VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Núi Non Nước

Dục Thúy Sơn, Băng Sơn, Hộ Thành Sơn

Một ngọn núi đá thấp tới mức đi bộ lên được trong mươi phút, mà trên vách mang bảy trăm năm chữ của người Việt.

Độ cao
Khoảng 25 m
các nguồn ghi từ hơn 20 mét tới khoảng 40 mét
Văn khắc trên vách
Hơn 40 bài
cách đếm khác nhau, có nguồn ghi 43 bia, có nguồn ghi 30 bài của 24 tác giả
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019

Đứng ở chỗ sông Vân đổ vào sông Đáy, quý vị thấy một khối đá vôi nhô lên sát mặt nước, thấp đến mức khó tin đó là một di tích quốc gia đặc biệt. Cả ngọn chỉ cao chừng hai mươi lăm mét. Từ phía nam nhìn sang, núi giống một bông sen đang mở. Từ phía bắc nhìn lại, giống một con chim đậu.

Cái làm nên Non Nước không nằm ở kích thước mà nằm trên vách đá. Suốt bảy thế kỷ, người đi qua đây đã khắc thơ và văn thẳng vào mặt đá, lớp này chồng lớp kia, cho tới khi cả ngọn núi thành một thứ mà giới nghiên cứu gọi là cuốn sách đá. Trên núi có chùa thờ Phật, dưới chân núi có đền thờ người đặt tên cho núi, trong lòng núi có một hang thờ theo lối dân gian. Ba lớp thờ tự ấy nằm trên cùng một khối đá nhưng không thuộc về nhau, và đó là điều cần biết trước khi bước lên bậc thứ nhất.

ITên Núi Và Ba Lớp Thờ Tự

Tên dân gian của ngọn núi là Non Nước, gọi theo đúng cái nó là: một hòn núi đứng giữa nước. Tên chữ Dục Thúy Sơn tới muộn hơn, và có người đặt hẳn hoi. Đời Trần, danh sĩ Trương Hán Siêu nhìn dáng núi soi xuống sông mà đặt hai chữ Dục Thúy, nghĩa là con chim trả đang tắm, rồi làm thơ và cho khắc vào đá. Từ đó tên chữ ấy đi vào thư tịch và đi theo núi tới nay.

Núi còn mấy tên khác trong sách cũ. Băng SơnLạc Sơn là tên chép trong tư liệu địa phương. Hộ Thành Sơn là tên gọi theo vị trí của núi so với tòa thành cũ ở gần đó, nghĩa đen là ngọn núi che cho thành. Bốn năm cái tên cho một ngọn núi cao hai mươi lăm mét là dấu hiệu rằng chỗ này được người xưa để mắt tới nhiều hơn hẳn tầm vóc của nó.

Về thờ tự, phải nói rõ ngay từ đầu: ngọn núi này không thờ riêng một vị nào. Cái được xếp hạng là bản thân ngọn núi cùng hệ văn khắc trên vách, còn các nơi thờ tự thì nằm rải ở ba chỗ khác nhau, thuộc ba lối khác nhau.

Chùa Non Nước

Ngôi chùa thờ Phật nằm trên núi. Đây là cơ sở của Phật Giáo, do nhà chùa lo việc, có chánh điện, tượng Phật và sân chùa. Chùa là một phần của khu di tích, không phải là toàn bộ khu di tích.

Đền thờ Trương Hán Siêu

Nằm dưới chân núi, phía tây nam, thờ vị danh sĩ đời Trần đã đặt tên Dục Thúy cho núi. Kiến trúc gồm ba gian bái đường và hai gian hậu cung. Đây là lối thờ người có công với văn hóa, không thuộc nhà Phật.

Động Tam Phủ

Hang tự nhiên trong lòng núi, thờ Thiên Phủ, Địa Phủ và Thủy Phủ theo tín ngưỡng dân gian của người Việt. Đây là lớp thờ thứ ba, khác cả chùa lẫn đền, và cũng có lệ riêng.

Nghênh Phong Các

Gác đón gió trên đỉnh núi, chỗ người xưa lên ngồi ngắm cảnh và làm thơ. Công trình hiện thấy được dựng lại vào năm 1961. Đây là công trình cảnh quan chứ không phải nơi thờ tự.

