VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thế Miếu và Triệu Tổ Miếu

Thế Tổ Miếu, Triệu Miếu, miếu thờ các vua Nguyễn

Nơi thờ tổ tiên của một hoàng tộc làm theo điển chế nhà nước, khác nhà thờ họ dân gian ở chỗ mọi thứ bậc đều có phép tắc định sẵn.

Triệu Tổ Miếu
1804
dựng đời Gia Long, thờ vị thủy tổ của họ
Thế Tổ Miếu
1821
dựng đời Minh Mạng, nay có mười án thờ
Cửu Đỉnh
1835 tới 1837
chín đỉnh đồng đặt trước sân Thế Miếu

Đi vòng từ điện Thái Hòa sang phía tây nam Hoàng thành, quý vị gặp một khoảng sân rộng lát gạch, chín chiếc đỉnh đồng lớn đứng thành hàng ngang, và sau lưng chúng là một tòa gác gỗ ba tầng. Qua tòa gác ấy mới tới mái miếu dài và thấp chạy suốt chiều ngang của sân. Bên trong là mười án thờ xếp theo một thứ tự đã được định sẵn từ gần hai trăm năm trước, không ai được tự ý đổi chỗ.

Đây là nơi thờ tổ tiên của hoàng tộc Nguyễn. Trong Hoàng thành có bốn tòa miếu như vậy, và bài này nói về hai trong bốn: Triệu Tổ Miếu thờ vị thủy tổ của dòng họ, Thế Tổ Miếu thờ các vị vua của triều. Cả hai đều thuộc về việc thờ cúng tổ tiên, nhưng là thờ cúng tổ tiên ở cấp nhà nước, làm theo điển chế, và chính chỗ ấy khiến nơi này khác hẳn một ngôi nhà thờ họ ngoài dân gian.

IThờ Ai Trong Hai Tòa Miếu

Triệu Tổ Miếu thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế cùng phu nhân, tức vị được truy tôn làm thủy tổ của dòng họ, người mà mọi chi phái về sau đều tính đời từ đó. Thế Tổ Miếu thờ vị vua mở triều và các vị vua kế tiếp, mỗi vị một án.

Hai tòa ấy khác nhau ở một chỗ mà người đi lễ nên nắm trước khi bước vào. Triệu Tổ Miếu là miếu thờ gốc, thờ một cặp vợ chồng làm khởi điểm cho cả dòng. Thế Tổ Miếu là miếu thờ ngọn, thờ những người đã cầm việc nước, và số án thờ trong đó tăng dần theo thời gian chứ không cố định.

Theo giáo nghĩa

Theo điển chế Nho giáo, việc thờ tổ có thứ bậc rất rõ. Kẻ sĩ thờ một đời, đại phu thờ ba đời, chư hầu thờ năm đời, thiên tử thờ bảy đời. Miếu của thiên tử vì thế không phải là một gian nhà thờ họ phóng to, mà là một hệ thống nhiều tòa, mỗi tòa nhận một hàng đời khác nhau.

Phép sắp đặt cốt lõi gọi là tả chiêu hữu mục. Vị khởi tổ đặt chính giữa, rồi các đời sau lần lượt xếp sang trái, sang phải, so le nhau: hàng bên trái là hàng chiêu tức hàng đời cha, hàng bên phải là hàng mục tức hàng đời con. Cùng một phép ấy áp dụng cho cả cách bố trí các tòa miếu trong Hoàng thành lẫn cách xếp án thờ bên trong một tòa. Người xưa tin rằng khi chỗ ngồi của người đã khuất được xếp đúng thứ tự thì trật tự của người sống cũng theo đó mà yên.

Vật được thờ trên án không phải tượng mà là thần chủ, tức bài vị gỗ ghi tên hiệu. Đây là điểm phân biệt căn bản giữa miếu thờ tổ theo điển chế và các nơi thờ tự có tượng như chùa hay điện thờ.

