VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo

An Khê trường, An Khê đình, miếu Xà, Tổ đình An Khê

Vùng đất mà một cộng đồng lưu dân dựng lớp thờ tiền hiền để bám lấy, và trên lớp thờ ấy họ gài thêm ba vị mà họ không được phép gọi tên.

Số điểm di tích
17 điểm
chia thành sáu cụm, phần lớn nằm ở An Khê
Nơi còn hương khói
3 nơi
An Khê đình, An Khê trường và miếu Xà
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 93 ngày 18 tháng 1 năm 2022

Từ quốc lộ rẽ vào, quý vị tới một gò đất cao nổi lên giữa cánh đồng, bên cạnh có con suối cái chảy qua. Trên gò ấy là một nếp đình thấp, mái lợp ngói, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời, nền lát gạch. Quanh đình còn ba nếp dinh nhỏ quay về hướng nam. Đây là An Khê đình, và đây cũng là điểm còn hương khói đều nhất trong cả một quần thể trải khắp vùng đông Gia Lai.

Xin nói ngay một điều để quý vị khỏi mất công tìm. Quần thể này có mười bảy điểm di tích, nhưng phần lớn là gò, là lũy, là hòn núi và là điểm khảo cổ, tức những chỗ không có ban thờ và không có người hương khói. Nơi thờ tự đang hoạt động chỉ có ba: An Khê đình, An Khê trường và miếu Xà. Bài này viết về ba nơi ấy, các điểm còn lại chỉ được kể tên cho đủ.

Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo
Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo. Ảnh: Thuhm, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITiền Hiền, Thần Rắn Và Ba Vị Phối Thờ

Lớp thờ chính trên vùng thượng đạo này không phải thờ vua. Đó là thờ tiền hiền hậu hiền, tức thờ những người đầu tiên lên vùng cao khai hoang lập ấp và những người nối theo sau, cộng với một lớp thờ nhiên thần của đất bản địa. Ba anh em Tây Sơn có mặt trong các ban thờ ở đây, nhưng có mặt ở vị trí phối thờ, tức thờ kèm, chứ không phải vị chủ của ngôi đình.

Hiểu đúng điều này thì mới phân biệt được nơi đây với khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ở làng Kiên Mỹ bên kia đèo. Kiên Mỹ là nền nhà cũ của gia đình ba ông, nên nơi ấy là đền thờ ba anh em đúng nghĩa, có án thờ riêng cho từng người. Thượng đạo là đất khởi nghiệp, nên nơi đây trước hết là đình của lưu dân, thờ người có công mở đất, rồi mới đến lớp phối thờ.

Theo giáo nghĩa

Trong nếp thờ cúng của làng Việt, tiền hiền là người đầu tiên tới một vùng đất hoang, đứng ra khai phá và lập nên xóm ấp. Hậu hiền là những người đến sau, góp công dựng đình dựng chợ, mở đường, đắp đập. Khi ấp đã thành làng, dân lập ban thờ hai hạng người ấy trong đình, coi họ như tổ của cả làng dù không cùng huyết thống. Đây là một lối thờ tổ mở rộng, lấy công mở đất làm gốc thay cho dòng máu.

Lối thờ này mạnh nhất ở những cộng đồng vừa di cư tới chỗ lạ. Một nhóm người rời quê cũ, lên một vùng cao chưa có làng xóm gì, thì thứ đầu tiên họ dựng không phải nhà mình mà là ngôi đình chung. Dựng đình tức là tuyên bố rằng chỗ này từ nay có làng, có thần bảo hộ, có tổ để cúng. Đình thành cái mốc cắm xuống đất, và lễ cúng đình hằng năm là việc xác nhận lại cái mốc ấy.

Trong An Khê đình, các vị được ghi trên ban thờ mang những danh hiệu quen của đình làng Việt: Thành hoàng bổn xứ, Nhị vị công tử, Chúa sơn lâm, cùng ban tiền hiền hậu hiền. Ba nếp dinh nhỏ trong khuôn viên đình mới là nơi thờ ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Miếu Xà thì thuộc hẳn về lớp nhiên thần. Miếu thờ thần rắn, một lối thờ có gốc rất xưa ở cả vùng đồng bằng lẫn vùng núi, nơi con rắn được coi là vật cai quản nguồn nước và cửa rừng. Miếu dựng ngay bên con đường vượt đèo, tức ở đúng chỗ ra vào của cả vùng thượng đạo, và một ngôi miếu đặt ở cửa ngõ thì bao giờ cũng mang thêm nghĩa trấn ải.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất về nơi này nằm ngay ở cái tên. Nghe Tây Sơn Thượng Đạo, nhiều người hình dung một khu đền thờ vua, rồi tới nơi thì ngạc nhiên vì thấy một ngôi đình làng bình thường. Thực ra tên gọi ấy chỉ một vùng đất chứ không chỉ một ngôi đền, và lớp thờ tự trên vùng đất ấy vốn là lớp thờ của dân, do dân lập, thờ người của dân.