Nền tháp Linh Tế

Dấu vết của ngôi tháp Phật từng dựng trên đỉnh núi thời Lý, dựng lại thời Trần, nay chỉ còn nền. Bài ký về ngôi tháp này do Trương Hán Siêu soạn là một trong những văn bản quan trọng nhất còn lại của núi.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm về nơi này, xin nói thẳng bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, đây không phải một ngọn núi của Phật Giáo. Vì trên núi có chùa nên nhiều người gọi luôn cả khu là chùa Non Nước rồi kể như thể toàn bộ ngọn núi thuộc nhà Phật. Theo hồ sơ di tích, đối tượng được xếp hạng là ngọn núi cùng hệ văn khắc trên vách đá, và ba lớp thờ tự nói ở trên thuộc ba hệ khác nhau: chùa của nhà Phật, đền thờ một danh sĩ, động thờ ba phủ theo tín ngưỡng dân gian. Phần lớn giá trị được nêu trong hồ sơ nằm ở văn khắc Hán Nôm, tức ở chữ, chứ không nằm ở một nơi thờ tự nào.

Thứ hai, có ít nhất ba nơi cùng mang tên Non Nước và chúng không liên quan gì tới nhau. Núi Non Nước nói trong bài này ở Ninh Bình, tên chữ Dục Thúy Sơn, nổi tiếng vì kho văn khắc trên vách đá. Khác hẳn với nó là chùa Non Nước tức chùa Non trong quần thể đền Sóc ở Hà Nội, một ngôi chùa trên sườn núi Sóc gắn với vùng đất Thánh Gióng hóa. Khác hẳn nữa là Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng, cụm năm ngọn núi đá mà dân gian cũng gọi là Non Nước và có làng nghề đá Non Nước dưới chân, nơi thư viện đã có một trang riêng. Ba nơi này chỉ trùng tên, không chung lịch sử, không chung tông phái, không chung hiện vật.

IIBảy Thế Kỷ Người Ta Khắc Chữ Lên Đá

Lịch sử của núi Non Nước được đọc chủ yếu qua chính những gì khắc trên nó. Mốc sớm nhất có văn bản là ngôi tháp Linh Tế trên đỉnh, rồi tới bài ký của Trương Hán Siêu, rồi tới các lớp thơ của người đời sau chồng lên nhau suốt bảy trăm năm.

  • 1091Dựng tháp Linh Tế
    Ngôi tháp Phật đầu tiên được dựng trên đỉnh núi, đời Lý Nhân Tông, theo tư liệu nghiên cứu của địa phương.
  • 1337 tới 1342Dựng lại tháp Linh Tế
    Nhà sư Trí Nhu đứng ra dựng lại ngôi tháp đã đổ, công việc kéo dài sáu năm. Đây cũng là dịp ngôi chùa trên núi được mở mang.
  • 1343Bài ký Tháp Linh Tế
    Trương Hán Siêu soạn xong bài ký về ngôi tháp và cho khắc vào vách núi. Ông cũng là người đặt tên chữ Dục Thúy Sơn cho ngọn núi này.
  • Thế kỷ 15Lớp thơ đời Lê
    Nguyễn Trãi làm bài Dục Thúy sơn, trong đó ví bóng ngôi tháp soi xuống nước như chiếc trâm ngọc cài trên mái tóc dòng sông. Vua Lê Thánh Tông và các danh sĩ đương thời cũng để lại thơ đề vịnh.
  • Thế kỷ 18 tới 19Các lớp khắc nối tiếp
    Phạm Sư Mạnh, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm và nhiều người khác tiếp tục đề thơ và cho khắc lên vách, làm dày thêm hệ văn khắc của núi.
  • 1961 tới 1962Dựng lại Nghênh Phong Các và xếp hạng
    Gác đón gió trên đỉnh núi được dựng lại năm 1961. Năm 1962, núi Non Nước được xếp hạng danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
  • Cuối thế kỷ 20Dựng đền thờ Trương Hán Siêu
    Đền thờ Trương Hán Siêu được dựng dưới chân núi phía tây nam, trên khu vực trước đó có một ngôi đền cũ thờ Sơn Tinh và Thủy Tinh. Một số tài liệu ghi năm dựng là 1998.
  • 2019Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019, xếp hạng núi Non Nước là di tích quốc gia đặc biệt, thuộc đợt 10.
Theo sử liệu

Chỗ nguồn vênh nhau xin nói thẳng, và ở nơi này thì chỗ vênh khá nhiều.

