Quý vị qua bến đò sang bờ bắc sông Cầu, đi vào một cái cổng làng xây gạch cuốn vòm, rồi lọt vào những con ngõ hẹp tới mức hai người tránh nhau phải nghiêng vai. Tường hai bên ngõ không phải tường gạch thường. Nhìn kỹ sẽ thấy mặt tường ken đầy mảnh gốm, những chum vại nung hỏng của mấy trăm năm làm nghề, xếp nghiêng, úp ngửa, gắn lại bằng vôi vữa. Cả làng dựng tường bằng chính thứ phế phẩm của mình.
Đi hết mạng ngõ ấy thì tới khoảng đất rộng ở giữa làng, nơi đứng liền nhau ba nếp thờ tự: đình, chùa và từ chỉ. Ba nếp ấy thuộc ba dòng khác nhau, và điều khiến Thổ Hà khác mọi làng khác nằm ngay ở ngôi đình: thành hoàng của làng là Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử, vị tổ của Đạo Giáo.
IBa Nếp Thờ Của Ba Dòng
Quần thể gồm ba công trình thờ tự, mỗi công trình một đối tượng thờ riêng, không nhập ban và không lẫn lễ:
- Đình Thổ Hà thờ thành hoàng làng là Thái Thượng Lão Quân, tên húy Lý Bá Dương, phối thờ tổ nghề gốm là Đào Trí Tiến.
- Chùa Thổ Hà, tên chữ là Đoan Minh Tự, thờ Phật theo lối Bắc tông.
- Từ chỉ Thổ Hà thờ Khổng Tử cùng bảy mươi vị tiên hiền khoa bảng của làng.
Một làng giữ đủ ba nếp thờ của ba dòng, trong một khoảnh đất đi bộ vài phút là hết, đó là chỗ hiếm ở Bắc Bộ.
Vì sao một ngôi đình Việt lại thờ Lão Tử
Theo giáo nghĩa Đạo Giáo, Thái Thượng Lão Quân là danh hiệu tôn xưng của Lão Tử sau khi ông được đưa lên hàng thần. Đạo Giáo coi ngài là hóa thân của cái Đạo, đứng đầu trong Tam Thanh, ngôi Thái Thanh. Con người lịch sử tên Lý Nhĩ, tự Bá Dương, tác giả năm nghìn chữ Đạo Đức Kinh, và vị thần ngồi trên ban thờ là hai lớp chồng lên nhau: một lớp thuộc về tư tưởng, một lớp thuộc về tín ngưỡng.
Ở Trung Hoa, nơi thờ ngài là đạo quán. Ở Việt Nam, những nơi thờ Thái Thượng Lão Quân phần lớn cũng là quán, như hệ thống quán của Đạo Giáo còn sót lại quanh vùng đồng bằng. Thổ Hà là chuyện khác: nơi thờ ngài ở đây là một ngôi đình làng, và cách thờ là cách thờ thành hoàng.
Sự hòa lẫn ấy cần được nói cho rõ, vì nó là chỗ đáng đọc nhất của Thổ Hà. Thành hoàng là một chức phận trong tín ngưỡng làng xã người Việt: vị thần được giao coi sóc một cộng đồng cụ thể, có sắc phong, có ngày hội, có lệ tế của các giáp. Đình là nhà chung của làng, vừa là nơi thờ vừa là nơi họp việc làng. Khi làng Thổ Hà đặt Thái Thượng Lão Quân vào chức phận ấy, làng không rước Đạo Giáo về mà rước một vị thần vào hệ thờ của mình, rồi thờ theo lệ của mình.
Vì vậy thư viện vẫn để nơi này dưới nhãn Thờ Cúng Tổ Tiên, tức nhánh tín ngưỡng bản địa gồm cả thờ thành hoàng, chứ không xếp vào Đạo Giáo. Nhãn ấy nói về cách thờ, không nói về gốc gác của vị được thờ. Còn bản thân vị được thờ thì đúng là vị tổ của Đạo Giáo, và đó là chỗ hai dòng gặp nhau ngay trong một ngôi nhà gỗ ở bờ bắc sông Cầu.
