VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đình Trà Cổ

Đình làng Trà Cổ

Ngôi đình Việt nằm xa nhất về phía đông bắc, dựng đúng lối đồng bằng Bắc Bộ trên một bán đảo cát cách quê gốc của dân làng hơn hai trăm cây số.

Niên đại
Tương truyền 1461
thời Lê sơ, theo truyền ngôn của làng
Bộ khung
48 cột lim
kê trên tảng đá, tiền đường năm gian hai chái nối ba gian hậu cung
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
quyết định ký ngày 24 tháng 10 năm 2023

Đi hết bán đảo Trà Cổ, qua những rặng phi lao chắn cát, quý vị gặp một mái đình bốn mái đao cong nằm giữa xóm. Mái đình hơi võng xuống ở giữa, dáng như một chiếc thuyền úp. Bộ khung bên trong bằng gỗ lim, chân cột kê trên tảng đá chạm đầu rồng, các mảng chạm đều là rồng, phượng, hổ. Không có một chi tiết nào cho biết nơi này cách đồng bằng sông Hồng hơn hai trăm cây số.

Đó chính là điều đáng nói nhất về đình Trà Cổ. Người ta thường nhắc tới nó bằng vị trí, ngôi đình Việt nằm xa nhất về phía đông bắc. Nhưng cái làm nên nó không phải vị trí mà là sự y nguyên: một ngôi đình dựng đúng lối của làng quê đồng bằng, ở một chỗ mà mọi thứ chung quanh đều khác, do những người đã rời quê mà không rời lệ quê. Câu nói của người trong vùng tóm gọn điều ấy trong sáu tiếng: Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn.

ISáu Vị Tiên Công Và Quận He

Đình Trà Cổ thờ sáu vị tiên công, tức sáu người đầu tiên ra lập nên làng Trà Cổ, quê gốc ở Đồ Sơn thuộc Hải Phòng. Trong cung cấm của đình đặt sáu cỗ ngai bài vị, mỗi bên ba cỗ. Ngoài sáu vị ấy, đình còn phối thờ Quận He Nguyễn Hữu Cầu, thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa nông dân thời Lê Trịnh, người quê Hải Phòng.

Cần nhận ra ngay điểm riêng: đây là lối thờ tổ khai canh, không phải thờ một vị thần có sẵn rồi làng rước về. Nhiều đình Bắc Bộ thờ nhiên thần, thờ một vị đã có danh hiệu trong hệ thần linh, hoặc thờ một nhân vật lịch sử lớn mà làng không hề có quan hệ huyết thống. Ở Trà Cổ thì khác. Sáu vị được đặt lên ngai là sáu người thật của chính làng ấy, tổ của các dòng họ còn sống trong làng. Thờ ở đây gần với việc thờ tổ tiên hơn là gần với việc thờ thần.

Theo giáo nghĩa

Theo cách truyền ngôn của làng tự kể, vào thời Lê sơ có một số gia đình chài lưới ở Đồ Sơn đi biển gặp bão, dạt vào bán đảo này. Đất khi ấy hoang, chỉ có cát và sú vẹt. Một số người chịu không nổi mà quay về, nhưng có sáu gia đình ở lại, khai hoang lấn biển, làm nghề chài và trồng cấy, dần thành làng.

Trong truyền ngôn còn một câu được nhắc đi nhắc lại, đại ý là những người ở lại nói với nhau rằng con chim có tổ thì người phải có quê, đất này tuy khổ nhưng đã tới thì ở. Sáu gia đình ấy về sau được làng tôn làm tiên công, tức các vị mở đầu. Cái tên Trà Cổ cũng được giải thích theo mạch đó: là ghép tên hai làng quê cũ ở Hải Phòng, Trà PhươngCổ Trai, để người sau không quên mình từ đâu tới.

Theo sử liệu

Trên phương diện khảo được, câu chuyện sáu gia đình thuộc lớp truyền ngôn của làng chứ không có văn bản đương thời chép lại. Các nguồn đời nay cũng ghi khác nhau ở một chi tiết quan trọng: có tài liệu nói ngay từ đầu chỉ có sáu gia đình ra đây, có tài liệu nói ban đầu là mười hai gia đình bị bão dạt vào, sáu gia đình quay về còn sáu gia đình ở lại. Chúng tôi ghi cả hai cách chứ không chọn bừa một cách.

