vì sàn gỗ là chỗ dân làng ngồi họp việc làng theo ngôi thứ, mỗi hạng người một chỗ. Ở nhiều ngôi đình, hệ sàn này đã bị bỏ trong các lần sửa để lấy mặt nền phẳng. Trà Cổ giữ lại được, và đó là một trong những lý do khiến giới nghiên cứu kiến trúc chú ý tới ngôi đình này.

Phía trong cùng là hậu cung (cung cấm), nơi đặt hệ thống long ngai và bài vị sơn son thếp vàng. Như đã nêu ở mục trên, hồ sơ kiểm kê của địa phương ghi nhận tám cỗ long ngai gỗ thời Nguyễn, trong khi một số bài báo mô tả sáu cỗ ngai bài vị chia đều hai bên. Đây là phần trang nghiêm của đình, chỉ mở cửa trong các kỳ lễ lớn.

Mảng chạm và đồ tế

Mảng chạm của đình tập trung trên các bức cốn, đầu bẩy, đầu dư và cửa võng với đề tài tứ linh, rồng, phượng, hổ, mây và hoa lá cách điệu, tức bộ đề tài chuẩn mực của đình làng đồng bằng Bắc Bộ. Người dựng đình không sáng tác ra một lối mới mà làm đúng cái đã học ở quê cũ Đồ Sơn. Hai bên đầu hồi đại đình có hai bức hoành phi chữ Hán là Nam sơn tịnh thọ và Địa cửu thiên trường. Hiện vật cổ trong đình còn giữ được gồm ba đỉnh hương đồng, hai hạc gỗ sơn son thếp vàng cưỡi đầu rùa, tám cỗ long ngai gỗ thời Nguyễn và mười hai đạo sắc phong.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay bị nhầm về mặt tên gọi. Trong vùng Trà Cổ trước đây còn có đình Tràng Vỹ. Hai ngôi là hai điểm thờ của hai khu dân cư khác nhau. Khi đọc tư liệu, xin quý vị để ý đúng tên đình Trà Cổ ở khu Nam Thọ để tránh nhầm lẫn thông tin.

Về tên chữ Hán ghi ở đầu bài, thư viện nói rõ rằng ba chữ ấy là chữ suy ra theo âm của tên làng, không phải chữ chép lại từ hoành phi hay bảng cổng của đình. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nhận ra kiểu đất, vì đây là kiểu địa hình đặc biệt trong phép xem đất cổ truyền. Trà Cổ nằm trên một bán đảo cát bồi tụ ven biển, ba phía là nước, không có núi đá cao, không có sông lớn chảy qua giữa làng, chỉ có bãi cát dài, các dải phi lao chắn gió và những vùng đầm lầy sú vẹt phía trong. Phép xem đất vốn dựng lên từ địa hình có núi có sông. Đem nguyên phép ấy áp vào một dải cát ven biển thì không khớp, nên phải đọc theo lối biến, tìm xem thứ gì đang giữ vai của núi và thứ gì giữ vai của nước.

Thứ giữ vai của nước thì rộng mênh mông vì biển vây quanh. Theo lối cũ, biển lớn thuộc loại thủy vô tình, tức nước quá mạnh và quá động nên không tụ được khí trực tiếp, lại thêm gió mặn và triều cường. Vì vậy nguyên tắc đầu tiên khi đặt nơi thờ ở dải ven biển là lùi vào trong, không dựng sát mép sóng. Đình Trà Cổ đứng giữa khu dân cư, có xóm làng và rặng phi lao che chắn ở phía ngoài, chứ không đứng trơ trọi ngoài bãi biển. Đó là lựa chọn đúng theo lối cũ, và cũng là lựa chọn đúng theo kinh nghiệm sống của người đi biển.

Thứ giữ vai của núi ở đây là hai thứ cùng lúc. Một là giồng cát cao chạy dọc bán đảo, phần đất cao ráo trong vùng. Hai là rặng phi lao và cây xanh lâu năm làm tường chắn gió biển. Trong cách nghĩ cũ, nơi nào cây cối đứng vững lâu đời thì nơi ấy được coi là có khí tụ, vì cây chỉ tốt trên đất lành và tán cây giữ cho khí khỏi bị gió biển cuốn đi. Trên một dải cát quanh năm chịu gió mặn, một rặng cây đứng vững tự nó đã là bức bình phong che chở cho làng.