Người phối thờ trong đình là Đào Trí Tiến, được làng tôn làm tổ nghề gốm. Lối thờ tổ nghề chung một mái với thần chủ là lối quen của các làng nghề Bắc Bộ: làng sống bằng nghề gì thì đưa người truyền nghề lên ban thờ, ngồi dưới thành hoàng một bậc. Ở Thổ Hà, nghề gốm đã ngừng từ những năm cuối thế kỷ 20, nhưng hương khói cho tổ nghề thì không ngừng theo.
Bên kia khoảnh đất là từ chỉ. Chữ từ chỉ chỉ nơi thờ Khổng Tử và các bậc khoa bảng của một làng hoặc một tổng, khác với văn miếu của cả nước hay văn chỉ của phủ huyện chỉ ở quy mô. Đây là nếp thờ của Nho Giáo, do hội tư văn của làng, tức những người có chữ, đứng ra lo liệu. Tám tấm bia trong từ chỉ ghi tên bảy mươi vị tiên hiền, niên đại trải từ khoảng năm 1680 tới giữa thế kỷ 19.
Chỗ hay hiểu lầm ở Thổ Hà là chữ tam giáo. Nghe nói một làng có đủ đình thờ Lão Tử, chùa thờ Phật và từ chỉ thờ Khổng Tử, nhiều người hình dung ra một ban thờ chung có ba pho tượng ngồi cạnh nhau, kiểu tượng Tam giáo mà một vài chùa Bắc Bộ có thật.
Ở đây không phải vậy. Ba nếp thờ đứng gần nhau về mặt đất đai nhưng tách bạch hoàn toàn về nghi thức: đình có ban khánh tiết và lệ tế của các giáp, chùa có sư trụ trì và lịch tu theo nhà Phật, từ chỉ có hội tư văn và ngày vía riêng. Không nếp nào làm lễ thay cho nếp nào. Cái mà Thổ Hà cho thấy không phải ba dòng trộn vào nhau, mà là ba dòng cùng ở được trong một làng, mỗi dòng giữ phần việc của mình.
IINiên Đại Của Ba Công Trình
Ba công trình không dựng cùng lúc. Chùa có dấu vết sớm nhất, đình thuộc lớp cuối thế kỷ 17, từ chỉ dựng sau rồi còn dời chỗ một lần. Đọc theo thứ tự ấy thì thấy làng bồi đắp nếp thờ của mình dần qua hơn hai trăm năm chứ không dựng một loạt.
- 1584Bia đá sớm nhất của chùaChùa Thổ Hà, tên chữ Đoan Minh Tự, còn tấm bia mang niên đại này. Tư liệu địa phương còn nhắc tới một lần trùng tu năm 1610 và một tấm bia năm 1653.
- Khoảng 1680Dựng từ chỉTừ chỉ thờ Khổng Tử được dựng ở vị trí cũ gần chùa. Các tấm bia ghi tên tiên hiền có niên đại bắt đầu từ quãng này.
- Cuối thế kỷ 17Dựng đình Thổ HàĐình được dựng thời Lê Trung Hưng. Niên đại cụ thể các nguồn ghi khác nhau, xem hộp sử liệu ngay dưới.
- 1692Hoàn thành cửa võngBức cửa võng gian giữa đại đình, rộng 4,3 mét, được tạo tác trong khoảng những năm dựng đình và hoàn thành năm này.
- 1794Dời từ chỉ về chỗ hiện nayTừ chỉ được chuyển từ vị trí cũ về khoảnh đất đứng tới ngày nay, thành ra ba nếp thờ quây lại trong một cụm.
- 1964Xếp hạng di tích quốc giaĐình Thổ Hà được công nhận là di tích lịch sử và danh thắng. Chùa và từ chỉ được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1994.
- 2020Cửa võng thành bảo vật quốc giaCửa võng đình Thổ Hà được công nhận bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2283/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- 2026Di tích quốc gia đặc biệtQuần thể đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11 tháng 2 năm 2026, thuộc đợt xếp hạng thứ 19.