Việc ba anh em được đưa vào đình cũng theo một cách rất kín. Theo tư liệu địa phương, các dinh phụ trong khuôn viên đình để dưới danh nghĩa thờ thần dân gian, trong khi người trong làng biết mình đang cúng ai. Đây là cùng một cách làm với ngôi đình dựng trên nền nhà cũ ở Kiên Mỹ bên kia đèo. Hai nơi cách nhau một con đèo, cùng một lối ứng xử, và điều ấy nói lên nhiều về cách một vùng giữ lấy lớp thờ của mình.

IINiên Đại Và Ba Đạo Sắc Phong

Quần thể không có một năm khởi dựng chung, vì mười bảy điểm thuộc nhiều lớp khác nhau, từ điểm khảo cổ cho tới đình miếu. Riêng phần thờ tự thì mốc chắc chắn nhất là các đạo sắc phong mà An Khê trường còn giữ, vì sắc phong là văn bản có niên hiệu rõ ràng.

Theo sử liệu

Về năm dựng An Khê đình, các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Tư liệu báo chí địa phương dựa vào đạo sắc phong sớm nhất còn giữ được để suy rằng đình phải có trước năm 1880. Một số nguồn khác lại ghi đình dựng từ cuối thế kỷ 17, tức sớm hơn hẳn. Cách thứ nhất chắc chắn hơn vì bám vào văn bản, cách thứ hai dựa vào lời kể. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa một con số.

Niên đại của quần thể thì các nguồn cũng ghi khác nhau ở chỗ năm xếp hạng. Có bài ghi được công nhận di tích quốc gia đặc biệt năm 2021, có bài ghi đầu năm 2022. Bản quyết định mang số 93 ký ngày 18 tháng 1 năm 2022, cùng đợt với một số di tích khác, nên cách ghi 2022 là cách khớp với văn bản.

  • Thế kỷ 18Lưu dân người Kinh lên vùng thượng đạo
    Người Kinh từ vùng đồng bằng phía đông vượt đèo lên lập ấp trên vùng cao An Khê, sống xen với người Bahnar bản địa. Đình làng là công trình chung đầu tiên của các ấp ấy.
  • Trước năm 1880An Khê đình đã có mặt
    Suy từ đạo sắc phong sớm nhất còn giữ được. Đình còn có tên là đình An Lũy, dựng trên gò cao gần suối cái, mặt quay về hướng nam.
  • 1880Sắc phong đời Tự Đức
    Đạo sắc sớm nhất trong ba đạo còn giữ, làm bằng giấy dó khổ lớn, trang trí rồng mây. Sắc phong là chứng cứ cho thấy lớp thờ ở đây đã được triều đình thừa nhận.
  • 1909 và 1911Hai đạo sắc đời Duy Tân
    Hai đạo sắc phong tiếp theo, hiện được cất giữ tại An Khê trường và chỉ rước ra trong kỳ cúng Quý Xuân.
  • 1991Xếp hạng di tích quốc gia
    Quần thể được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia sau gần hai năm khảo sát thực địa và lập hồ sơ của một nhóm cán bộ địa phương.
  • 2020Phục hồi nhà khói ở An Khê trường
    Nếp nhà bếp lễ trong khuôn viên An Khê trường được phục hồi và dùng làm nơi trưng bày các đồ dùng bếp núc cũ của việc cúng tế.
  • 2022Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 93 ký ngày 18 tháng 1 năm 2022, gồm trọn mười bảy điểm di tích trên bốn địa bàn cũ là An Khê, Đak Pơ, Kbang và Kông Chro.

IIIMười Bảy Điểm Và Ba Nơi Còn Hương Khói

Điều cần hình dung trước tiên là quy mô trải rộng. Đây không phải một khuôn viên mà là cả một vùng, các điểm cách nhau hàng chục cây số. Hồ sơ chia mười bảy điểm thành sáu cụm, trong đó ba cụm nằm trên địa bàn An Khê.