Điều đáng đọc nhất ở Trà Cổ lại không nằm trong địa hình tại chỗ mà nằm trong quan hệ với quê gốc. Đình này thờ thành hoàng và các vị tiên công đến từ Đồ Sơn, cách hơn hai trăm cây số về phía tây nam, và mỗi kỳ lễ lại có nghi thức hướng về phía quê gốc ấy. Theo lối nghĩ cổ truyền, quê tổ và nơi lập nghiệp mới vốn là hai đầu của cùng một mạch, giữ được sự gắn kết giữa hai đầu thì mạch không đứt. Ở Trà Cổ, đầu kia của mạch nằm ở bên kia vùng biển. Làng không dời được đất tổ đi theo, nên thay vì một trục đất liền mạch, họ dựng một trục nghi lễ, mỗi năm một lần cả làng cùng hướng lòng về quê cũ Đồ Sơn. Đây là cách một cộng đồng di cư giữ long mạch tinh thần của mình.

Sau cùng là hướng. Hồ sơ di tích địa phương ghi rõ đình Trà Cổ quay hướng nam. Ở dải ven biển đông bắc, gió lạnh mùa đông thổi mạnh từ phía bắc và đông bắc, còn phía nam và đông nam là hướng đón gió biển mát lành. Quay mặt về hướng nam giúp ngôi đình tránh được gió bắc thổi trực diện vào lòng đình, đồng thời mở mặt tiền về phía biển ấm. Còn một chi tiết nữa đáng đọc là đường bờ nóc võng như thân thuyền. Trong phép xem hình, mái võng tạo thế ôm giữ lấy khoảng sân trước mặt chứ không đẩy khí ra xa, vừa hợp với hình ảnh con thuyền của làng biển vừa hợp với phép tụ khí của nơi thờ tự.

VLễ hội tháng Năm và tục thi Ông Voi

Lễ hội đình Trà Cổ mở vào cuối tháng Năm âm lịch, kéo sang đầu tháng Sáu, và được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 20 tháng 12 năm 2019. Phần làm nên tiếng của kỳ lễ này là tục thi Ông Voi, một mỹ tục độc đáo của cư dân Trà Cổ.

Các chặng của lễ hội đình Trà Cổ, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích của thành phố Móng Cái và hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đình Trà Cổ..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Trước ngày 30 tháng NămNuôi Ông Voi trong nămMười hai người được làng cử làm cai đám, mỗi người nhận nuôi một con lợn suốt năm, gọi kính là Ông Voi. Lợn được nuôi riêng, chăm theo lệ, ngày nóng có màn che quạt mát, không nuôi chung với lợn thịt.
Ngày 30 tháng NămRước Ông Voi chầu thần và chấm giảiChiều 30 tháng Năm, mười hai cai đám đưa Ông Voi vào cũi sơn đỏ có mái che, rước ra sân đình xếp thành hai hàng chầu thần. Ban tổ chức dùng thước đo chiều dài, vòng cổ và xét dáng vóc từng Ông Voi để chấm giải.
Mùng 1 tháng SáuChính hội, rước Vua ra miếu và trao giảiNgày lễ lớn có nghi thức rước long ngai từ đình về miếu (rước Vua ra miếu), trao thưởng cho cai đám có Ông Voi đoạt giải. Ông Voi giải nhất được giữ lại mổ tế thần, trên mâm lễ phải có túm lông đuôi Ông Voi.
Mùng 2 tới mùng 3 tháng SáuTế lễ, rước Vua hoàn cung và trò diễnĐội tế hành lễ theo nghi thức tế đình, làm lễ rước Vua trở lại đình, nhảy phỗng, múa bông, múa cờ và mở các trò diễn dân gian.
Theo sử liệu

Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng. Phần lớn tư liệu của địa phương và hồ sơ di sản ghi lễ hội diễn ra từ ngày 30 tháng Năm tới mùng 3 tháng Sáu âm lịch (một số năm tổ chức từ 29 tháng Năm) với chính hội vào mùng 1 tháng Sáu, nhưng có bài báo lại ghi kỳ lễ rơi vào ngày 30 tháng Năm và mùng 1 tháng Năm. Thư viện lấy mốc từ ngày 30 tháng Năm tới mùng 3 tháng Sáu vì khớp với trình tự nghi lễ của địa phương, đồng thời ghi nhận cách chép kia để quý vị rõ.

