Từ phía nam Kinh thành đi lên một khu đất cao, quý vị bước qua một cổng gạch rồi vào giữa một rừng thông. Đường đi thẳng, thông trồng hai bên, và cuối đường không phải là một mái đền hay một pho tượng mà là ba khối nền chồng lên nhau, trống trải, không mái, không vách, không có thứ gì để nhìn ngoài chính hình khối của nó. Tầng trên cùng hình tròn, hai tầng dưới hình vuông.
Người quen đi đền đi chùa lần đầu tới đây thường thấy hụt, vì không có gì để vái. Đó chính là điểm cần hiểu trước: đàn khác đền, khác miếu, khác chùa. Đàn là nơi tế lộ thiên, dựng ra để tế Trời và Đất, và theo lễ xưa thì tế Trời phải tế dưới trời chứ không tế trong nhà. Cả nước hôm nay chỉ còn nơi này giữ được nguyên hình một đàn Giao.
ITế Trời Đất, Không Phải Tế Tổ
Đối tượng được tế ở đây là Hoàng Thiên và Hậu Thổ, tức Trời và Đất, hai ngôi lớn nhất trong hệ tế tự của Nho giáo. Các vị tiên đế của triều được phối thờ, nghĩa là thờ kèm theo, chứ không phải là đối tượng chính. Chỗ ấy phải nói cho rõ ngay từ đầu, vì đây là điều hay bị hiểu lệch nhất về đàn Nam Giao.
Vì lẽ đó thư viện xếp nơi này vào nhóm Nho Giáo chứ không xếp vào nhóm thờ cúng tổ tiên. Đàn Nam Giao là công trình của điển chế Nho, cùng một nhãn với văn miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội và văn miếu Mao Điền ở Hải Dương cũ. Ba nơi ấy khác nhau về việc làm nhưng cùng một gốc: văn miếu lo phần thờ đạo học, đàn Giao lo phần thờ Trời Đất, và cả hai đều thuộc về phép tế tự của nhà nước theo Nho.
Theo giáo nghĩa Nho, Trời là gốc sinh ra muôn vật, và quyền cai trị của một triều đại được hiểu là mệnh Trời giao cho. Người đứng đầu nước vì thế mang danh thiên tử, nghĩa đen là con của Trời. Tế Giao là lễ mà thiên tử đứng ra thay cho cả nước để trình lên Trời Đất, tạ ơn và cầu cho mùa màng yên ổn.
Có một nguyên tắc rất chặt trong việc này: chỉ một người được tế Trời. Dân thường tế tổ tiên trong nhà, làng tế thành hoàng ở đình, quan tế các thần theo phẩm trật, nhưng Trời thì cả nước chỉ một người được tế. Đó là lý do đàn Giao bao giờ cũng dựng ở kinh đô và bao giờ cũng chỉ có một cái.
Hình của đàn nói lại đúng cái nghĩa ấy. Người xưa quan niệm Thiên Viên Địa Phương, trời tròn đất vuông, nên tầng trên cùng làm tròn để ứng với Trời, tầng giữa làm vuông để ứng với Đất, tầng dưới cũng vuông để ứng với Người. Ba tầng chồng lên nhau thành hình tam tài, tức ba ngôi Thiên Địa Nhân đứng đủ trong một khối.
Về mặt khảo được, đàn Giao không phải sáng tạo của triều Nguyễn. Trước đó nước ta đã có đàn Nam Giao ở Thăng Long, có đàn Nam Giao của nhà Hồ tại Tây Đô, và có đàn tế trên núi Bân thuộc vùng Huế do nhà Tây Sơn lập. Điều làm đàn Nam Giao Huế thành trường hợp riêng là nó còn nguyên hình khối ba tầng, còn tường bao, còn Trai Cung, còn rừng thông, trong khi các đàn kia chỉ còn nền hoặc chỉ còn ghi trong sách.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất là coi Nam Giao như một tên riêng hoặc một tên thần. Thực ra giao trong lễ xưa chỉ vùng ngoại ô quanh kinh đô, và tế Giao là tế ở ngoại ô. Đàn tế Trời đặt ở phía nam kinh thành nên gọi là đàn Nam Giao, cũng như đàn tế Đất ở phía bắc thì gọi là đàn Bắc Giao. Tên ấy là tên chỉ chỗ và chỉ việc, không phải danh hiệu của một vị nào.
Chỗ hay hiểu lầm thứ hai là coi đây là nơi thờ các vua Nguyễn. Các vị tiên đế chỉ được phối thờ trên tầng Viên đàn, ngồi hai bên án chính. Nơi thờ các vua của triều là Thế Miếu trong Hoàng thành, một nơi khác hẳn cả về đối tượng lẫn về phép tế.
