VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Xám

Đền thờ Trần Minh Công

Ngôi đền của một làng đồng bằng, thờ một vị tướng thế kỷ mười ít nơi thờ, và giữ được lớp chạm gỗ hiếm của thời Mạc cùng thời Lê Trung hưng.

Lớp kiến trúc còn lại
thế kỷ 16
chạm gỗ thời Mạc trên y môn hậu cung, tu bổ qua thế kỷ 17 tới 19
Bố cục
chữ công
tiền đường, trung đường quay dọc, hậu cung ba gian
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 152 ngày 17 tháng 1 năm 2025

Đi hết một con đường làng bên hữu ngạn sông Hồng, quý vị gặp một nghi môn xây gạch, hai gác chuông ba tầng mái đứng chầu hai bên, và một nếp nhà vuông vắn tách riêng khỏi khối đền mà người làng gọi là đình Hát. Khối đền chính nằm sau đó, ba tòa nối nhau theo chữ công, mái thấp, hiên rộng, cửa gỗ dày.

Thứ đáng dừng lại lâu nhất ở đây không nằm trên nóc mà nằm trên hệ cửa và cấu kiện gỗ. Các mảng chạm thủng trên y môn cửa hậu cung mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 16 thời Mạc, nối tiếp bằng lớp chạm rồng, thú, đao mác và lá hỏa dày đặc của giữa thế kỷ 17 trên cửa, cột và ván gió tòa tiền đường. Sự hiện diện của hai lớp chạm cổ ấy là lý do một ngôi đền làng trở thành di tích quốc gia đặc biệt.

Đền Xám
Đền Xám. Ảnh: Không rõ (Unknown), giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

ITrần Minh Công Và Lối Thờ Nhân Thần

Vị được thờ là Phụ dực quốc chính Thượng tướng quân Trần Minh Công, tên thật là Trần Lãm (907 tới 978), người giữ vùng Bố Hải Khẩu ở thế kỷ 10, tức một trong các sứ quân của buổi loạn mười hai sứ quân. Ông là người đã thu nhận, nuôi dưỡng rồi trao lại lực lượng của mình cho Đinh Bộ Lĩnh, việc mà các sách cũ chép như quan hệ giữa một người cha nuôi và một người con nuôi.

Bốn chữ Hán thư viện đặt ở đầu trang là chữ suy ra từ danh hiệu Trần Minh Công, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích. Tên gọi quen dùng của nơi này là tên tục của làng, tức làng Xám, còn địa danh hành chính ghi trong hồ sơ di tích là thôn Lạc Đạo.

Theo giáo nghĩa

Đây là lối thờ nhân thần, tức thờ một người có thật được dân một vùng tôn làm thần bảo hộ. Lối này khác với thờ thần tự nhiên, cũng khác với thờ các vị trong hệ thần của một tôn giáo có giáo hội.

Trong lối thờ nhân thần, cái quyết định không phải là phẩm trật lúc sinh thời mà là mối ràng buộc với đất. Người được thờ phải từng ở, từng làm việc hoặc từng có ơn với chính vùng ấy. Ở đền Xám, mối ràng buộc ấy là vùng cửa biển Bố Hải Khẩu cũ và cả dải đất ven sông quanh đó, nơi ông từng lập sinh từ, giúp dân đào sông đắp đê mở mang nông trang. Nghi thức ở đây vì vậy là tế lễ theo lối thờ người có công, có ban thờ chính, có văn tế, có đoàn tế nam quan, chứ không có hàng Mẫu, hàng Quan, hàng Cô hàng Cậu và không phải chốn hầu đồng.

Theo sử liệu

Đền Xám hiện còn lưu giữ bản ngọc phả Sứ quân ở Bố Hải Khẩu Trần Minh Công do Tiến sĩ Lê Tung soạn ngày mùng hai tháng Mười năm Hồng Đức thứ mười tám (1487), ghi chép việc Trần Lãm lập sinh từ tại hương Lạc Đạo và sau khi ông mất được vua Đinh Tiên Hoàng sắc phong là Quốc đô Thành hoàng, cho dựng đền thờ ngay trên nền sinh từ cũ. Theo tài liệu di tích, đền giữ lệ kỷ niệm hai ngày trong năm gắn với vị được thờ là ngày mười tám tháng Tám âm lịch (ngày sinh) và ngày mười tháng Mười âm lịch (ngày mất). Hai mốc này là căn cứ để hiểu vì sao kỳ hội lớn của làng rơi vào tháng Tám chứ không rơi vào tháng Giêng như nhiều nơi khác.

