VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Trần Thương

Đền Đức Thánh Trần Trần Thương

Ngôi đền dựng trên nền một kho lương cũ, nơi chuyện cất trữ thóc gạo của người xưa hóa thành một lễ cầu no đủ đầu năm.

Nền kho lương
1285
theo thần tích đền, một trong sáu điểm cất trữ trên đất này
Đền chính
15 gian
bố cục chữ quốc, chia ba cung, có hệ giếng trong sân
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 2367 ngày 23 tháng 12 năm 2015

Từ đê sông Hồng nhìn xuống, quý vị thấy một khoảnh đất nổi cao hơn hẳn ruộng chung quanh, trên đó là một nghi môn ba tầng mái và một con đường thẳng chạy vào trong. Đi hết con đường ấy thì gặp nghi môn thứ hai, rồi một khoảng sân rộng, rồi khối đền vuông vắn nằm khép bốn bề. Nước đọng ở các giếng trong sân và ở những rãnh nhỏ quanh đền làm cho cả khu này lúc nào cũng có bóng nước.

Chỗ quý vị đứng vốn không phải đất dựng đền. Chữ thương trong tên làng có nghĩa là kho chứa thóc, nên Trần Thương là kho lương của nhà Trần. Đền dựng sau, dựng đúng lên trên nền kho ấy. Cả nước có hàng trăm nơi thờ Đức Thánh Trần, nhưng chỉ ở đây ngôi đền mọc lên từ một cái kho, và cái gốc ấy chi phối mọi thứ còn lại, từ lối bày mặt bằng cho tới lễ trọng nhất trong năm.

IĐức Thánh Trần Trên Đất Kho Lương

Vị được thờ ở chính cung là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, dân gian tôn là Đức Thánh Trần. Cùng thờ trong đền còn có gia quyến và các tướng lĩnh thân cận của ông, theo lối thờ cả một nhà quen thuộc của dòng Trần Triều.

Phần thân thế của ông và cấu tạo của hệ thần Công đồng Trần Triều đã được thư viện trình bày kỹ ở trang đền Kiếp Bạc, tức cửa đền gốc dựng trên thái ấp cũ. Quý vị cũng có thể đọc thêm hai cửa đền khác cùng thờ ngài ở hai đầu đất nước là đền Thượng Lào Caiđền Đức Thánh Trần Sài Gòn. Ở trang này, chúng tôi chỉ viết cái riêng của Trần Thương, tức quan hệ giữa một cái kho và một ngôi đền.

Ba chữ Hán đặt ở đầu trang là chữ thư viện suy ra từ địa danh, nghĩa là ngôi đền ở đất kho nhà Trần, không phải chữ chép lại từ một tấm hoành phi hay một tấm bia nào trong di tích.

Theo giáo nghĩa

Người đi lễ ở cửa đền Trần Triều thường xin ba việc: trừ tà, chữa bệnh và giữ nhà cửa yên ổn. Riêng ở Trần Thương có thêm một việc thứ tư, và việc ấy nằm ngay trong tên đất: xin lương.

Cần hiểu chữ lương ở đây theo nghĩa của người làm ruộng. Lương là thóc trong bồ, là hạt giống để dành cho vụ sau, là cái bảo đảm rằng năm tới nhà vẫn còn ăn. Trong cách nghĩ cổ truyền, một vị thánh đã từng trông coi kho lương thì cũng trông coi được cái no đủ của người sống. Lớp nghĩa ấy làm cửa đền này khác các đền vọng khác, vì người ta tới đây còn để cầu cho mùa màng và cho miếng ăn trong nhà.

Theo sử liệu

Về mặt tư liệu, tên đất có trước tên đền. Theo thần tích đền và tài liệu di tích, năm 1285 Hưng Đạo Đại Vương cho đặt ở vùng này một trong sáu điểm cất trữ lương thảo, chọn chỗ gò cao giữa vùng trũng để thóc không ẩm và thuyền bè vào ra được. Sau đó ông cắm sinh phần ở đây, tức đánh dấu một phần đất dành cho mình, rồi lấy dân tại chỗ làm dân tạo lệ, tức dân được giao việc trông nom phần đất ấy và các lệ thờ cúng kèm theo. Thôn Trần Thương thành hình từ lệ này.