Chỗ này nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng. Về năm dựng đình, tư liệu quản lý di tích ghi năm 1686, một bài nghiên cứu dẫn bia đá tại đình ghi niên hiệu Chính Hòa thứ sáu tức năm 1685, lại có tài liệu ghi thẳng năm 1692. Nhiều khả năng ba con số ấy nói về ba việc khác nhau trong cùng một đợt dựng kéo dài: năm khởi công, năm dựng xong bộ khung và năm hoàn thành phần chạm trang trí. Chúng tôi ghi cả ba và không chọn bừa một con số.
Về niên đại chùa, tấm bia sớm nhất mang năm 1584, nhưng bia có thể thuộc một lần trùng tu chứ không thuộc lần dựng đầu, nên các nguồn thường chỉ ghi chung là chùa có từ thế kỷ 16 tới đầu thế kỷ 17.
IIIQuần Thể Gồm Những Gì
Cụm di tích nằm ở trung tâm làng, cả ba công trình đều quay ra khoảng sân chung và đều dựng bằng gỗ theo lối cổ truyền Bắc Bộ. Dưới đây là phần của từng nếp, viết ở tầng cụm.
Ba lớp nhà gồm tiền tế, đại đình và hậu cung. Bộ khung gỗ chạm dày đặc theo phong cách thời Lê, đề tài rồng, tiên, vân xoắn và hoa lá. Đây là nơi đặt ban thờ Thái Thượng Lão Quân và ban phối thờ tổ nghề gốm.
Bức cửa võng rộng 4,3 mét, chia tầng, tầng trên cao từ 4 mét tới 4,9 mét, tầng giữa cao 1,8 mét. Thợ dùng lối chạm bong kênh kết hợp chạm nổi, chạm lộng và chạm thủng, đề tài rồng, phượng, linh thú và hoa lá. Đây là hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia.
Khuôn viên gồm tiền đường, thượng điện, động tiên và các nếp nhà phụ. Trong chùa còn gần một trăm pho tượng Phật, phần lớn thuộc lớp tượng thời Lê, cùng rồng đá và các cấu kiện gỗ thế kỷ 17.
Nếp nhà thờ Khổng Tử, bên trong có tượng đồng và tám tấm bia đá ghi tên bảy mươi vị tiên hiền khoa bảng của làng. Đây là dạng văn chỉ cấp làng, quy mô nhỏ hơn văn miếu và văn chỉ phủ huyện.
Tính chung cả cụm, hiện còn khoảng ba mươi tấm bia niên đại từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 19. Đây là nguồn tư liệu chính để đọc các lần trùng tu và các đợt công đức của làng.
Nằm ngoài cụm thờ tự nhưng thuộc cùng một không gian làng: cổng làng xây gạch cuốn vòm và hệ tường ngõ ken bằng mảnh gốm phế phẩm, thứ vật liệu chỉ có ở một làng từng nung gốm sáu thế kỷ.
Nghề gốm Thổ Hà từng được xếp cùng hàng với Phù Lãng và Bát Tràng trong số các trung tâm gốm cổ của người Việt, với dòng sành da nâu đỏ, nung già, không thấm nước. Nghề ngừng vào quãng đầu thập niên 1990 và làng chuyển sang làm bánh đa. Nhưng gốm không biến mất khỏi làng: nó nằm trong tường, trong bờ rào, trong nền ngõ. Đọc kiến trúc Thổ Hà mà bỏ qua mấy bức tường ấy thì mất một nửa.
Về tên chữ Hán ghi ở đầu trang, chúng tôi lấy hai chữ đọc theo địa danh của làng, đây là chữ suy ra chứ không phải chép từ hoành phi hay bảng cổng. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết là thế của cả làng. Thổ Hà nằm trên một dải đất nổi ở bờ bắc sông Cầu, ba mặt có nước bao, chỉ một mặt nối với đồng. Trong phép xem đất, đó là hình đảo cục, tức một mảnh đất được dòng nước ôm gần kín. Nước ôm thì khí tụ, và một làng nghề sống bằng đường sông thì cái thế ấy vừa hợp phong thủy vừa hợp sinh kế: bến đò là cửa ra vào duy nhất của cả hàng hóa lẫn khí.