Theo sử liệu

Về số án thờ trong Thế Tổ Miếu, tư liệu ghi như sau. Ban đầu miếu có bảy án dành cho bảy vị vua, xếp theo đúng phép chiêu mục với án của vị vua mở triều đặt ở gian chính giữa. Sau năm 1954 có thêm ba án được đưa vào, nâng tổng số lên mười án thờ như quý vị thấy hôm nay. Ba vị được đặt thêm là những vị mà trước đó, vì lý do thuộc về quy định của triều đình đương thời, chưa được đưa vào miếu.

Hai bên sân miếu là Tả VuHữu Vu, nơi thờ các công thần của triều. Cách bày ấy theo đúng lối cũ: người trong họ vào chính miếu, người ngoài họ có công thì thờ ở hai dãy nhà bên, cùng một khuôn viên nhưng không cùng một hàng án.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm nhất ở đây là bốn tòa miếu bị gộp làm một. Trong Hoàng thành có Triệu Tổ Miếu thờ vị thủy tổ, Thái Tổ Miếu thờ các chúa, Hưng Tổ Miếu thờ thân sinh của vị vua mở triều, và Thế Tổ Miếu thờ các vua. Bốn tòa, bốn hàng đời, không thay nhau được.

Chỗ hay lẫn thứ hai là vị trí. Theo tư liệu, Triệu Tổ Miếu và Thái Tổ Miếu nằm ở khu phía đông nam Hoàng thành, còn Hưng Tổ Miếu và Thế Tổ Miếu nằm ở khu phía tây nam. Cách chia đông tây ấy không phải ngẫu nhiên mà chính là phép tả chiêu hữu mục đem áp dụng cho cả mặt bằng Hoàng thành. Nhiều bài giới thiệu gộp cả bốn miếu vào một địa chỉ chung, nên quý vị nào đi tìm riêng Triệu Tổ Miếu mà cứ nhắm hướng tây nam thì dễ đi nhầm.

IIHai Trăm Năm Của Một Hệ Thống Miếu

Hệ thống miếu trong Hoàng thành không dựng một lượt mà dựng làm hai đợt, cách nhau gần hai mươi năm. Đợt đầu vào năm 1804 dựng các miếu thờ lớp trên, đợt sau vào năm 1821 dựng miếu thờ lớp vua. Thứ tự ấy hợp lẽ: phải có chỗ cho tổ trước rồi mới có chỗ cho con cháu.

  • 1804Dựng Triệu Tổ Miếu và Thái Tổ Miếu
    Cùng một năm, triều đình dựng Triệu Tổ Miếu thờ vị thủy tổ và Thái Tổ Miếu thờ các chúa, đặt ở khu phía đông nam Hoàng thành. Hưng Tổ Miếu cũng thuộc lớp công trình năm này.
  • 1821Dựng Thế Tổ Miếu
    Đời Minh Mạng, Thế Tổ Miếu được dựng ở khu phía tây nam Hoàng thành. Các nguồn ghi công việc kéo dài từ năm 1821 tới năm 1823 mới xong toàn bộ khuôn viên.
  • 1821 tới 1822Dựng Hiển Lâm Các
    Tòa gác gỗ ba tầng cao mười bảy mét dựng trước sân Thế Miếu, làm nơi tỏ lòng với các bậc có công mở triều.
  • 1835 tới 1837Đúc Cửu Đỉnh
    Chín đỉnh đồng lớn được đúc theo lệnh vua Minh Mạng, khởi công tháng chạp năm 1835 và hoàn thành năm 1837, rồi đặt thành hàng trước sân Thế Miếu.
  • Sau 1954Đặt thêm ba án thờ
    Ba án thờ được đưa vào Thế Tổ Miếu, nâng số án từ bảy lên mười như hiện nay.
  • 1993Di sản thế giới
    Quần thể di tích Cố đô Huế được ghi vào danh mục di sản thế giới, trong đó có khu vực Thế Miếu và Triệu Tổ Miếu.
  • 2012Cửu Đỉnh thành bảo vật quốc gia
    Bộ chín đỉnh đồng trước sân Thế Miếu được công nhận là bảo vật quốc gia.
  • 2014 tới 2016Trùng tu Triệu Tổ Miếu
    Triệu Tổ Miếu được tu bổ trong hai năm, từ tháng sáu năm 2014 tới tháng chín năm 2016, sau một thời gian dài xuống cấp.
  • 2024Bản đúc trên Cửu Đỉnh được ghi danh
    Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng được ghi vào danh mục di sản tư liệu khu vực châu Á và Thái Bình Dương, theo bản tin ngày 8 tháng 5.