Cụm thứ nhất gồm hòn Bình, hòn Nhạc, hòn Tào và khu gò Kho, xóm Ké. Cụm thứ hai gồm miếu Xà cùng cây Ké phất cờcây Cầy gióng trống. Cụm thứ ba gồm gò Chợ, lũy An Khê, An Khê trườngAn Khê đình. Các cụm còn lại rải sang vùng Đak Pơ, Kbang và Kông Chro cũ, trong đó có cánh đồng Cô Hầuvườn mít Cô Hầu ở vùng Kbang, gắn với người vợ Bahnar của Nguyễn Nhạc.

Phần lớn các điểm ấy là gò đất, đoạn lũy, mỏm núi và địa điểm khảo cổ. Chúng đáng kể tên cho đủ quần thể, nhưng không phải nơi thờ tự và cũng không có đồ thờ, nên bài này không viết sâu vào chúng. Ba nơi dưới đây mới là chỗ có ban thờ và có người hương khói.

An Khê đình

Quen gọi Tổ đình An Khê, còn có tên đình An Lũy. Dựng trên gò cao gần suối cái, mặt quay hướng nam. Lối tiền đường hậu tẩm, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời, nền lát gạch Bát Tràng, các cấu kiện gỗ chạm công phu. Trong khuôn viên có ba nếp dinh nhỏ thờ ba anh em Tây Sơn.

An Khê trường

Khuôn viên rộng khoảng chín nghìn mét vuông, gồm chính điện, điện thờ Tây Sơn tam kiệt, nhà tiền nhơn và nhà khói. Đây là nơi cất giữ ba đạo sắc phong của đình, nên trong kỳ cúng phải rước sắc từ đây.

Nhà khói

Nếp nhà bếp lễ trong khuôn viên An Khê trường, rộng hơn năm mươi mét vuông, một gian hai chái, mái ngói, nền gạch, có sân trước. Đây là chỗ cả làng nấu cỗ cúng, một hạng mục ít khi được giữ lại ở các đình khác.

Miếu Xà

Ngôi miếu nhỏ bên con đường vượt đèo, thuộc vùng Song An cũ. Hai trụ vuông đắp hoa sen bằng đá, thượng lương khắc bốn chữ tên vùng đất, tường đắp rồng mây, cửa gỗ, bệ thờ cao khoảng 1,2 mét. Bên cạnh có tấm bia đá cao chừng 1,5 mét.

Chỗ hay hiểu lầm

Một chỗ hay bị nhầm về kiến trúc An Khê đình: các nguồn mô tả bộ mái không giống nhau. Có bài ghi tiền đường ba gian hai chái, có bài ghi đình làm hai gian bốn mái bốn chái. Sai lệch này thường do đếm gộp hoặc đếm tách phần hậu tẩm và phần hiên, cũng có thể do đình đã qua nhiều lần tu bổ. Chúng tôi ghi cả hai cách mô tả để quý vị tới nơi tự đối chiếu.

Một điểm nữa đáng nói: các nếp dinh trong khuôn viên đình có cột kiểu nhà sàn mà lại lợp ngói theo lối người Kinh. Đó là dấu của một cộng đồng sống xen giữa hai nếp làm nhà, lấy cái tiện của bên này ghép vào cái quen của bên kia.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết là thế của cả vùng. An Khê nằm trong một lòng chảo trên cao, phía đông là con đèo dốc đứng ngăn với vùng đồng bằng ven biển, phía tây là cao nguyên mở dần ra. Đọc theo lối cũ thì đây là một huyệt trong lòng chảo, bốn bề có núi khép lại, chỉ hở ra một cửa. Đất có một cửa ra vào là đất giữ được khí, và cũng là đất mà người tới sau khó lọt vào mà người ở trong dễ trông chừng.

Thứ hai là chỗ đặt đình. An Khê đình dựng trên một gò đất cao nổi lên giữa vùng thấp, ngay cạnh một con suối cái. Trong phép xem đất, một gò nổi giữa đất bằng là chỗ mạch đất dừng lại mà kết, gọi là huyệt nổi. Có suối chảy kề bên thì gò ấy vừa được nước ôm vừa không bị ngập, tức được cả cái tụ lẫn cái an toàn. Với một cộng đồng mới lên vùng lạ, chọn gò cao cạnh nước để dựng công trình chung trước hết là chọn theo lẽ sống, và lẽ sống ấy trùng với lẽ của sách vở.