Thứ hai là chỗ đặt cụm thờ tự. Đình, chùa và từ chỉ không đứng ở rìa làng mà nằm ngay giữa lòng dân cư, mọi ngõ đều dẫn về đó. Theo lối cũ thì đây là cách đặt tâm huyệt, lấy nơi thờ làm điểm quy tụ, để mạng ngõ xóm tỏa ra bốn phía như nan quạt từ một trục. Làng nào đặt đình ở giữa thì đình vừa là chỗ thờ vừa là chỗ định hướng cho cả không gian ở.
Thứ ba là hướng. Đình quay mặt ra hướng có sông, tức nhìn về phía dòng nước lớn, đúng với lối tọa thực hướng thủy mà sách cũ chuộng: lưng dựa vào phần đất dày có xóm làng che, mặt mở ra khoảng thoáng có nước. Đồng bằng châu thổ không có núi để tựa, nên chỗ dựa ở đây là khối nhà cửa và lũy tre phía sau, còn minh đường là mặt sông Cầu phía trước. Sông ở đoạn này chảy êm, không xiết, và trong phép cũ thì nước chảy êm trước cửa là nước hữu tình, giữ được của chứ không cuốn đi.
Thứ tư là cách bố trí ba nếp thờ, và đây là chỗ riêng của Thổ Hà. Đình đặt chính giữa, chùa và từ chỉ đứng hai bên, tạo thành một thế ba điểm chứ không phải một trục dọc. Đọc theo lối cũ thì thế ba điểm là thế đỉnh lập, giống ba chân của một chiếc đỉnh, đứng được là nhờ tựa vào nhau. Một làng chỉ có đình thì chỉ có phần việc làng. Có thêm chùa thì có phần sinh tử. Có thêm từ chỉ thì có phần chữ nghĩa. Ba chân ấy đủ thì cái nếp của làng mới vững, và người xưa xếp chúng quanh một sân chung chứ không xếp nối đuôi nhau, có lẽ cũng vì lẽ ấy.
Sau cùng là vật liệu. Tường ngõ đắp bằng mảnh sành nung già, một thứ đã qua lửa. Trong ngũ hành, đất qua lửa thì thuộc Thổ được Hỏa sinh, chất bền và giữ nhiệt. Một làng ở giữa vùng nước mà bao quanh mình bằng tường sành là một làng biết lấy Thổ chế Thủy. Chúng tôi ghi điều này như một chỗ đối chiếu thú vị, không phải như một ý đồ mà người xưa nói ra thành lời.
VHội Làng Tháng Giêng Và Lễ Vía Tháng Tám
Ba nếp thờ giữ ba lịch lễ riêng. Lớn nhất trong năm là hội làng mở ở đình vào tháng Giêng, khi cả làng dồn về một chỗ. Từ chỉ có ngày vía Khổng Tử riêng vào tháng Tám, quy mô gọn, do hội tư văn lo. Chùa theo lịch tiết của nhà Phật.
| Thời điểm âm lịch | Nơi hành lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Hai mươi tháng Giêng | Đình Thổ Hà | Ngày mở hội. Từ sáng sớm có đám rước kiệu đi quanh làng, đi đầu là cờ và trống, theo sau là phường bát âm, múa lân, các vai Phúc Lộc Thọ, tiên đồng ngọc nữ. Lễ vật đặc trưng là con bò thui phủ lụa đỏ. |
| Hai mươi mốt tháng Giêng | Đình Thổ Hà | Ngày chính hội. Đội tế của làng hành lễ tại đại đình, các giáp lần lượt dâng lễ. Nguồn ghi ngày kết thúc hội không thống nhất, xem ghi chú dưới bảng. |
| Trong kỳ hội | Sân đình và bãi sông | Phần hội gồm hát quan họ trên thuyền và trong sân đình, chọi gà, đấu vật, cờ người, bơi trải và bắt vịt dưới sông. |
| Mùng bảy tháng Tám | Từ chỉ Thổ Hà | Lễ vía Khổng Tử. Hội tư văn của làng dâng hương trước ban thờ và trước tám tấm bia ghi tên tiên hiền. Đây là lễ của riêng nếp Nho, không có rước. |
| Mùng một và ngày rằm hằng tháng | Cả ba nếp thờ | Lệ dâng hương thường kỳ. Đình do ban khánh tiết lo, chùa theo lịch của nhà chùa, từ chỉ do hội tư văn lo. |
Xin ghi thẳng một chỗ nguồn vênh. Về ngày hội làng, tư liệu quản lý di tích ghi hội mở hai mươi tới hai mươi mốt tháng Giêng, trong khi nhiều bản tin và trang giới thiệu lễ hội ghi hai mươi tới hai mươi hai tháng Giêng, lại có nguồn ghi hai mươi mốt tới hai mươi hai. Ngày mở hội thì các nguồn thống nhất là ngày hai mươi, chỗ vênh nằm ở ngày kết thúc và ở việc có tính ngày rã đám vào kỳ hội hay không. Chúng tôi ghi cả ba cách và không chọn bừa.