Về số bài văn khắc. Cách nói phổ biến nhất là hơn bốn mươi bài thơ văn khắc trên vách. Bản tin của cơ quan thông tấn ghi hiện còn 43 văn bia, trong đó 37 bia chữ Hán Nôm và 6 bia chữ quốc ngữ. Báo địa phương lại ghi còn 30 bài thơ của 24 tác giả trải suốt bảy thế kỷ. Ba con số ấy nhiều khả năng đến từ ba cách đếm khác nhau, có cách chỉ đếm bia còn đọc được, có cách đếm cả phần đã mờ, có cách đếm cả những bài chỉ còn trong thư tịch. Chúng tôi ghi cả ba chứ không chọn bừa một con số.

Về độ cao núi. Báo địa phương ghi núi cao khoảng 25 mét, với kích thước chừng 40 mét theo chiều bắc nam và hơn 60 mét theo chiều đông tây. Một số bài viết ghi núi cao hơn 20 mét. Tài liệu nghiên cứu của địa phương lại ghi khoảng 40 mét. Chúng tôi lấy con số 25 mét làm con số chính vì nó đi kèm cả kích thước mặt bằng, đồng thời nói rõ rằng có nguồn ghi khác.

Về số bậc đá lên đỉnh. Có nguồn ghi 198 bậc, có nguồn ghi 72 bậc chia làm năm cấp. Đây có thể là hai lối đi khác nhau hoặc hai cách đếm khác nhau, chúng tôi chưa tra được tài liệu nào nói dứt điểm.

Về niên đại ngôi chùa. Có tài liệu chép chùa do Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng từ thời Lý, có tài liệu chỉ ghi chùa và hệ văn khắc trên núi có từ thời Trần, thế kỷ mười bốn. Lần tu bổ lớn của chùa cũng được ghi khác nhau, có nguồn ghi năm 2006, có nguồn ghi năm 2019.

IIIVách Đá, Nền Tháp Và Các Công Trình Trên Núi

Nếu coi Non Nước là một công trình thì công trình ấy phần lớn do thiên nhiên làm, con người chỉ thêm vào bốn thứ: chữ trên vách, đường bậc, vài nếp nhàmột cái gác trên đỉnh. Bốn thứ ấy cộng lại không làm thay đổi hình khối của núi, và đó chính là cách ứng xử mà giới nghiên cứu đánh giá cao ở đây.

Kho văn khắc trên vách đá

Đây là phần đáng đọc nhất. Chữ không khắc vào bia đá dựng riêng như ở đình chùa thông thường, mà khắc thẳng vào mặt đá tự nhiên của núi. Lối này gọi là ma nhai, nghĩa là mài vách mà khắc. Ma nhai khó hơn khắc bia rất nhiều: mặt đá không phẳng, không chọn được thớ, không mang đi được, và một khi đã khắc thì không sửa.

Nội dung phần lớn là thơ đề vịnh, tức thơ làm ngay tại chỗ khi lên núi. Người khắc trải từ vua tới danh sĩ tới quan lại địa phương, từ đời Trần qua Lê tới Nguyễn. Bài ký về tháp Linh Tế của Trương Hán Siêu năm 1343 thuộc loại văn xuôi, dài hơn và thuộc thể khác, nên có giá trị riêng về mặt văn bản học.

Điều làm hệ văn khắc này khác các nơi khác là tính liên tục. Ở nhiều di tích, bia đá tập trung vào một hai đời rồi ngừng. Ở Non Nước, chữ được thêm vào đều đặn suốt bảy thế kỷ, nên đọc từ dưới lên trên là đọc được cả sự thay đổi của chữ viết, của thể thơ và của cách người Việt nhìn cảnh vật qua từng thời. Vì lẽ đó, tỉnh Ninh Bình đang lập hồ sơ trình UNESCO đưa kho văn khắc này vào danh mục Ký ức Thế giới.