IIIMiếu, Gác Và Chín Chiếc Đỉnh

Khu Thế Miếu là một khuôn viên chữ nhật có tường bao riêng, bên trong xếp theo một trục ngắn mà chặt: cổng, sân với Cửu Đỉnh, Hiển Lâm Các, rồi tới miếu. Người bước vào phải đi qua đủ ba lớp ấy, và mỗi lớp giữ một việc khác nhau.

Thế Tổ Miếu

Tòa nhà kép làm theo lối trùng thiềm điệp ốc, tức hai nếp nhà nối liền dưới một hệ mái chồng lên nhau. Nhà chính chín gian hai chái kép, tiền doanh mười một gian hai chái đơn, tạo thành một khối dài chạy ngang cuối sân. Mười án thờ đặt trong nhà chính.

Hiển Lâm Các

Gác gỗ ba tầng cao mười bảy mét, đứng trước sân miếu. Bốn cột gỗ nguyên khối cao mười ba mét chạy suốt thân gác. Dưới triều Nguyễn có lệ không công trình nào trong Hoàng thành được dựng cao hơn tòa gác này.

Cửu Đỉnh

Chín đỉnh đồng lớn đặt thành hàng ngang trên sân, giữa Hiển Lâm Các và miếu. Mỗi đỉnh mang một tên riêng ứng với một miếu hiệu, và thân đỉnh chạm các hình sông núi cây cỏ vật sản của cả nước.

Tả Vu và Hữu Vu

Hai dãy nhà chạy dọc hai bên sân, thờ các công thần của triều. Đây là chỗ dành cho người ngoài dòng họ có công, đặt trong cùng khuôn viên nhưng tách khỏi hàng án trong chính miếu.

Triệu Tổ Miếu

Khuôn viên hình chữ nhật riêng ở khu phía đông nam, cũng làm theo lối nhà kép nhưng nhỏ hơn: chính đường ba gian hai chái, tiền đường năm gian hai chái đơn. Quy mô nhỏ hơn Thế Miếu không có nghĩa là thứ bậc thấp hơn, vì miếu này thờ đúng một cặp thủy tổ chứ không thờ nhiều án.

Một thứ dễ đi qua mà không để ý: trên các thanh liên ba, đố bản và cổ diềm của Thế Miếu có hàng trăm ô nhỏ, mỗi ô chạm một bài thơ hoặc một bức tranh. Tư liệu ghi con số 676 ô ở riêng tòa miếu này. Lối trang trí một thơ một họa xen kẽ ấy là nét riêng của kiến trúc cung đình Huế, và ở miếu thờ tổ thì các bài được chọn đều thuộc loại nói về công nghiệp và về đạo hiếu.

Theo sử liệu

Về Cửu Đỉnh, tư liệu cho biết mỗi đỉnh mang mười bảy bức chạm hình cùng một bức chạm chữ, cộng lại toàn bộ chín đỉnh là 162 bức. Nội dung chạm gồm sông lớn, núi lớn, cửa biển, cầm thú, cây cỏ, xe thuyền và binh khí, trong đó chừng chín mươi hình thuộc về động vật và thực vật của nước ta.

Tên chín đỉnh thì các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Một số nguồn xếp là Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền. Một số nguồn khác xếp là Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Tuyên, Huyền, Thuận, Dụ. Chỗ vênh nằm ở một chữ đọc thành Thuần hay Thuận và ở thứ tự ba đỉnh cuối. Thư viện ghi cả hai cách chứ không chọn bừa một cách.