Điều khảo được chắc hơn là dấu vết của lối thờ. Sáu cỗ ngai bài vị chia đều hai bên trong cung cấm, không có một cỗ nào đặt cao hơn năm cỗ còn lại, là bố trí nói lên rằng sáu vị ngang vai nhau. Ở một ngôi đình thờ thần có thứ bậc thì cách đặt sẽ khác hẳn. Bố trí ngang vai ấy khớp với việc sáu vị là sáu người cùng tới, cùng ở lại, cùng lập nên một làng.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay hiểu lầm: vì đình nằm ở nơi địa đầu nên nhiều bài viết gọi nó là một cột mốc và kể chuyện theo mạch phòng giữ. Cách kể ấy làm lệch mất bản chất của công trình.

Theo tư liệu di tích, đình Trà Cổ là một đình làng đúng nghĩa: nơi họp việc làng, nơi phân ngôi thứ, nơi mở hội, và là nơi thờ các vị tiên công của làng. Ý nghĩa cột mốc mà người đời sau gán cho nó là ý nghĩa văn hóa, tức việc một lối kiến trúc, một lối thờ tự và một bộ lễ tiết của đồng bằng sông Hồng được giữ nguyên ở một nơi rất xa nơi nó sinh ra. Cái làm nên giá trị là sự bền của lệ làng, không phải là chuyện gì khác.

IITừ Sáu Gia Đình Đến Ngôi Đình Hôm Nay

Niên đại khởi dựng của đình được truyền là năm 1461, thời Lê sơ. Đây là con số truyền ngôn chứ không phải con số chép trong bia, và một số tài liệu lại đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ mười sáu. Bộ khung gỗ hiện thấy mang dấu của nhiều lớp tu bổ về sau, trong đó có cả hệ ván sàn, một đặc điểm mà giới nghiên cứu gắn với đình làng thế kỷ mười sáu.

  • 1461Lập làng và dựng đình
    Theo truyền ngôn của làng, các gia đình chài lưới người Đồ Sơn ra khai lập làng Trà Cổ trong năm này và dựng ngôi đình đầu tiên. Đây là niên đại truyền ngôn, không có bia ghi lại.
  • Thế kỷ 16Lớp kiến trúc có ván sàn
    Bộ khung còn giữ hệ thống ván sàn, đặc điểm mà giới nghiên cứu xếp vào lớp đình làng thế kỷ này. Một số tài liệu cũng đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ 16 thay vì năm 1461.
  • Thời Lê TrịnhPhối thờ Quận He
    Quận He Nguyễn Hữu Cầu, người quê Hải Phòng, được đưa vào phối thờ trong đình, nối thêm một sợi dây nữa giữa làng và vùng quê gốc.
  • 1974Di tích quốc gia
    Đình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
  • 2012Trùng tu lớn
    Đình được trùng tu, định hình diện mạo hiện thấy trên khuôn viên rộng hơn một nghìn mét vuông.
  • 2019Lễ hội vào danh mục di sản quốc gia
    Ngày 20 tháng 12 năm 2019, lễ hội đình Trà Cổ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • 2023Di tích quốc gia đặc biệt
    Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho đình Trà Cổ được ký ngày 24 tháng 10 năm 2023, cùng đợt với thương cảng Vân Đồn.
Theo sử liệu

Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng. Thứ nhất là niên đại khởi dựng: con số 1461 được nhắc nhiều nhất và là con số của truyền ngôn làng, trong khi một số tài liệu đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ mười sáu. Hai mốc ấy cách nhau hơn nửa thế kỷ, chúng tôi ghi cả hai.

Thứ hai là số gia đình ra lập làng, đã nói ở mục trên, có nguồn ghi sáu, có nguồn ghi mười hai rồi sáu ở lại. Thứ ba là xếp hạng: đình được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1974 và di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định ký ngày 24 tháng 10 năm 2023, nên các bài viết cũ hơn mốc 2023 vẫn ghi đình là di tích quốc gia. Đó không phải chỗ sai của bài cũ mà là chỗ khác nhau về thời điểm viết.

IIIMái Võng Hình Thuyền Và Bộ Khung Gỗ Lim

Đình dựng trên khuôn viên rộng hơn một nghìn mét vuông. Bố cục gồm tòa tiền đường năm gian hai chái nối với ba gian hậu cung ở phía trong, tạo thành mặt bằng chữ Đinh quen thuộc của đình Bắc Bộ. Bộ khung bằng gỗ lim, gồm bốn mươi tám cột kê trên các tảng đá, và theo mô tả trong tư liệu di tích thì các tảng đá ấy được chạm hình đầu rồng.