IITừ Năm 1806 Đến Kỳ Tế Cuối
Đàn dựng sớm, chỉ bốn năm sau khi triều Nguyễn định đô ở Huế. Việc dựng đàn trước khi nhiều công trình khác hoàn tất cho thấy thứ tự ưu tiên của điển chế: có đàn Giao thì mới có chỗ tế Trời, và có tế Trời thì danh phận của triều mới đủ theo phép Nho.
- 1806Khởi công dựng đànĐời Gia Long, đàn khởi công vào tháng ba ở khu đất cao phía nam Kinh thành, do một vị đại thần được cử trông coi công việc.
- 1807Kỳ tế Giao đầu tiênKỳ đại lễ thứ nhất cử hành vào tháng ba năm này, mở đầu cho chuỗi lễ tế kéo dài gần một trăm bốn mươi năm.
- 1807 tới 1885Tế mỗi năm một kỳTrong giai đoạn này lễ tế Giao cử hành hằng năm vào mùa xuân, do chính nhà vua làm chủ tế.
- 1885 tới 1891Bảy năm gián đoạnTheo tài liệu lưu trữ, lễ tế bị gián đoạn trong bảy năm rồi mới được nối lại.
- 1891Đổi thành ba năm một kỳTừ năm này, lễ tế Giao được định lại thành ba năm một lần, cử hành vào các năm Tý, Mão, Ngọ và Dậu.
- 1945Kỳ tế cuối cùngKỳ đại lễ sau chót cử hành ngày 23 tháng 3 năm 1945. Tính từ kỳ đầu năm 1807, tổng cộng có chín mươi tám kỳ đại lễ.
- 1993Di sản thế giớiĐàn Nam Giao nằm trong Quần thể di tích Cố đô Huế được ghi vào danh mục di sản thế giới.
IIIBa Tầng Đàn, Trai Cung Và Rừng Thông
Khuôn viên là một hình chữ nhật có tường bao thấp, tư liệu ghi mặt dài 390 mét và mặt rộng 265 mét, tường cao chừng 1,6 mét, mỗi mặt trổ một cửa. Toàn khu rộng chừng mười hecta. Trong khuôn viên ấy, phần đàn chỉ chiếm một khoảnh ở giữa, còn lại là rừng thông và các nhà phụ.
Tầng trên cùng, hình tròn, ứng với Trời. Tư liệu ghi đường kính 40,5 mét và cao 2,8 mét, lan can sơn màu xanh. Đây là chỗ đặt án chính tế Hoàng Thiên Hậu Thổ cùng các án phối thờ.
Tầng giữa, hình vuông, ứng với Đất. Tư liệu ghi mỗi cạnh 83 mét và cao 1,1 mét, lan can sơn màu vàng. Đây là chỗ đặt các án thờ mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây, mưa, gió, sấm và các thần núi sông.
Hình vuông, ứng với Người. Tư liệu ghi mỗi cạnh 165 mét và cao 0,84 mét, lan can sơn màu đỏ. Đây là chỗ đứng của bá quan trong lễ tế.
Khu nhà riêng ở phía tây nam khuôn viên, nơi nhà vua tới trước lễ để trai giới. Trong Trai Cung có đặt một pho tượng đồng nhỏ hình người, đặt đối diện chỗ vua ngồi.
Nhà bếp và nhà kho dùng riêng cho việc tế, đặt ở góc đông bắc khuôn viên. Đồ tế và tam sinh được sửa soạn tại đây trước khi đưa lên đàn.
Thông trồng kín khuôn viên, theo lệ do chính nhà vua, hoàng thân và đình thần tự tay trồng. Mỗi cây được gắn một chiếc thẻ ghi tên người trồng và niên hiệu.
Về kích thước ba tầng đàn, các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Nhóm nguồn thứ nhất, cũng là nhóm được dẫn nhiều hơn cả, ghi Viên đàn đường kính 40,5 mét cao 2,8 mét, Phương đàn cạnh 83 mét cao 1,1 mét, tầng dưới cạnh 165 mét cao 0,84 mét. Một nguồn nghiên cứu địa phương lại ghi những con số khác hẳn, trong đó Viên đàn cao 6,8 mét, tầng giữa cạnh 72 mét cao 2,5 mét, tầng dưới cạnh 130,7 mét cao 1,9 mét. Chênh lệch có thể do cách quy đổi từ đơn vị trượng thước sang mét, cũng có thể do đo theo các mốc khác nhau. Thư viện ghi nhóm thứ nhất trong phần mô tả và ghi nhận nhóm thứ hai ở đây, không chọn bừa một con số.
Về rừng thông, có một chỗ ít người biết. Thông ở đây không phải cây trồng để lấy bóng mát. Theo tư liệu, sau khi trai giới trong Trai Cung, nhà vua tự tay trồng một cây thông, rồi quan lại khắc một bài minh của vua lên một chiếc thẻ đá và treo vào thân cây ấy. Hoàng thân và đình thần cũng trồng, thẻ ghi rõ tên người trồng. Một chiếc thẻ còn ghi lại được cho biết cây do vị hoàng tử thứ mười hai trồng vào năm Minh Mệnh thứ mười lăm, tức năm 1834.