Trên đỉnh và trong lòng núi

Trên đỉnh núi còn nền tháp Linh Tế, dấu vết của ngôi tháp Phật dựng năm 1091 và dựng lại trong các năm 1337 tới 1342. Tháp đã không còn, nhưng nền của nó vẫn là điểm cao nhất và là chỗ để đọc lại bài ký của Trương Hán Siêu ngay tại nơi bài ký nói tới. Cạnh đó là Nghênh Phong Các, gác đón gió, công trình hiện thấy dựng lại năm 1961, thay cho chỗ ngồi mà người xưa vẫn lên để ngắm cảnh và làm thơ.

Trong lòng núi có động Tam Phủ, một hang tự nhiên ở phía bắc, thờ Thiên Phủ, Địa Phủ và Thủy Phủ. Ba phủ ấy thuộc tín ngưỡng dân gian của người Việt, ứng với trời, đất và nước. Cần nói rõ rằng đây là một lối thờ riêng, không phải là điện thờ của nhà chùa và cũng không phải một phần của ngôi đền dưới chân núi, dù cả ba cùng nằm trên một khối đá.

Chùa trên núi và đền dưới chân núi

Chùa Non Nước thờ Phật, khuôn viên chừng hai nghìn mét vuông, chánh điện làm theo lối truyền thống với hệ mái kép, đầu đao cong, bờ nóc chạm rồng phượng. Phần lớn công trình dùng đá xanh, thứ vật liệu sẵn của vùng. Trong sân có tượng Quan Thế Âm bằng đá trắng. Chùa là cơ sở của Phật Giáo, có lệ và lịch tu học riêng của nhà chùa.

Đền thờ Trương Hán Siêu nằm dưới chân núi phía tây nam, gồm ba gian bái đường và hai gian hậu cung. Đây là nơi thờ một danh sĩ, người đặt tên chữ cho núi và để lại bài ký quan trọng nhất của núi. Theo tư liệu địa phương, khu đất này trước đó có một ngôi đền cũ thờ Sơn Tinh và Thủy Tinh, tức thờ nhiên thần, và lớp thờ ấy đã nhường chỗ cho lớp thờ hiện nay. Người trong vùng thường tới đền cầu về việc học hành và thi cử, đúng với thân thế của vị được thờ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải. Xin nói thêm: trên chính ngọn núi này có hàng chục bài văn khắc của người xưa, và không bài nào trong số đó là văn phong thủy. Người xưa lên đây để làm thơ, không phải để xem đất.

Thế đất và hướng

Non Nước là một trong số ít chỗ ở đồng bằng Bắc Bộ mà phép xem đất cổ truyền có thể áp dụng gần như nguyên bản, vì nó hội đủ hai thứ mà đồng bằng thường thiếu: một khối núi đá thậtchỗ hai dòng nước gặp nhau.

Bắt đầu từ nước. Núi đứng đúng vào chỗ sông Vân đổ vào sông Đáy. Trong phép xem đất, nơi hai dòng hợp lưu được gọi là chỗ giao thủy, và được coi là chỗ khí tụ mạnh nhất trong các thế nước, vì dòng chảy tới đó thì chậm lại, xoáy vào nhau rồi mới đi tiếp. Một khối đá nhô lên ngay tại điểm giao ấy, theo lối đọc cũ, là thủy khẩu sa, tức gò đá chắn ở cửa nước. Vai của nó là giữ cho khí không trôi tuột theo dòng ra ngoài. Đây là thế đất mà sách vở cổ truyền xếp vào loại quý, và nó giải thích vì sao một ngọn núi nhỏ như vậy lại được nhiều đời để mắt tới.

Tiếp tới núi. Cả vùng là đồng bằng thấp, nên khối đá này không có dãy nào nối vào, không có long mạch chạy tới theo nghĩa của sách. Lối cũ gọi những khối đá đứng lẻ giữa đồng là cô sơn, núi đơn độc. Cô sơn thường bị chê là thiếu chỗ nương, nhưng có một trường hợp ngoại lệ: khi cô sơn đứng đúng thủy khẩu thì cái lẻ loi ấy lại thành cái cần, vì nhiệm vụ của nó là chắn chứ không phải là dựa. Non Nước rơi đúng vào trường hợp ngoại lệ đó.