Điều dễ nhận nhất khi đứng từ xa là đường bờ nóc. Mái đình không thẳng mà hơi võng xuống ở giữa rồi vươn lên ở hai đầu, dáng như một con thuyền úp. Bốn góc mái là bốn đao cong. Với một làng sống bằng nghề biển, hình con thuyền nằm ngay trên mái nơi thờ tổ của làng không phải là một liên tưởng xa xôi của người đời sau, mà là thứ người trong làng nhìn thấy mỗi ngày.

Hệ ván sàn và cung cấm

Trong lòng đình còn giữ hệ thống ván sàn, tức sàn gỗ nâng cao khỏi mặt nền. Đây là đặc điểm của lớp đình làng sớm, và cũng là đặc điểm nói rõ chức năng: sàn gỗ là chỗ dân làng ngồi họp việc làng theo ngôi thứ, mỗi hạng người một chỗ. Ở nhiều ngôi đình, hệ sàn này đã bị bỏ trong các lần sửa để lấy mặt nền phẳng. Trà Cổ giữ lại được, và đó là một trong những lý do khiến giới nghiên cứu xếp nó vào hàng đáng chú ý chứ không chỉ đáng nhớ vì vị trí.

Phía trong cùng là cung cấm, nơi đặt sáu cỗ ngai bài vị của sáu vị tiên công, mỗi bên ba cỗ. Đây là phần kín nhất của đình, chỉ mở trong các kỳ lễ và do những người được làng cử ra lo việc.

Mảng chạm và đồ tế

Mảng chạm của đình tập trung vào rồng, phượng và hổ, tức bộ đề tài chuẩn mực của đình làng đồng bằng, chứ không có một đề tài nào riêng của vùng biên. Đó lại chính là điều đáng ghi: người dựng đình không sáng tác ra một lối mới cho hợp chỗ mới, mà làm đúng cái đã học ở quê cũ. Cùng mạch ấy là các đồ tế còn giữ trong đình, gồm lư hương đồng, hạc gỗ sơn son và các bài vị.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay bị nhầm về mặt tên gọi. Trong vùng Móng Cái còn một ngôi đình khác cũng có lễ hội lớn và cũng hay được nhắc cùng lúc là đình Tràng Vỹ. Hai ngôi là hai di tích khác nhau, hai làng khác nhau, có lễ riêng và ban khánh tiết riêng. Khi đọc tư liệu, xin quý vị để ý tên đình chứ không chỉ để ý tên vùng, vì các bản tin về lễ hội của hai nơi thường ra vào cùng mùa và dễ bị đọc lẫn.

Về tên chữ Hán ghi ở đầu bài, chúng tôi nói rõ: ba chữ ấy là chữ chúng tôi suy ra theo âm của tên làng, không phải chữ chép lại từ hoành phi hay bảng cổng của đình. Nếu quý vị tới nơi và đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nhận ra kiểu đất, vì đây là kiểu khó nhất trong các kiểu mà phép xem đất cổ truyền phải xử lý. Trà Cổ nằm trên một bán đảo cát cong như lưỡi liềm, ba phía là nước, không có núi, không có sông lớn chảy qua làng, chỉ có bãi cát dài, các dải phi lao chắn gió và những vùng đầm lầy sú vẹt phía trong. Phép xem đất vốn dựng lên từ địa hình có núi có sông. Đem nguyên phép ấy áp vào một dải cát thì không khớp, nên phải đọc theo lối biến: tìm xem thứ gì đang giữ vai của núi và thứ gì giữ vai của nước.

Thứ giữ vai của nước thì thừa, thậm chí thừa quá mức. Biển vây ba mặt. Theo lối cũ, biển thuộc loại thủy vô tình, tức nước quá lớn và quá động nên không tụ được khí, lại thêm gió mặn và nước dâng. Vì vậy nguyên tắc đầu tiên khi đặt nơi thờ ở dải ven biển là lùi vào trong, không dựng sát mép sóng. Đình Trà Cổ đứng giữa khu dân cư, có xóm làng và rặng phi lao che chắn ở phía ngoài, chứ không đứng trên bãi. Đó là lựa chọn đúng theo lối cũ, và cũng là lựa chọn đúng theo kinh nghiệm sống của người đi biển.

Thứ giữ vai của núi ở đây là hai thứ cùng lúc. Một là cồn cát, phần đất cao chạy dọc bán đảo, thứ duy nhất trong vùng có độ cao đáng kể. Hai là rặng phi lao, tường cây chắn gió biển. Trong cách nghĩ cũ, nơi nào cây cối đứng vững lâu đời thì nơi ấy được coi là có khí tụ, vì cây chỉ tốt trên đất tốt và tán cây giữ cho khí khỏi bị gió cuốn. Trên một dải cát quanh năm chịu gió mặn, một rặng cây đứng được đã tự nó là chứng cứ về đất.