Một điểm đáng nói về tư liệu là Trần Minh Công thuộc số nhân vật thế kỷ 10 rất ít nơi thờ. Các sứ quân khác phần lớn chỉ còn lại tên trong sách, còn ở đây một ngôi đền lớn được dựng và giữ suốt nhiều thế kỷ cho riêng ông. Sự hiếm ấy tự nó là một dữ kiện.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, Trần Minh Công không thuộc nhà Trần. Ông họ Trần nhưng sống ở thế kỷ 10, trước khi nhà Trần lập nghiệp hơn hai trăm năm. Nhiều người đọc tên rồi xếp ông vào hàng tướng lĩnh thời Trần, hoặc tưởng đền Xám là một cửa đền thờ Đức Thánh Trần. Không phải. Đền Xám không thuộc dòng thờ Trần Triều, ban thờ ở đây không bày theo hệ Công đồng Trần Triều, và lễ ở đây không có giá hầu.

Thứ hai, chữ Xám không phải một mỹ tự. Đó là tên tục của làng, lối gọi quen của dân trong vùng, giống như nhiều làng Bắc Bộ có một tên chữ để ghi vào sổ và một tên nôm để gọi hằng ngày. Tên chữ của thôn là Lạc Đạo, còn tên Xám mới là tên người ta dùng khi nói tới ngôi đền.

IITừ Thế Kỷ Mười Tới Lớp Gỗ Thời Mạc

Lịch sử nơi này có một khoảng trống lớn ở giữa, và tài liệu di tích nói thẳng điều đó. Việc thờ tự ở đây được coi là khởi từ thế kỷ 10 trên nền sinh từ của vị được thờ, tiếp nối bằng bản ngọc phả soạn năm 1487 thời Lê sơ, nhưng không còn vết tích kiến trúc nào của thời kỳ đầu. Cái còn lại trên mặt đất làm nên giá trị của di tích là lớp kiến trúc từ thế kỷ 16 và 17 về sau.

  • Thế kỷ 10 và năm 1487Khởi lệ thờ trên nền sinh từ và lập ngọc phả
    Theo ngọc phả do Tiến sĩ Lê Tung soạn năm Hồng Đức thứ 18 (1487), đền được dựng trên nền sinh từ của Trần Minh Công ở hương Lạc Đạo sau khi ông mất năm 978, nhưng không còn dấu vết kiến trúc vật chất của giai đoạn này.
  • Cuối thế kỷ 16Lớp chạm gỗ thời Mạc trên y môn hậu cung
    Căn cứ vào phân tích kiến trúc và điêu khắc, Cục Di sản văn hóa xác định đền Xám có lịch sử xây dựng từ thời Mạc, với các mảng chạm thủng đề tài rồng và lân trên y môn cửa hậu cung mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 16.
  • Giữa thế kỷ 17Lớp chạm gỗ thời Lê Trung hưng
    Dấu vết nghệ thuật kiến trúc giai đoạn giữa thế kỷ 17 hiện diện đậm đặc ở cả tiền đường và hậu cung, tiêu biểu là các mảng chạm rồng, thú, đao mác trên cửa, cột và ván gió tòa tiền đường.
  • Thế kỷ 18 tới 19Các lớp tu bổ nối nhau
    Đền tiếp tục được sửa chữa và bổ sung qua nhiều đời, nên trong cùng một khuôn viên có các mảng chạm thuộc nhiều niên đại khác nhau, đặt cạnh nhau mà vẫn đọc ra được từng lớp.
  • Đầu thế kỷ 20Dựng đình Hát và hai gác chuông
    Nếp nhà vuông dành cho việc hát xướng cùng hệ gác chuông được dựng trong giai đoạn này. Tài liệu ghi niên hiệu Khải Định năm thứ tám, chỗ này nguồn vênh nhau về năm dương lịch, xin xem mục ghi chú bên dưới.
  • 1990Xếp hạng di tích quốc gia
    Đền Xám được công nhận là di tích cấp quốc gia, từ đó khuôn viên và hệ hiện vật được quản lý theo chế độ di tích.
  • 2025Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật đền Xám là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 152 ký ngày 17 tháng 1 năm 2025. Lễ đón bằng xếp hạng tiến hành trong tháng Tư cùng năm.
Theo sử liệu

Hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin ghi cả hai thay vì chọn bừa.