Nói cách khác, làng có trước đền, và làng ra đời vì một nhiệm vụ trông coi. Đó là lý do người Trần Thương từ xưa vẫn tự nhận việc giữ đền là việc của dòng họ mình chứ không phải việc của riêng nhà chùa nhà đền.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay lẫn nhất là lẫn lễ phát lương ở đây với lễ khai ấn ở đền Trần Nam Định. Hai lễ cùng rơi vào rằm tháng Giêng, cùng ở các đền mang chữ Trần, nên nhiều người gộp làm một rồi tới Trần Thương mà hỏi xin ấn.

Hai lễ khác nhau cả về vật ban lẫn về nghĩa. Ở đền Trần Nam Định, vật ban là lá ấn in từ quả ấn khắc bốn chữ Trần miếu tự điển, thuộc về điển lệ thờ tự của nhà miếu. Ở Trần Thương, vật ban là túi lương đựng năm loại hạt, thuộc về việc đồng áng và cái ăn. Một bên là chữ, một bên là hạt.

Chỗ lẫn thứ hai nhẹ hơn: Trần Thương không phải tên một người trong họ Trần, mà là một địa danh ghép, chữ Trần chỉ triều đại, chữ Thương chỉ cái kho.

IITừ Nền Kho Đến Ngôi Đền

Lịch sử nơi này có hai lớp rõ rệt. Lớp dưới là một cái kho có từ cuối thế kỷ 13, nay chỉ còn lại nền đất và tên làng. Lớp trên là ngôi đền, dựng cách lớp dưới gần năm trăm năm, vào thời Hậu Lê, và giữ được bộ khung cho tới hôm nay qua nhiều đợt tu bổ.

  • 1285Đặt kho lương trên gò Miễu
    Theo thần tích đền, vùng đất này được chọn làm một trong sáu điểm cất trữ lương thảo, nhờ thế gò cao giữa đồng trũng và đường nước thuận cho thuyền bè.
  • Cuối thế kỷ 13Cắm sinh phần, lập dân tạo lệ
    Hưng Đạo Đại Vương cắm sinh phần tại đây rồi lấy dân sở tại làm dân tạo lệ, giao việc trông nom phần đất và lệ thờ. Thôn Trần Thương hình thành từ lệ này.
  • Thời Hậu LêDựng đền trên nền kho
    Ngôi đền được dựng ngay trên nền kho cũ. Một số tài liệu địa phương ghi rõ năm 1783, tài liệu di tích của Cục Di sản chỉ ghi chung là thời Hậu Lê, chúng tôi nêu cả hai cách ghi.
  • Thế kỷ 19 tới 20Các lớp tu bổ nối nhau
    Bộ khung gỗ, hệ nghi môn và các dãy tả hữu vu còn thấy hôm nay thuộc nhiều lớp niên đại khác nhau, định hình qua các đợt tu bổ nối tiếp dưới thời Nguyễn và về sau.
  • 2010Khôi phục lễ phát lương
    Lễ phát lương đêm mười bốn rạng ngày rằm tháng Giêng được tổ chức trở lại theo quy mô lớn từ năm này, dựa trên lệ khao quân khao dân truyền trong vùng.
  • 2015Di tích quốc gia đặc biệt
    Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Trần Thương được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367 ký ngày 23 tháng 12 năm 2015.
  • 2017Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Lễ hội đền Trần Thương được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo sử liệu

Một chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói rõ thay vì chọn bừa. Về số giếng trong khuôn viên, tài liệu của Cục Di sản văn hóa chỉ nêu một giếng lớn giữa sân gọi là giếng Hồ khẩu, đường kính 6,39 mét, còn các bài khảo tả trên báo chí lại ghi năm giếng, gồm giếng khẩu ở giữa, hai giếng phía nam gọi là giếng nhũ và hai giếng phía bắc gọi là giếng nhĩ. Chúng tôi ghi cả hai cách.