Điều đáng đọc nhất ở Trà Cổ lại không nằm trong địa hình mà nằm trong quan hệ với một chỗ khác. Đình này thờ tổ đến từ Đồ Sơn, cách hơn hai trăm cây số về phía tây nam, và mỗi kỳ lễ lại có nghi thức đoàn thuyền hướng về phía quê gốc ấy. Theo lối nghĩ cổ truyền, phần mộ tổ và nơi thờ vốn là hai đầu âm dương của cùng một mạch, và giữ được cả hai đầu thì mạch không đứt. Ở Trà Cổ, đầu kia của mạch nằm ngoài tầm mắt, ở bên kia một vùng biển. Làng không dời được nó về, nên thay vì một trục đất nối hai điểm, họ dựng một trục nghi lễ: mỗi năm một lần, cả làng cùng quay mặt về hướng ấy. Đây là cách một cộng đồng di cư giữ long mạch của mình khi long mạch nằm ở quê cũ, và đó là điều hiếm thấy ở các ngôi đình đồng bằng.

Sau cùng là hướng. Tư liệu di tích không ghi hướng của đình theo địa bàn, nên chúng tôi không nêu một con số độ nào. Chỉ xin nói điều chung của dải ven biển đông bắc: gió lạnh và gió mạnh tới từ phía bắc và đông bắc, còn phía có nước rộng và thoáng là phía nam và đông nam. Các công trình thờ tự trong vùng vì thế phần lớn tránh quay lưng về hướng có gió lớn nhất, và lấy phần đất cao cùng rặng cây làm chỗ dựa. Còn một chi tiết nữa đáng đọc: đường bờ nóc võng như thân thuyền. Trong phép xem hình, mái võng là mái nhận chứ không phải mái đẩy, thế của nó là thế ôm lấy khoảng sân trước mặt. Với một làng chài lấy thuyền làm phương tiện sống, cái thế ấy hợp cả về hình lẫn về nghĩa.

VLễ Hội Tháng Năm Và Tục Thi Ông Voi

Lễ hội đình Trà Cổ mở vào cuối tháng Năm âm lịch, kéo sang đầu tháng Sáu, và được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 20 tháng 12 năm 2019. Phần làm nên tiếng của kỳ lễ này là tục thi Ông Voi, một tục mà nơi khác không có.

Các chặng của lễ hội đình Trà Cổ, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích và hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về lễ hội đình Trà Cổ. Ngày mở hội được một số nguồn ghi khác nhau, xin xem phần nói rõ ngay dưới bảng..
Thời điểm âm lịchLễNội dung
Trước ngày 30 tháng NămNuôi Ông Voi trong nămMười hai người được làng cử làm cai đám, mỗi người nhận nuôi một con lợn suốt năm, gọi kính là Ông Voi. Lợn được nuôi riêng, chăm theo lệ, không nuôi chung với lợn thịt của nhà.
Ngày 30 tháng NămRước Ông Voi vào đìnhCác Ông Voi được tắm rửa rồi đưa vào sân đình chầu. Ban tổ chức đo từng con, đo chiều dài từ đầu tới đuôi và đo vòng cổ, rồi xét cả dáng vóc để chấm giải.
Mùng 1 tháng SáuChính hộiNgày lễ lớn nhất, có nghi thức rước thần đi quanh làng. Các nhà dọc đường rước bày mâm lễ, trong đó hải sản là lễ vật đặc trưng của làng biển.
Mùng 2 tới mùng 3 tháng SáuTế và các trò diễnĐội tế hành lễ tại đình theo nghi thức tế đình Bắc Bộ, kèm múa bông, múa cờ và các trò diễn dân gian của làng.
Theo sử liệu

Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng: phần lớn tư liệu ghi lễ hội diễn ra từ ngày 30 tháng Năm tới mùng 3 tháng Sáu âm lịch với chính hội vào mùng 1 tháng Sáu, nhưng có bài lại ghi kỳ lễ rơi vào ngày 30 và mùng 1 tháng Năm. Chúng tôi lấy cách ghi thứ nhất vì nó xuất hiện nhất quán hơn trong tư liệu của địa phương, đồng thời nói rõ rằng có nguồn ghi khác.