Số gian tiền đường. Tài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa mô tả tiền đường ba gian hai chái, dài 10,07 mét và rộng 5,60 mét. Trong khi đó báo Nhân Dân và các bài khảo tả kiến trúc lại ghi tiền đường năm gian. Hai cách ghi này thường là hai lối đếm khác nhau đối với cùng một nếp nhà, một lối tách riêng hai gian chái và một lối gộp vào, nhưng thư viện chưa tra được bản vẽ nào nói dứt điểm.

Niên đại đình Hát. Một bài khảo tả ghi đình Hát dựng vào niên hiệu Khải Định năm thứ tám rồi chú kèm là năm 1916. Hai cách ghi này không khớp nhau, vì niên hiệu Khải Định bắt đầu từ năm 1916, nên năm thứ tám của niên hiệu ấy phải rơi vào khoảng năm 1923. Thư viện nêu cả hai để quý vị tự đối chiếu.

IIIChữ Công, Ô Cửa Chạm Và Đình Hát

Khối đền chính dàn theo lối chữ công, gồm ba tòa nối nhau. Tiền đường nằm ngang, trung đường quay dọc nối vào giữa, hậu cung ba gian nằm ngang ở trong cùng. Cái nối dọc ở giữa chính là nét gạch nằm giữa của chữ công, và ở đền Xám nó làm cho người đi lễ phải chuyển hướng hai lần trước khi tới ban thờ trong cùng.

Hệ cột của tiền đường có mười hai cột quân, trong đó sáu cột kê trên chân tảng đá. Chi tiết này đáng để ý, vì ở đồng bằng ẩm thấp thì chân cột gỗ là chỗ mục trước nhất, và việc kê đá là cách người xưa kéo dài tuổi thọ cho cả bộ khung.

Nghi môn

Cổng chính xây gạch, rộng khoảng 3,46 mét với hai trụ biểu chính cao 6,2 mét mở ra phía trước khuôn viên. Đây là lớp phân cách giữa đường làng và sân đền.

Hai gác chuông

Hai gác dựng kiểu ba tầng mái đứng đối nhau ở phía trước, đường nét trang trí pha nét ảnh hưởng của kiến trúc nhà thờ Công giáo vùng Nam Định đầu thế kỷ 20.

Tiền đường

Tòa ngoài cùng, nơi tập trung các mảng chạm gỗ giữa thế kỷ 17 trên hệ ô cửa, cột và ván gió. Tài liệu di tích ghi ba gian hai chái với kích thước 10,07 mét nhân 5,60 mét, một số nguồn khác ghi năm gian.

Trung đường và hậu cung

Trung đường ba gian quay dọc nối tiền đường với hậu cung ba gian. Các mảng chạm thủng đề tài rồng và lân trên y môn cửa hậu cung mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 16 thời Mạc.

Hai dãy giải vũ

Hai dãy nhà đối xứng hai bên sân, làm theo lối quá giang kèo cầu, tức lối kết cấu gọn thường dùng cho nhà phụ trợ. Đây là chỗ sửa soạn lễ và chỗ nghỉ của các đoàn tế.

Đình Hát

Nếp nhà mặt bằng gần vuông, khoảng 10,20 mét nhân 10 mét, dựng đầu thế kỷ 20 riêng cho việc hát xướng trong kỳ hội. Chính nếp nhà này khiến người vùng lân cận có khi gọi cả khu là đình Hát thay vì gọi đền Xám.

Phần đáng xem kỹ nhất là các mảng chạm gỗ từ cuối thế kỷ 16 tới giữa thế kỷ 17. Đề tài chia hai lớp. Lớp thứ nhất là những hình quen của điêu khắc đình đền Bắc Bộ gồm rồng chầu, phượng, lân, nghê, xen giữa là các dải hoa văn đao mác, lá hỏa, vân áng, tức những mũi nhọn vút lên và những cuộn mây trên y môn cửa hậu cung (cuối thế kỷ 16) cùng hệ cửa, cột cái và ván gió tiền đường (giữa thế kỷ 17).

Lớp thứ hai mới là chỗ lạ. Bên cạnh các con vật thiêng, thợ xưa chạm cả những con vật rất đời thường trên ván gió tiền đường như khỉ, nai, chim và rắn. Đây là điều đáng nói, vì trong lệ trang trí chính thống của nơi thờ tự thì các đề tài tứ linh mới là chuẩn mực, còn con vật thường chỉ xuất hiện ở đình làng và thường ở vị trí phụ. Việc chúng có mặt ngay trong một ngôi đền lớn cho thấy bàn tay thợ dân gian ở đây được để cho khá tự do, và cho thấy sự giao thoa đậm nét giữa điêu khắc đình làng và đền thờ ở thế kỷ 16 và 17.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Đền Xám nằm ở dải đất ven sông Hồng thuộc vùng Nam Trực cũ, tức đồng bằng châu thổ thuần túy, đất phẳng, không có núi để làm hậu chẩm và không có gò lớn để làm án. Với địa hình này, phép địa lý cổ bỏ hẳn phần xem sơn và chuyển sang xem thủy cùng xem công trình. Nói cho gọn là khi thiên nhiên không cho hình thế, người ta phải tự dựng lấy hình thế bằng chính cách bày nhà cửa.