Vì vậy rừng thông quanh đàn nên được đọc như một thứ sổ bộ bằng cây, mỗi gốc thông là một cái tên và một niên hiệu. Người đi qua rừng ấy mà chỉ thấy cảnh thì mới thấy một nửa.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong điển lệ của triều. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Trước hết phải nói một điều khác với phần lớn các bài thế đất khác trong thư viện: chỗ đặt đàn Giao không do thầy địa lý tìm huyệt mà do điển chế định sẵn. Sách lễ đã quy định đàn tế Trời đặt ở ngoại ô phía nam kinh đô, nên việc chọn đất ở đây là chọn trong phạm vi mà lễ đã khoanh, chứ không phải đi tìm một huyệt kết. Dù vậy, cách người xưa chọn đúng khoảnh nào trong phạm vi ấy thì vẫn đọc được bằng con mắt cổ truyền.
Thứ nhất là phương nam. Trong phương vị cổ, nam thuộc hành Hỏa, chủ sự sáng, chủ dương khí, và là phương mà người ngồi ở ngôi cao quay mặt về. Đặt đàn tế Trời ở phía nam kinh thành tức là đặt nó trong tầm mắt hướng ra của cả kinh đô, nơi nhận đủ khí dương. Với một lễ cử hành vào lúc đêm chưa tàn thì phương Hỏa còn thêm một lớp nghĩa nữa: chỗ chờ mặt trời.
Thứ hai là chỗ đất cao. Khu đàn nằm trên một nền cao hơn vùng chung quanh, lại được đắp thêm ba tầng chồng lên. Theo phép cũ, tế Trời phải ở chỗ cao và trống, vì cao thì gần, trống thì không có gì che. Đây là chỗ mà phong thủy đàn tế đi ngược hẳn phong thủy nhà ở: nhà ở cầu tụ khí, tức cầu kín và cầu có vật che, còn đàn tế cầu thông thiên, tức cầu trống và cầu hở. Ai đem phép xem nhà ra đọc đàn Giao rồi chê nơi này lộ và tán khí thì đã đọc nhầm sách.
Thứ ba là hình tròn vuông chồng nhau. Tròn trên vuông dưới không chỉ là hình tượng Thiên Viên Địa Phương mà còn là một cấu trúc rất vững theo con mắt xem hình thế: đáy vuông rộng làm chân đế, thân thu dần, đỉnh tròn làm chỗ quy tụ. Người đi từ bốn cửa vào, lên bậc, thu dần vào giữa, cuối cùng đứng trên một mặt tròn không góc cạnh. Đường đi ấy chính là hình của một cái phễu ngược: bốn phương dồn về một điểm.
Thứ tư là rừng thông làm vành đai. Một khu đàn trống trơn giữa đồng thì gió tạt bốn bề. Vành thông trồng kín quanh đàn giữ vai trò như một lớp sa, tức lớp che thấp bao quanh huyệt, chặn gió mà không chặn trời. Thông lại là cây chịu được đất cằn, sống lâu, quanh năm không rụng lá, nên trong cách nghĩ cũ nó ứng với sự bền và sự thanh. Đặt một vành cây bền quanh một cái đàn trống là cách người xưa dung hòa hai đòi hỏi trái nhau: vừa phải hở lên trời, vừa phải kín với gió.
VNghi Tiết Lễ Tế Giao
Tế Giao thuộc hàng đại tự, tức bậc cao nhất trong ba bậc tế tự của triều. Ngày tế do cơ quan coi thiên văn chọn sau tết Nguyên đán, thường rơi vào tháng hai hoặc tháng ba âm lịch. Toàn bộ trình tự dưới đây là nghi tiết thời triều Nguyễn, chép theo tài liệu lưu trữ.