Về tục cai đám, đây là phần đáng đọc kỹ nhất. Mười hai người được làng chọn phải là người khỏe mạnh, ăn ở được lòng làng, gia đình thuận hòa. Một người chỉ được làm cai đám một lần trong đời, không làm lại. Người trong làng coi việc được chọn là điều may, vì tin rằng nhà nào làm tròn phận cai đám thì năm ấy được yên và được lộc.

Nhìn từ bên ngoài, đây có vẻ chỉ là một cuộc thi nuôi lợn. Nhìn từ bên trong thì khác. Con vật được gọi bằng tiếng kính là Ông, được nuôi riêng suốt một năm, được tắm rửa trước khi vào sân đình, và người nuôi thì được làng chọn theo tiêu chuẩn về tư cách chứ không theo tiêu chuẩn về nghề chăn nuôi. Nói cách khác, cả năm trời ấy là một kỳ trai giới kéo dài của mười hai gia đình, và kỳ lễ tháng Năm chỉ là chỗ kết thúc của nó.

Phần thứ hai đáng chú ý là nghi thức hướng về Đồ Sơn. Trong kỳ lễ có chặng đoàn thuyền hướng về phía quê gốc của các vị tiên công. Đây là chỗ mà sáu tiếng Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn chuyển từ một câu nói thành một việc làm, và là điều phân biệt lễ hội ở đây với lễ hội của các đình làng đồng bằng, nơi mọi thứ đều diễn ra trong phạm vi làng mình.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phường Trà Cổ cũ, thành phố Móng Cái, nay là phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh
Đường tới
Đình nằm trên bán đảo Trà Cổ, thuộc phường Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh, trước là phường Trà Cổ của thành phố Móng Cái. Từ trung tâm Móng Cái đi ra bán đảo theo một tuyến đường duy nhất, đình nằm giữa khu dân cư cách bãi biển một quãng ngắn.
Toạ độ
21.477, 108.0157
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong đình, đi nhẹ nói khẽ, không bước lên ván sàn ở chỗ người của làng đã ngồi theo ngôi thứ, không chạm vào ngai bài vị và đồ tế. Cung cấm chỉ mở trong kỳ lễ. Những ngày có Ông Voi chầu ở sân đình, xin đứng ngoài khu vực đã quây và không cho ăn.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đình Trà Cổ

Contribute photos, information or video for Tra Co Communal House

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đình Trà Cổ thờ ai

Thờ sáu vị tiên công, tức sáu người quê Đồ Sơn thuộc Hải Phòng đã ra khai lập làng Trà Cổ, với sáu cỗ ngai bài vị đặt trong cung cấm, mỗi bên ba cỗ. Đình còn phối thờ Quận He Nguyễn Hữu Cầu. Đây là lối thờ tổ khai canh, gần với thờ tổ tiên hơn là thờ một vị thần có sẵn.

Người Trà Cổ tổ Đồ Sơn nghĩa là gì

Là câu người trong vùng dùng để nhắc gốc gác của làng: dân Trà Cổ là con cháu những gia đình chài lưới từ Đồ Sơn ra đây lập nghiệp. Chính tên làng cũng được giải thích là ghép từ tên hai làng cũ ở Hải Phòng, Trà Phương và Cổ Trai, để người sau không quên mình từ đâu tới.

Thi Ông Voi ở đình Trà Cổ là gì

Là tục mười hai người được làng cử làm cai đám, mỗi người nuôi một con lợn suốt năm và gọi kính là Ông Voi. Tới kỳ lễ, các Ông Voi được tắm rửa rồi đưa vào sân đình chầu, ban tổ chức đo chiều dài từ đầu tới đuôi và đo vòng cổ từng con cùng xét dáng vóc để chấm giải.

Lễ hội đình Trà Cổ diễn ra ngày nào

Phần lớn tư liệu ghi lễ hội mở từ ngày 30 tháng Năm tới mùng 3 tháng Sáu âm lịch, chính hội vào mùng 1 tháng Sáu. Có nguồn ghi khác là ngày 30 và mùng 1 tháng Năm, chỗ vênh này đã nói rõ trong bài. Lễ hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 20 tháng 12 năm 2019.

Đình Trà Cổ được xây năm nào

Truyền ngôn của làng ghi năm 1461 thời Lê sơ, nhưng một số tài liệu lại đặt việc lập làng vào đầu thế kỷ 16. Bộ khung còn giữ hệ ván sàn, đặc điểm của lớp đình làng thế kỷ 16. Đình được xếp hạng di tích quốc gia năm 1974 và di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định ký ngày 24 tháng 10 năm 2023.

Đọc Tiếp