Ở đây, cái tạo ra hình thế là trục dài và lối chuyển hướng. Từ nghi môn vào tới hậu cung, người đi lễ phải qua sân, qua tiền đường nằm ngang, rồi rẽ vào trung đường quay dọc, rồi mới tới hậu cung nằm ngang trở lại. Hai lần đổi chiều ấy chính là thứ mà lối cũ gọi là làm cho khí đi có nhịp, không xổ thẳng một mạch từ cổng vào ban thờ. Ở một mảnh đất phẳng và trống, cách duy nhất để giữ khí là bẻ đường đi của nó, và mặt bằng chữ công làm đúng việc ấy.

Chi tiết thứ hai là thế đối xứng. Hai gác chuông đứng chầu hai bên nghi môn, hai dãy giải vũ khép hai bên sân. Trong phép xem đất, hai dải ôm hai bên được gọi là tả long hữu hổ, vốn chỉ hai dãy núi hoặc hai gò đất. Ở đồng bằng không có gò thì người ta dựng nhà thay gò, và bộ đôi gác chuông cùng bộ đôi giải vũ ở đền Xám chính là tả hữu dựng bằng gỗ và gạch.

Sau cùng là vị trí của đình Hát. Nếp nhà này đứng tách khỏi khối đền chính, gần như một khối vuông biệt lập. Đọc theo lối cổ truyền thì đây là cách tách phần động ra khỏi phần tĩnh, để hát xướng, trống phách và đám đông ở ngoài, còn khu thờ giữ lấy sự yên. Đó là một quyết định về bố cục chứ không chỉ là chuyện có thêm một nếp nhà.

VHội Tháng Tám Và Mười Bài Ca Trù Cổ

Kỳ hội lớn của làng mở trong khoảng ngày mười bảy tới ngày mười chín tháng Tám âm lịch (chính hội thường kéo dài tới ngày hai mươi), lấy ngày mười tám, tức ngày sinh của vị được thờ, làm ngày trọng. Lệ làng giữ hai cấp, hằng năm vẫn có lễ, còn ba năm một lần thì mở đại hội với lễ tế giao hiếu của ba thôn Lạc Đạo, Giang Tả, Vân Cù cùng đủ các phần rước và các cuộc thi.

Điều làm kỳ hội này khác các hội đền khác trong vùng là phần hát và múa cổ. Cộng đồng làng Xám còn giữ được mười khúc hát cùng mười bài ca trù cổ theo các cung bậc truyền thống và các điệu múa như tứ tiên, tứ linh vũ, bồ đề tam túc vũ, diễn trong hai đêm hát nhập tịch (vào đám) và lạc hành (giã đám). Chính vì việc hát xướng kéo dài hàng trăm năm mà làng phải dựng riêng một nếp nhà cho nó, tức đình Hát.

Trình tự các nghi thức chính của kỳ hội. Hằng năm làng đều có lễ, còn đại hội với đủ các phần rước và thi thì ba năm mở một lần. Nguồn: Tài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa và các bản tin lễ hội đền Xám..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước ngày mở hộiLễ cáo yếtNghi thức trình báo trước ban thờ, xin phép mở hội trước khi các phần lễ chính bắt đầu.
Ngày 17 tháng TámLễ rước nướcLấy nước ngoài sông đưa về đền dùng cho việc thờ tự trong kỳ hội, lệ quen thuộc của các làng ven sông Hồng.
Ngày 17 tới 19 tháng TámRước kiệu và tế giao hiếu ba thônĐoàn rước kiệu của các thôn Lạc Đạo, Giang Tả và Vân Cù đưa cỗ lễ về đền làm lễ tế giao hiếu và dâng hương.
Ngày 18 tháng TámChính hội và đại tếNgày sinh của Trần Minh Công, ngày trọng nhất trong kỳ hội, đoàn tế nam quan làm đại tế trước ban thờ.
Ngày 17 tới 19 tháng TámHát ca trù và múa cổ tại đình HátTrình mười khúc hát, mười bài ca trù cổ và các điệu múa tứ tiên, tứ linh vũ, bồ đề tam túc vũ trong hai đêm hát nhập tịch và lạc hành tại đình Hát.
Ngày 17 tới 19 tháng TámBơi chải, múa rối nước và trò dân gianCuộc đua thuyền trên sông cùng các trò diễn của vùng châu thổ như múa rối nước, chọi gà, cờ tướng tổ chức suốt kỳ hội.
Ngày 10 tháng MườiLễ ngày mấtLệ tưởng niệm ngày mất của vị được thờ, quy mô gọn hơn kỳ hội tháng Tám nhưng giữ đủ phần tế.
Theo sử liệu