| Chặng | Nơi diễn ra | Nội dung |
|---|---|---|
| Trai giới | Trai Cung | Nhà vua tới ở trong Trai Cung ba ngày trước lễ, giữ mình sạch, kiêng rượu thịt và các việc riêng. Tài liệu ghi vua ngồi đối diện pho tượng đồng nhân như đối diện với chính mình. |
| Trồng thông | Khuôn viên đàn | Sau khi trai giới, nhà vua tự tay trồng một cây thông, thẻ đá khắc bài minh của vua được treo vào thân cây. |
| Sửa soạn phẩm vật | Thần Trù và Thần Khố | Hoa quả, hương đèn, bánh trái và tam sinh gồm bò, lợn, dê được sửa soạn và cất giữ trong hai nhà này. |
| Nghênh thần và dâng hương | Viên đàn | Lễ bắt đầu từ khoảng hai giờ sáng. Nhà vua làm chủ tế, nghênh thần rồi dâng hương trước án Hoàng Thiên Hậu Thổ và các án phối thờ. |
| Độc chúc và tam hiến | Viên đàn | Đọc bài chúc văn, rồi dâng ba tuần rượu gọi là tam hiến. Đây là phần trọng nhất của cả kỳ lễ. |
| Tống thần và hóa chúc | Viên đàn và Phương đàn | Tiễn thần, đốt bài chúc cùng một phần phẩm vật. Toàn lễ kéo dài chừng ba tiếng, có nhã nhạc gồm chín khúc và đội múa bát dật với 128 người. |
Hai chi tiết đáng dừng lại. Một là giờ tế. Lễ mở vào lúc đêm chưa sáng hẳn, và theo lẽ cũ thì đó là giờ khí dương bắt đầu sinh trong khí âm, giờ thích hợp nhất để trình lên Trời. Hai là ba ngày trai giới. Trong phép tế, việc sửa mình trước lễ được coi trọng ngang với chính lễ, vì người đứng ra tế thay cho cả nước thì trước hết phải sạch đã.
Xin nhắc lại một lần nữa: mọi mô tả trong mục này thuộc về nghi thức của triều Nguyễn, chép từ tài liệu. Đàn hôm nay là một di tích được bảo tồn, và việc có hay không có lễ tại chỗ thì tùy từng thời kỳ, thư viện không ghi vào đây vì đó là thứ thay đổi theo năm tháng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Phía nam Kinh thành, phường Trường An cũ, nay là phường Thuận Hóa, thành phố Huế
- Đường tới
- Nằm ở phía nam Kinh thành Huế, trên khu đất cao thuộc phường Thuận Hóa, thành phố Huế, cách khu Đại Nội chừng vài cây số về phía nam theo đường Điện Biên Phủ.
- Toạ độ
- 16.4378, 107.5827
Đây là di tích lộ thiên, lệ của nơi này khác lệ của đền chùa. Vài điều thường được nhắc: không trèo lên lan can ba tầng đàn, đi theo lối bậc đã mở chứ không leo tắt qua mặt nền, không bày lễ và không đốt hương trên mặt đàn vì nơi này không phải nơi thờ cúng thường ngày. Trong rừng thông, xin không gỡ hay chạm vào các thẻ gắn trên thân cây. Khu Trai Cung là nhà gỗ cũ, nên không tựa người vào cột và vách.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đàn Nam Giao Huế
Contribute photos, information or video for Nam Giao Esplanade, HueThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đàn Nam Giao Huế thờ ai
Không thờ một vị thần hay một vị vua nào theo lối đền miếu. Đàn dựng để tế Hoàng Thiên và Hậu Thổ, tức Trời và Đất, còn các vị tiên đế của triều chỉ được phối thờ kèm theo trên tầng Viên đàn. Nơi thờ các vua Nguyễn là Thế Miếu trong Hoàng thành, một nơi khác.
Vì sao đàn Nam Giao có tầng tròn tầng vuông
Vì người xưa quan niệm Thiên Viên Địa Phương, trời tròn đất vuông. Tầng trên cùng làm tròn ứng với Trời, tầng giữa làm vuông ứng với Đất, tầng dưới cũng vuông ứng với Người. Ba tầng chồng nhau thành hình tam tài, tức ba ngôi Thiên Địa Nhân đứng đủ trong một khối.
Lễ tế Giao được tổ chức bao nhiêu lần
Tổng cộng chín mươi tám kỳ đại lễ, kỳ đầu năm 1807 và kỳ cuối ngày 23 tháng 3 năm 1945. Từ năm 1807 tới năm 1885 tế mỗi năm một kỳ, sau bảy năm gián đoạn thì từ năm 1891 định lại thành ba năm một lần vào các năm Tý, Mão, Ngọ và Dậu.
Trai Cung ở đàn Nam Giao dùng để làm gì
Là khu nhà nơi nhà vua tới ở ba ngày trước lễ để trai giới, tức giữ mình sạch, kiêng rượu thịt và các việc riêng. Trong Trai Cung có đặt một pho tượng đồng nhỏ hình người đối diện chỗ vua ngồi. Sau khi trai giới, vua tự tay trồng một cây thông trong khuôn viên.
Vì sao xếp đàn Nam Giao vào Nho Giáo mà không xếp vào thờ cúng tổ tiên
Vì đối tượng tế ở đây là Trời và Đất theo điển chế Nho, không phải tổ tiên của một dòng họ. Lễ tế Giao thuộc phép tế tự của nhà nước theo Nho, cùng một nhãn với văn miếu Quốc Tử Giám và văn miếu Mao Điền, dù ba nơi lo ba phần việc khác nhau.