Về quy mô đền chính cũng vậy. Có tài liệu mô tả theo khối nhà, gồm cổ lâu, tiền tế năm gian hai chái, trung điện và hậu cung, kèm kích thước mặt bằng khoảng 16,8 mét nhân 24,18 mét. Có tài liệu mô tả theo tổng số gian, ghi mười lăm gian chia thành ba cung là đệ nhất, đệ nhị và đệ tam. Hai cách đếm không mâu thuẫn về hiện trạng mà khác nhau ở cách chia đơn vị.

IIIChữ Quốc, Ba Cung Và Hệ Giếng

Mặt bằng đền là chỗ đáng xem nhất, vì nó không giống lối dàn hàng dọc quen thuộc của đền miếu Bắc Bộ. Khối đền chính khép kín bốn bề theo lối chữ quốc, tức một khung vuông có các dãy nhà bọc quanh một lõi ở giữa. Người trong vùng gọi kiểu bày này là tứ thủy quy đường, nghĩa là bốn dòng nước cùng chảy về một nhà.

Một mặt bằng khép kín như vậy vốn là mặt bằng của nhà kho chứ không phải của nhà thờ tự. Kho thì phải kín, phải có một lõi để chứa, phải có tường bao để giữ. Ngôi đền giữ lại chính hình dáng ấy rồi đặt ban thờ vào chỗ trước kia đặt thóc.

Nghi môn ngoại

Cổng ngoài cùng, dựng kiểu gác ba tầng mái, đứng tách hẳn khỏi khối đền. Đây là lớp mở đầu, đưa người từ đường làng vào trục chính của di tích.

Đường chính đạo

Con đường thẳng nối hai nghi môn, dài khoảng 50 mét và rộng khoảng 5 mét. Trục dài này giữ cho người đi lễ có một quãng chuyển nhịp trước khi tới sân đền.

Nghi môn nội và sân đền

Cổng trong mở vào khoảng sân rộng chừng 600 mét vuông, có bình phong đá chắn trước cửa đền theo lệ cũ, không để lối vào thẳng thông suốt vào ban thờ.

Ba cung

Khối đền chính chia ba lớp quen gọi là cung đệ nhất, đệ nhị và đệ tam. Lớp ngoài dùng cho phần lễ thường ngày, lớp trong cùng là chỗ đặt ban thờ trọng nhất.

Tả vu và hữu vu

Hai dãy nhà chạy dọc hai bên, khép khung chữ quốc lại. Đây cũng là chỗ sửa soạn lễ vật và là nơi tập kết của các đoàn rước trong ngày hội.

Hệ giếng trong sân

Giếng lớn giữa sân gọi là giếng Hồ khẩu, nằm giữa nhà tiền tế và cung đệ nhị. Các bài khảo tả địa phương còn kể thêm bốn giếng nhỏ chia hai bên, gọi là giếng nhũ và giếng nhĩ.

Về hiện vật, tài liệu di tích cho biết đền còn giữ 202 di vật đủ loại, gồm tượng thờ, khám thờ, bát biểu, đồ gốm sứ, đồ đá chạm rùa nghê voi, cùng các món bằng đồng và bằng bạc. Trong số ấy có 38 đạo sắc phong. Mỗi lần triều đình ban sắc là một lần nơi thờ được nhà nước quân chủ thừa nhận thêm một bậc, nên một ngôi đền làng giữ được gần bốn chục đạo sắc tức là đã đi qua rất nhiều đời vua mà vẫn còn đứng trong sổ thờ tự chính thức.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều cần nói trước tiên là mảnh đất này không được chọn cho việc thờ. Nó được chọn cho việc chứa. Một kho thóc ở đồng bằng châu thổ cần ba thứ: một gò đủ cao để nước lụt không tới, một mặt đất khô để thóc không mốc, và một đường nước đủ sâu để thuyền vào ra được. Vùng Trần Thương có cả ba. Khi ngôi đền dựng lên gần năm trăm năm sau, nó thừa hưởng một thế đất vốn sinh ra cho mục đích khác, và cái hay nằm ở chỗ hai mục đích ấy lại hợp nhau.