Điều đáng nói hơn con số là chỗ đặt. Chín chiếc đỉnh ghi hình sông núi của cả nước được xếp ngay trước cửa miếu thờ tổ, tức là đặt một bản đồ thiêng của đất nước trước bàn thờ dòng họ. Người xưa hiểu việc ấy theo một nghĩa rất gọn: giữ nước và giữ họ là một việc, và khi con cháu vào lễ tổ thì phải đi qua hình sông núi trước đã.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên cần nói là ở đây không có một huyệt riêng cho từng tòa miếu. Cả Hoàng thành đã được đặt trên một thế đất chọn sẵn, lưng tựa về phía tây nam có núi làm tiền án ở xa, mặt quay về hướng đông nam nhìn ra dòng Hương. Các miếu chỉ nhận lấy phần đất đã chia trong cái thế lớn ấy, cho nên đọc thế đất của miếu là đọc chỗ đứng của miếu trong tổng thể chứ không phải đọc một huyệt riêng.

Thứ hai là vị trí ở hai góc phía nam. Trong một mặt bằng cung điện theo lối cổ, mặt phía nam là mặt trước, mặt hướng ra, mặt của việc lớn. Đặt các miếu thờ tổ ở hai góc của mặt ấy, hai bên trục chính, là đặt tổ tiên vào chỗ vừa che hai vai cho trục chính vừa không chắn trục chính. Theo phép cũ thì đó là thế tả phụ hữu bật, hai bên có chỗ dựa mà giữa vẫn thông.

Thứ ba là phép tả chiêu hữu mục đọc theo phương vị. Bên trái của người ngồi quay mặt về nam là phương đông, nơi mặt trời mọc, ứng với hành Mộc và với sự sinh khởi, nên xếp hàng đời trên. Bên phải là phương tây, ứng với hành Kim và với sự thu liễm, nên xếp hàng đời sau. Đem nguyên tắc ấy áp vào mặt bằng thì các miếu thờ lớp trên nằm về phía đông nam, các miếu thờ lớp sau nằm về phía tây nam, đúng như tư liệu ghi. Đây là một trong những chỗ hiếm hoi mà thứ bậc dòng họ được dịch thẳng thành phương vị trên mặt đất.

Thứ tư là thế tầng cao trong khuôn viên Thế Miếu. Sân thấp, Cửu Đỉnh thấp và nặng nằm sát mặt sân, Hiển Lâm Các vươn cao mười bảy mét ở giữa, rồi tới miếu là khối nhà dài và thấp. Nhìn theo lối phong thủy thì đó là hình đột giữa mà bình hai đầu: điểm cao đứng ở giữa sân làm chỗ tụ, còn miếu ở trong cùng thì cố ý giữ dáng thấp và trải ngang. Tòa gác cao nhất Hoàng thành lại không phải là chỗ thờ, và chỗ thờ thì nằm sau lưng nó, thấp hơn nó. Người xưa để tòa cao đứng trước như một tấm bình phong, còn nơi thờ thì lùi lại, khuất và kín. Trong cách xem đất cổ truyền, chỗ quý là chỗ kín chứ không phải chỗ phô.

VLễ Tế Hưởng Trong Năm

Lễ ở miếu thờ tổ không tính theo hội hè mà tính theo mùa. Bốn lễ lớn trong năm gọi chung là lễ hưởng, đặt vào đầu bốn mùa, chia nhau giữa các tòa miếu. Tất cả đều tính theo âm lịch.

Bốn lễ hưởng theo mùa và lệ cúng kỵ tại các miếu trong Hoàng thành. Nguồn: Tư liệu lưu trữ về lễ hưởng triều Nguyễn..
LễThời điểmNội dung
Xuân hưởngMùng 8 tháng GiêngLễ hưởng đầu năm, tư liệu ghi đặt tại Thái Miếu, mở đầu cho bốn lễ hưởng trong năm.
Hạ hưởngMùng 1 tháng TưLễ hưởng mùa hạ, tư liệu ghi đặt tại Thế Miếu.
Thu hưởngĐầu tháng mở quý mùa thuLễ hưởng mùa thu, tư liệu ghi đặt tại Thế Miếu.
Đông hưởngĐầu tháng mở quý mùa đôngLễ hưởng mùa đông, tư liệu ghi đặt tại Thái Miếu.
Lễ kỵ từng vịNgày mất của mỗi vị được thờNgoài bốn lễ hưởng, mỗi án thờ có ngày kỵ riêng, cúng theo lệ của hoàng tộc.