Điều thứ ba đáng đọc là cách người xưa xếp các công trình theo chiều cao. Trên đỉnh là tháp và gác đón gió, tức phần cao nhất dành cho cái hướng lên trời. Trong lòng núi là động thờ ba phủ, tức phần trong dành cho trời, đất và nước gộp lại. Dưới chân núi là đền thờ một con người. Đọc từ trên xuống dưới thì thấy một trật tự rất cổ: trời ở trên, ba cõi ở giữa, người ở dưới cùng. Trật tự ấy không do ai quy hoạch, nó hình thành qua nhiều thế kỷ, nhưng khi đã hình thành thì lại khớp với lối nghĩ xưa đến mức khó coi là ngẫu nhiên.

Điều thứ tư là hai cái tên nói về hai cách đọc thế đất. Tên Hộ Thành Sơn đọc núi theo vai trò che chắn, tức đọc theo thế. Tên Dục Thúy Sơn đọc núi theo hình, con chim trả cúi xuống mặt nước. Trong phép xem đất, hai lối ấy gọi là xem thế và xem hình, và người xưa vẫn dùng cả hai. Điều thú vị ở Non Nước là cả hai lối đều đã có người đặt thành tên, và hai cái tên ấy còn sống song song tới nay.

Sau cùng là hướng. Hồ sơ di tích không ghi hướng của các công trình theo địa bàn, nên chúng tôi không nêu một con số độ nào. Chỉ xin ghi lại một quan sát đã thành lệ trong tư liệu về núi này: từ phía nam nhìn sang thì núi giống một bông sen đang nở, từ phía bắc nhìn lại thì giống một con chim đang đậu. Hai cách nhìn ấy ứng với hai hướng tiếp cận chính, và người xưa khi chọn chỗ đặt chùa, đặt gác, đặt đền đều đã tính tới chuyện ngọn núi sẽ hiện ra thế nào trong mắt người đi thuyền dưới sông.

VLễ Và Lệ Ở Ba Nơi Thờ Tự

Cần nói rõ một điều: ngọn núi không có một kỳ lễ hội chung. Vì trên và dưới núi là ba nơi thờ tự thuộc ba hệ khác nhau, nên lễ tiết cũng chia theo ba hệ ấy, mỗi nơi theo lịch của mình. Bảng dưới đây ghi các mốc theo âm lịch, và chỉ ghi những thứ không đổi theo năm tháng.

Lễ tiết của ba nơi thờ tự trên và dưới núi, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích địa phương và lịch lễ chung của các cơ sở Phật Giáo. Các mốc của chùa theo lịch chung của Phật Giáo Việt Nam chứ không phải lễ riêng của ngôi chùa này..
Nơi thờ tựThời điểm âm lịchNội dung
Chùa Non NướcMùng một và ngày rằm hằng thángLệ dâng hương và tụng niệm thường kỳ của nhà chùa, theo lịch chung của cơ sở Phật Giáo.
Chùa Non NướcRằm tháng GiêngLễ thượng nguyên, kỳ lễ đầu năm của nhà chùa, đông người nhất trong năm.
Chùa Non NướcRằm tháng TưLễ Phật đản, theo lịch chung của Phật Giáo Việt Nam.
Chùa Non NướcRằm tháng BảyLễ Vu Lan, kỳ lễ báo hiếu, có tụng kinh và dâng lễ.
Động Tam PhủDịp đầu xuânLệ dâng lễ theo tín ngưỡng dân gian thờ Thiên Phủ, Địa Phủ và Thủy Phủ. Đây là lệ riêng của động, không thuộc lịch nhà chùa.
Đền thờ Trương Hán SiêuDịp đầu năm và trước mùa thiDâng hương tưởng niệm vị danh sĩ. Người trong vùng có lệ tới đền cầu về việc học hành và thi cử.