Xét theo hình thế, các bài khảo tả trong vùng ghi rằng quanh đền có sáu dòng nước nhỏ chụm đầu về, người địa phương gọi là lục đầu khê. Trong phép xem đất, nước là thứ vừa dẫn khí vừa tụ khí, và một điểm hội thủy là chỗ nhiều mạch nước đổ về một mối. Ở châu thổ Bắc Bộ, nơi đất phẳng gần như tuyệt đối và không có núi làm hậu chẩm, phép địa lý cổ chuyển hẳn sang đọc nước. Đọc theo lối ấy thì gò Trần Thương là một đảo nổi giữa vòng nước, thế đất khép mà không bí, có nước bao quanh nên khí không tán.

Chi tiết đáng nói nhất là hệ giếng trong sân. Một ngôi đền có giếng ngay giữa sân là chuyện không thường gặp, vì thông thường giếng đặt ở rìa khuôn viên. Đặt giếng vào lõi, cộng với mặt bằng khép kín bốn bề, làm thành đúng cái tên mà dân vùng này gọi là tứ thủy quy đường. Đọc theo phong thủy thì đây là thế thu nước vào trong chứ không để nước chảy qua cửa, và nước thu vào trong thì ứng với của cải giữ được trong nhà. Với một nơi vốn là kho, lối đọc ấy khớp tới mức khó coi là ngẫu nhiên.

Sau cùng là lớp nghĩa của cái nền. Trong cách nghĩ cổ truyền, đất đã dùng vào việc gì thì mang khí của việc ấy. Trần Thương giữ nguyên tắc ấy rất thẳng thắn: chỗ trước kia chứa thóc nay đặt ban thờ, chỗ trước kia mở kho khao dân nay mở lễ phát hạt. Việc làm đổi, chỗ đứng thì không đổi.

VĐêm Phát Lương Và Hội Tháng Tám

Đền có hai mùa lễ trong năm. Mùa xuân lấy trục là lễ phát lương vào đêm mười bốn rạng ngày rằm tháng Giêng. Mùa thu lấy trục là ngày giỗ Đức Thánh, tức ngày hai mươi tháng Tám âm lịch, ngày mà mọi cửa đền Trần Triều trong nước đều giữ.

Lễ phát lương gồm ba phần nối nhau. Phần đầu là rước lương thảo từ kho vào đền. Phần giữa là châm đuốc và dâng hương. Phần cuối là phát túi lương cho người về dự, làm vào giờ Tý, tức khoảng nửa đêm. Đoàn rước theo lệ gồm bảy cô gái mặc áo dài đỏ đội khăn đỏ mang bảy mâm lương, cùng chín chàng trai mặc đồ đỏ khiêng kiệu đựng túi lương lớn, đi giữa đội múa sư tử, trống, chiêng và cờ hội.

Trình tự các nghi thức chính của hai mùa lễ trong năm. Ngày tiến hành từng phần có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Tài liệu di tích của Cục Di sản văn hóa và các bài khảo tả lễ hội đền Trần Thương..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Trước rằm tháng GiêngLễ cáo yếtNghi thức trình báo trước khi mở lễ, xin phép tiến hành các phần lễ chính.
Trước rằm tháng GiêngLễ rước nước nhập lươngRước nước về đền rồi đưa lương thảo vào kho, chuẩn bị cho đêm phát lương.
Đêm 14 rạng ngày 15 tháng GiêngRước lương thảo, châm đuốc và dâng hươngĐoàn bảy cô gái và chín chàng trai rước mâm lương cùng kiệu túi lương từ kho vào đền, sau đó thắp đuốc trong sân rồi dâng hương trước ban thờ.
Giờ Tý đêm 14 rạng ngày 15 tháng GiêngPhát túi lươngPhát cho người về dự những túi lương tượng trưng đựng năm loại hạt.
Ngày 25 tháng GiêngLễ tế cáTế cá quả và cá chép rồi phóng sinh, giữ mạch nhớ gốc nghề nông và nghề chài của vùng.
Ngày 18 tới 20 tháng TámHội truyền thống mùa thuKỳ hội gắn ngày giỗ Đức Thánh, gồm lễ cáo yết, lễ tế gia quan, rước kiệu từ đình về đền và ba ngày tế.
Ngày 20 tháng TámChính hội và tế Hưng Đạo Đại VươngNgày trọng nhất trong kỳ hội mùa thu, có đại tế và dâng hương tại đền.
Theo sử liệu