Một điều nữa đáng nói: hội Thổ Hà từ lâu được nhắc tới trong vùng Kinh Bắc như một hội có hát quan họ đúng lối, hát trên thuyền giữa sông Cầu chứ không chỉ hát trên sân khấu. Làng còn tấm biển bốn chữ Mỹ Tục Khả Phong, tức phong tục đẹp đáng nêu, do triều đình ban cho.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Thổ Hà, xã Vân Hà cũ, nay là phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh
- Đường tới
- Làng nằm ở bờ bắc sông Cầu, thuộc phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh, trên địa bàn xã Vân Hà cũ của huyện Việt Yên. Có thể vào làng bằng đò ngang từ bờ nam hoặc đi đường bộ vòng qua cầu.
- Toạ độ
- 21.203, 106.0423
Đây là cụm thờ tự đang hoạt động của một làng còn nguyên nếp, không phải khu trưng bày. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào lòng đình và vào chùa, đi nhẹ nói khẽ, không tì tay và không dựa vào các cấu kiện chạm. Riêng bức cửa võng ở gian giữa đình thì tuyệt đối không chạm vào, cũng không dùng đèn chiếu mạnh rọi thẳng. Lễ vật đặt đúng ban của từng nếp thờ, tiền bỏ hòm công đức. Ngõ làng rất hẹp, xin quý vị gửi xe ở ngoài rồi đi bộ vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà
Contribute photos, information or video for Tho Ha Communal House, Pagoda and Confucian Shrine ComplexThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đình Thổ Hà thờ ai
Thờ thành hoàng làng là Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử, tên húy Lý Bá Dương, phối thờ tổ nghề gốm Đào Trí Tiến. Đây là chỗ hiếm: một ngôi đình làng người Việt lấy vị tổ của Đạo Giáo làm thành hoàng, nhưng thờ theo đúng lệ thờ thành hoàng của làng xã Bắc Bộ.
Quần thể Thổ Hà gồm những công trình nào
Gồm ba nếp thờ đứng liền nhau giữa làng: đình Thổ Hà thờ thành hoàng, chùa Thổ Hà tên chữ Đoan Minh Tự thờ Phật theo lối Bắc tông, và từ chỉ thờ Khổng Tử cùng bảy mươi vị tiên hiền khoa bảng. Ba nếp tách bạch về nghi thức, không nhập ban thờ.
Cửa võng đình Thổ Hà có gì đặc biệt
Bức cửa võng ở gian giữa đại đình rộng 4,3 mét, chia tầng, chạm theo lối bong kênh kết hợp chạm nổi, chạm lộng và chạm thủng, đề tài rồng, phượng, linh thú và hoa lá. Hiện vật này được công nhận bảo vật quốc gia năm 2020.
Lễ hội Thổ Hà tổ chức ngày nào
Hội mở từ ngày hai mươi tháng Giêng âm lịch. Ngày kết thúc thì các nguồn ghi vênh nhau, có nơi ghi hai mươi mốt, có nơi ghi hai mươi hai. Điểm nổi bật là đám rước kiệu quanh làng, lễ vật có con bò thui phủ lụa đỏ, và hát quan họ trên thuyền giữa sông Cầu.
Thổ Hà được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm nào
Năm 2026, theo Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11 tháng 2 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ, thuộc đợt xếp hạng thứ 19. Trước đó đình được xếp hạng di tích quốc gia năm 1964, chùa và từ chỉ được xếp hạng năm 1994.