Xin nói thêm một câu về ca trù ở đây. Ca trù vốn là một lối hát có đàn đáy, phách và trống chầu, gắn với ca quán và với giáo phường, tức một nghề có tổ chức chứ không phải hát chơi. Việc một làng nông nghiệp giữ được cả một tập mười bài cổ và đem trình ngay trong kỳ hội của đền là điều không nhiều nơi còn làm được, vì phần lớn giáo phường xưa đã tan từ lâu.

Cũng cần phân biệt rằng phần lễ ở đền theo lối tế nhân thần, còn phần hát diễn ở đình Hát là phần hội. Hai phần ấy cùng một kỳ nhưng khác chỗ và khác tính chất.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Xám, xã Hồng Quang cũ, huyện Nam Trực, nay là phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Đền nằm ở làng Xám, nay thuộc phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình (vùng Nam Trực, Nam Định cũ) bên hữu ngạn sông Hồng. Đi cùng tuyến có thể tính ghé thêm các di tích thuộc vùng Nam Định cũ, nay chung một tỉnh sau khi sáp nhập.
Toạ độ
20.3735, 106.2138
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ như ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các tòa trong, đi nhẹ nói khẽ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Riêng ở đền Xám có một điều nên nhớ là giá trị lớn nhất của di tích nằm trên mặt gỗ, nên xin quý vị không tì tay, không dựa người và không dán bất cứ thứ gì lên các ô cửa chạm. Trong kỳ hội, phần hát diễn ở đình Hát chứ không diễn trong khu thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Xám

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Xám thờ ai

Thờ Phụ dực quốc chính Thượng tướng quân Trần Minh Công, tên thật là Trần Lãm (907 tới 978), người giữ vùng Bố Hải Khẩu ở thế kỷ 10 và là người đã nuôi dưỡng rồi trao lại lực lượng cho Đinh Bộ Lĩnh. Đây là lối thờ nhân thần, dựng trên nền sinh từ cũ của ông ở hương Lạc Đạo.

Trần Minh Công có phải người nhà Trần không

Không. Ông mang họ Trần nhưng sống ở thế kỷ 10, trước khi nhà Trần lập nghiệp hơn hai trăm năm. Đền Xám không thuộc dòng thờ Trần Triều, ban thờ không bày theo hệ Công đồng Trần Triều và lễ ở đây không có giá hầu.

Đền Xám có gì đáng xem nhất

Hệ thống chạm khắc gỗ cổ gồm các mảng chạm thủng đề tài rồng và lân trên y môn cửa hậu cung mang phong cách cuối thế kỷ 16 thời Mạc, nối tiếp bằng các mảng chạm giữa thế kỷ 17 thời Lê Trung hưng trên hệ ô cửa, cột và ván gió tiền đường. Bên cạnh rồng, phượng, nghê xen đao mác và lá hỏa còn có những con vật đời thường như khỉ, nai, chim và rắn trên ván gió tiền đường.

Đình Hát ở đền Xám là gì

Là một nếp nhà mặt bằng gần vuông, khoảng 10,20 mét nhân 10 mét, dựng đầu thế kỷ 20 riêng cho việc hát xướng trong kỳ hội và đứng tách khỏi khối đền chính. Vì việc hát ở đây kéo dài hàng trăm năm nên người vùng lân cận có khi gọi cả khu bằng tên đình Hát thay vì gọi đền Xám.

Lễ hội đền Xám mở vào ngày nào

Kỳ hội mở trong khoảng ngày mười bảy tới ngày mười chín (hoặc hai mươi) tháng Tám âm lịch, lấy ngày mười tám là ngày sinh của vị được thờ làm ngày trọng. Hằng năm làng đều có lễ, còn ba năm một lần thì mở đại hội với lễ tế giao hiếu ba thôn, rước nước, rước kiệu, bơi chải, múa rối nước và trình mười bài ca trù cổ.

›Đọc Tiếp