Về tục cai đám và thi Ông Voi, đây là phần đáng đọc kỹ. Mười hai người được làng chọn từ năm trước phải là người khỏe mạnh, gia đình song toàn, ăn ở thuận hòa và được dân làng tín nhiệm. Một người chỉ được làm cai đám một lần trong đời. Con lợn được nuôi gọi kính là Ông Voi, ăn ngủ theo chế độ riêng suốt một năm. Tới chiều 30 tháng Năm, sau khi chấm giải ở sân đình, chỉ có Ông Voi đoạt giải nhất được giữ lại làm lễ tế thần (trên mâm lễ dâng thần ngoài thủ lợn nhất thiết phải có túm lông đuôi của Ông Voi), còn các Ông Voi khác được cai đám rước về nhà mổ khao họ hàng làng xóm. Nói cách khác, cả năm trời nuôi Ông Voi là một kỳ trai giới và dâng tâm sức của mười hai gia đình đối với thần linh và cộng đồng.

Phần thứ hai đáng chú ý là nghi thức rước và hướng về quê tổ. Trong kỳ lễ có đám rước long ngai bài vị với hàng trăm người tham gia trong trang phục truyền thống, cùng nghi thức đoàn thuyền hướng về phía quê gốc Đồ Sơn. Đây là chỗ mà sáu tiếng Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn chuyển từ một câu nói thành hành động nghi lễ cụ thể.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Trà Cổ cũ, thành phố Móng Cái, nay là phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh
Đường tới
Đình nằm ở khu Nam Thọ trên bán đảo Trà Cổ, thuộc phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh, trước là phường Trà Cổ của thành phố Móng Cái. Từ trung tâm Móng Cái đi ra bán đảo theo tuyến đường nhựa, đình nằm giữa khu dân cư cách bãi biển Trà Cổ một quãng ngắn.
Toạ độ
21.477, 108.0157
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong đình, đi nhẹ nói khẽ, không bước lên ván sàn ở chỗ người của làng đã ngồi theo ngôi thứ, không chạm vào long ngai, bài vị và đồ tế. Hậu cung chỉ mở trong kỳ lễ. Những ngày có Ông Voi chầu ở sân đình, xin đứng ngoài khu vực hành lễ và giữ trật tự.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Trà Cổ

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Trà Cổ thờ ai

Theo hồ sơ di tích địa phương, đình thờ các vị thành hoàng được dân làng rước chân hương từ quê cũ Đồ Sơn về (gồm Không Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch), đồng thời phối thờ sáu vị tiên công có công khai lập làng Trà Cổ và Quận He Nguyễn Hữu Cầu. Hiện vật trong đình hiện giữ tám cỗ long ngai gỗ thời Nguyễn (bên cạnh cách chép của một số báo về sáu cỗ ngai bài vị của sáu vị tiên công).

Người Trà Cổ tổ Đồ Sơn nghĩa là gì

Là câu người trong vùng dùng để nhắc gốc gác của làng, rằng cư dân Trà Cổ là con cháu những gia đình chài lưới từ Đồ Sơn (Hải Phòng) ra đây lập nghiệp. Chính tên làng Trà Cổ cũng được giải thích là ghép từ tên hai làng cổ ở quê gốc là Trà Phương và Cổ Trai, để đời sau không quên nguồn cội.

Thi Ông Voi ở đình Trà Cổ là gì

Là tục mười hai ông cai đám được làng cử ra, mỗi người nuôi một con lợn suốt năm và gọi kính là Ông Voi. Chiều 30 tháng Năm âm lịch, mười hai Ông Voi được đặt trong cũi sơn đỏ rước ra sân đình chầu thần để chấm giải. Ông Voi giải nhất được giữ lại tế thần (trên mâm lễ có túm lông đuôi), các Ông Voi còn lại được đưa về khao dân làng.

Lễ hội đình Trà Cổ diễn ra ngày nào

Tư liệu địa phương và hồ sơ di sản ghi lễ hội mở từ ngày 30 tháng Năm tới mùng 3 tháng Sáu âm lịch, chính hội vào mùng 1 tháng Sáu. Lễ hội đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 20 tháng 12 năm 2019.

Đình Trà Cổ được xây năm nào

Truyền ngôn của làng ghi năm 1461 (niên hiệu Quang Thuận thứ hai thời Lê Thánh Tông), trong khi một số nhà nghiên cứu đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ 16. Đình còn giữ hệ ván sàn gỗ cổ, được xếp hạng di tích quốc gia năm 1974 và di tích quốc gia đặc biệt ngày 24 tháng 10 năm 2023.

›Đọc Tiếp