Về nội dung túi lương, các bài khảo tả ghi túi đựng năm loại hạt gồm đậu đỏ, đậu xanh, đậu nành, ngô đỏ và gạo nếp, đều là giống trồng trong vùng. Điểm đáng chú ý là các loại hạt ấy không phải đồ cúng ăn liền mà là hạt giống, người nhận mang về gieo cho vụ sau. Ở đây có một lớp nghĩa rất cũ của nhà nông, rằng thóc phát từ cửa đền không phải để ăn hết mà để nhân lên.

Cũng nên nói rằng việc tổ chức lễ phát lương theo quy mô lớn là chuyện gần đây, làm trở lại từ năm 2010, còn lệ mở kho khao dân thì cũ hơn nhiều. Phần tổ chức thì mới, phần lệ thì cũ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Trần Thương, xã Trần Hưng Đạo cũ, huyện Lý Nhân, nay là xã Trần Thương, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Đền nằm ở thôn Trần Thương, thuộc vùng Lý Nhân cũ, tỉnh Ninh Bình, cách trục đê sông Hồng không xa. Đi cùng tuyến có thể tính ghé thêm đền Trần Nam Định, cũng thuộc tỉnh Ninh Bình sau khi sáp nhập.
Toạ độ
20.5762, 106.1037
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các cung trong, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào tượng, khám thờ và các đồ đồng đồ đá, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban. Sân đền có giếng, xin quý vị đi cẩn thận và không thả đồ lễ hay tiền xuống lòng giếng. Đêm phát lương rất đông, người trong vùng quen xếp theo hàng của từng đoàn chứ không chen.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Trần Thương

Contribute photos, information or video for Tran Thuong Temple

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Trần Thương thờ ai

Thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, dân gian tôn là Đức Thánh Trần, cùng gia quyến và các tướng lĩnh thân cận của ông theo lối thờ cả một nhà của dòng Trần Triều. Nét riêng của đền là được dựng đúng trên nền một kho lương cũ, nên lớp nghĩa cầu no đủ ở đây đậm hơn các cửa đền khác.

Vì sao gọi là Trần Thương

Đây là một địa danh ghép chứ không phải tên người. Chữ Trần chỉ triều đại, chữ thương trong Hán tự có nghĩa là kho chứa thóc, nên Trần Thương là kho lương của nhà Trần. Tên đất có trước tên đền, và làng Trần Thương hình thành từ lệ giao dân sở tại trông nom phần đất ấy.

Lễ phát lương đền Trần Thương diễn ra khi nào và phát gì

Lễ mở vào đêm mười bốn rạng ngày rằm tháng Giêng âm lịch, phần phát làm vào giờ Tý. Lễ gồm ba phần là rước lương thảo vào đền, châm đuốc dâng hương, rồi phát túi lương tượng trưng. Mỗi túi đựng năm loại hạt gồm đậu đỏ, đậu xanh, đậu nành, ngô đỏ và gạo nếp, vốn là hạt giống để gieo cho vụ sau.

Lễ phát lương có giống lễ khai ấn đền Trần Nam Định không

Không giống. Hai lễ cùng rơi vào rằm tháng Giêng nhưng khác cả vật ban lẫn ý nghĩa. Đền Trần Nam Định ban lá ấn in từ quả ấn khắc bốn chữ Trần miếu tự điển, thuộc điển lệ thờ tự của nhà miếu. Đền Trần Thương ban túi lương đựng năm loại hạt, thuộc về việc đồng áng và cái ăn.

Hội đền Trần Thương mở vào ngày nào

Kỳ hội truyền thống mùa thu mở trong khoảng ngày mười tám tới ngày hai mươi tháng Tám âm lịch, lấy ngày hai mươi tháng Tám là ngày giỗ Đức Thánh làm chính hội. Ngoài ra trong tháng Giêng còn có lễ phát lương đêm mười bốn và lễ tế cá ngày hai mươi lăm.

Đọc Tiếp