Ngoài các mốc trên, còn một lệ không ghi vào bảng được vì nó không thuộc về thờ tự: lệ lên núi đề thơ. Suốt bảy thế kỷ, người có chữ khi qua đây thường lên tới Nghênh Phong Các, ngồi lại, rồi để lại một bài. Lệ ấy nay không còn ở dạng khắc đá, vì mặt vách đã là di sản được bảo vệ và không ai được thêm chữ vào nữa. Nhưng nó vẫn còn ở dạng khác: các kỳ sinh hoạt thơ văn của địa phương vẫn lấy ngọn núi này làm nơi tụ họp, và đó là cách một lệ cũ sống tiếp mà không làm hỏng cái nó sinh ra từ đó.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ngã ba sông Vân và sông Đáy, thành phố Ninh Bình cũ, nay là phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Núi nằm ngay ngã ba sông Vân và sông Đáy, thuộc phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, trước là địa bàn thành phố Ninh Bình. Đền thờ Trương Hán Siêu ở dưới chân núi phía tây nam, chùa Non Nước và Nghênh Phong Các ở trên núi, đi bộ theo đường bậc đá là tới.
Toạ độ
20.2593, 105.9817
Khi tới nơi

Đây vừa là di tích vừa là nơi thờ tự đang hoạt động, nên có hai lớp lệ. Với phần di tích: không chạm lên mặt vách có chữ, không khắc hay viết vẽ thêm lên đá, không dùng phấn hay nước để làm nổi nét chữ khi chụp ảnh, vì các cách ấy làm hỏng mặt bia. Với phần thờ tự: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và hậu cung, đi nhẹ nói khẽ trong động Tam Phủ vì lòng hang hẹp và vang. Đường lên đỉnh là bậc đá, chỗ có rêu rất trơn.

Những nơi gần đây trong thư viện

XIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Núi Non Nước

Contribute photos, information or video for Non Nuoc Mountain

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Núi Non Nước Ninh Bình thờ ai

Bản thân ngọn núi không thờ riêng một vị nào. Cái được xếp hạng là ngọn núi cùng hệ văn khắc Hán Nôm trên vách đá. Trên núi có chùa Non Nước thờ Phật, dưới chân núi phía tây nam có đền thờ Trương Hán Siêu, trong lòng núi có động Tam Phủ thờ Thiên Phủ, Địa Phủ và Thủy Phủ theo tín ngưỡng dân gian.

Dục Thúy Sơn nghĩa là gì và ai đặt tên

Nghĩa là ngọn núi giống con chim trả đang tắm. Tên do danh sĩ Trương Hán Siêu đời Trần đặt, khi ông thấy dáng núi soi xuống mặt sông. Núi còn các tên khác là Non Nước theo cách gọi dân gian, cùng Băng Sơn, Lạc Sơn và Hộ Thành Sơn trong sách cũ.

Trên núi Non Nước có bao nhiêu bài thơ khắc đá

Cách nói phổ biến là hơn bốn mươi bài thơ văn khắc thẳng vào vách. Bản tin của cơ quan thông tấn ghi hiện còn 43 văn bia gồm 37 bia chữ Hán Nôm và 6 bia chữ quốc ngữ, trong khi báo địa phương ghi còn 30 bài của 24 tác giả. Ba con số đến từ ba cách đếm khác nhau, bài đã ghi rõ cả ba.

Núi Non Nước Ninh Bình có phải Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng không

Không, đây là hai nơi hoàn toàn khác nhau chỉ trùng tên gọi dân gian. Núi Non Nước trong bài này ở Ninh Bình, tên chữ Dục Thúy Sơn, nổi tiếng vì kho văn khắc trên đá. Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng là cụm năm ngọn núi có hai quốc tự và hệ hang động. Chùa Non Nước trong quần thể đền Sóc ở Hà Nội lại là một nơi thứ ba nữa.

Núi Non Nước cao bao nhiêu mét

Các nguồn ghi khác nhau. Báo địa phương ghi khoảng 25 mét, kèm kích thước chừng 40 mét theo chiều bắc nam và hơn 60 mét theo chiều đông tây. Một số bài viết ghi hơn 20 mét, tài liệu nghiên cứu địa phương lại ghi khoảng 40 mét. Số bậc đá lên đỉnh cũng được ghi khác nhau, có nguồn ghi 198 bậc, có nguồn ghi 72 bậc chia làm năm cấp.

Đọc Tiếp