Nghi tiết của một lễ hưởng đi theo trình tự cố định: nghênh thần, dâng hương, đọc chúc văn, ba tuần dâng rượu gọi là tam hiến, rồi tống thần. Phần nhạc dùng nhã nhạc với trống, đàn và nhị, phần múa dùng lối bát dật xếp tám hàng. Đồ dâng tiến là hoa quả theo mùa lấy từ các vùng trong nước, mỗi thứ có định lệ riêng về số lượng.

Theo tư liệu, ban đầu nhà vua tự thân hành lễ. Từ năm 1867 thì việc chủ tế được giao cho hoàng tử, hoàng thân hoặc đại quan làm thay trong nhiều kỳ. Chi tiết ấy cho thấy một điều thường bị bỏ qua: lễ ở miếu thờ tổ là việc của dòng họ làm theo phép nước, nên người chủ tế có thể thay đổi mà nghi thức thì không đổi.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Hoàng thành Huế, phường Phú Xuân, thành phố Huế. Thế Tổ Miếu ở góc tây nam Hoàng thành, Triệu Tổ Miếu ở khu đông nam cùng khu với Thái Tổ Miếu.
Đường tới
Nằm trong Hoàng thành Huế, thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế. Khu Thế Miếu và Hiển Lâm Các ở phía tây nam Hoàng thành, còn Triệu Tổ Miếu nằm ở khu phía đông nam, nên quý vị nên đi trọn một vòng Hoàng thành mới xem được cả hai.
Toạ độ
16.4685, 107.5785
Khi tới nơi

Đây là khu di tích đang được bảo tồn và vẫn có việc dâng hương, nên lệ của nơi này cần được giữ. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong miếu, đi nhẹ nói khẽ trước các án thờ, không bước lên bậc giữa của các lối lên vì bậc ấy theo lệ cũ dành riêng cho việc tế. Không chạm tay vào thân Cửu Đỉnh và các bản chạm trên đỉnh, không tựa người vào cột gỗ của Hiển Lâm Các.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thế Miếu và Triệu Tổ Miếu

Contribute photos, information or video for The Mieu and Trieu To Mieu, Hue Imperial City

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Thế Miếu ở Huế thờ ai

Thờ các vị vua của triều Nguyễn, mỗi vị một án thờ. Ban đầu miếu có bảy án, sau năm 1954 đặt thêm ba án nữa thành mười án như hiện nay. Án của vị vua mở triều đặt ở gian chính giữa, các án còn lại xếp sang hai bên theo phép tả chiêu hữu mục.

Triệu Tổ Miếu khác Thế Tổ Miếu chỗ nào

Triệu Tổ Miếu dựng năm 1804, thờ vị thủy tổ của dòng họ cùng phu nhân, tức thờ gốc. Thế Tổ Miếu dựng năm 1821, thờ các vị vua đã cầm việc nước, tức thờ ngọn. Trong Hoàng thành còn hai tòa miếu nữa là Thái Tổ Miếu thờ các chúa và Hưng Tổ Miếu.

Cửu Đỉnh Huế đúc năm nào và có gì trên thân đỉnh

Đúc theo lệnh vua Minh Mạng, khởi công tháng chạp năm 1835 và hoàn thành năm 1837. Mỗi đỉnh có mười bảy bức chạm hình và một bức chạm chữ, toàn bộ chín đỉnh cộng lại là 162 bức, ghi sông núi cửa biển cây cỏ cầm thú của cả nước.

Hiển Lâm Các cao bao nhiêu

Cao mười bảy mét, gồm ba tầng, dựng những năm 1821 tới 1822 trước sân Thế Miếu. Bốn cột gỗ nguyên khối cao mười ba mét chạy suốt thân gác. Dưới triều Nguyễn có lệ không công trình nào trong Hoàng thành được dựng cao hơn tòa gác này.

Tả chiêu hữu mục nghĩa là gì

Là phép xếp chỗ trong miếu thờ tổ theo điển chế Nho giáo. Vị khởi tổ đặt chính giữa, các đời sau xếp so le sang trái rồi sang phải: hàng bên trái là hàng chiêu tức hàng đời cha, hàng bên phải là hàng mục tức hàng đời con. Phép này áp dụng cho cả cách đặt các tòa miếu lẫn cách xếp án thờ.

Đọc Tiếp