Thứ ba là hướng. Tư liệu địa phương ghi rõ đình quay mặt về phía nam, và các dinh phụ cũng quay nam. Hướng nam là hướng chuộng nhất của đình miếu người Việt, và điều đáng chú ý là một cộng đồng đã rời quê cũ lên tận vùng cao vẫn giữ nguyên quy ước hướng của quê cũ. Cái đình dựng ở đâu thì vẫn quay mặt theo lối cha ông, và đó cũng là một cách mang quê theo mình.

Sau cùng là chỗ đặt miếu Xà. Miếu không nằm trong làng mà nằm bên con đường vượt đèo, tức ở cửa ngõ của cả vùng. Theo lối đọc cổ truyền, những nơi hiểm và nơi giáp ranh thường được lập miếu nhỏ để trấn, và thần được thỉnh vào đó thường là nhiên thần của chính chỗ ấy chứ không phải nhân thần rước từ nơi khác tới. Một ngôi miếu thờ thần rắn đặt ở cửa đèo là đúng lối ấy: thờ cái đang có sẵn trên đất, ở đúng chỗ người ta thấy cần được che chở nhất.

VLễ Cúng Quý Xuân Và Các Kỳ Cúng Đình

An Khê đình và An Khê trường giữ bốn kỳ lễ lớn trong một năm, tất cả tính theo âm lịch. Miếu Xà có kỳ cúng riêng. Trọng nhất trong cả năm là lễ cúng Quý Xuân, dân quanh vùng quen gọi gọn là cúng đình.

Các kỳ lễ chính trong năm tại ba nơi thờ tự của quần thể. Nguồn: Tư liệu báo chí địa phương về nghi lễ cúng đình ở Tây Sơn Thượng đạo và về lễ cúng Quý Xuân tại Tổ đình An Khê..
Ngày âm lịchNơiNghi thức
Mùng 4 tháng GiêngAn Khê đình và An Khê trườngLễ kỷ niệm chiến thắng Đống Đa, mở đầu các kỳ lễ trong năm, có dâng hương và tế.
Mùng 10 tháng GiêngAn Khê đìnhLễ Khai sơn, tức lễ mở cửa rừng đầu năm, xin phép thần núi trước khi vào rừng làm ăn.
Mùng 9 và mùng 10 tháng HaiAn Khê đình và An Khê trườngLễ cúng Quý Xuân, kỳ lễ trọng nhất trong năm, gồm nghinh sắc, cúng tế thần, dâng hương tại nhà tiền nhân và lễ cúng chính.
20 tháng HaiMiếu XàLễ cúng thần rắn của dân trong vùng, cầu cho mùa màng và cho việc đi lại qua đèo được yên.
28 tháng BảyAn Khê đình và An Khê trườngGiỗ Hoàng đế Quang Trung, phần lễ gọn, nặng phần tế và dâng hương.
Theo sử liệu

Lễ cúng Quý Xuân diễn ra trong hai ngày và mở đầu bằng nghi thức nghinh sắc. Ba đạo sắc phong vốn cất ở An Khê trường được rước sang An Khê đình, đi có cờ biển và nhạc lễ. Nghi thức này là phần cốt lõi của cả kỳ cúng, vì nó nhắc lại rằng lớp thờ ở đây từng được thừa nhận bằng văn bản, và bản văn ấy vẫn còn trong tay làng.

Lễ vật gồm hoa quả, xôi chè và không thể thiếu một con heo nguyên sinh, tức heo đã làm sạch nhưng chưa nấu chín, đặt nguyên con trên bàn tế. Việc dâng sinh vật chưa qua lửa là nếp cũ của tế đình, khác hẳn với mâm cỗ chín của cúng gia tiên. Điều hành nghi lễ là Hương lễ cùng các vị chức sắc trong ban nhạc lễ, lần lượt dâng hương, rót rượu, dâng trà theo trình tự. Cúng xong thì cỗ được chia cho người về dự cùng hưởng lộc.

Vùng An Khê còn giữ được một hình thức riêng là hội hát cầu huê, một lối hát đối đáp của người Việt vùng này trong dịp xuân, từng mai một một thời gian dài rồi được phục dựng trong các kỳ hội đầu năm. Hát cầu huê không phải nghi thức trong đình, nhưng đi liền với mùa cúng đình và thuộc cùng một nếp sinh hoạt.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
An Khê trường và An Khê đình ở phường An Khê, các điểm còn lại rải trên vùng An Khê, Đak Pơ, Kbang và Kông Chro cũ, tỉnh Gia Lai
Đường tới
An Khê trường và An Khê đình nằm ở phường An Khê, tỉnh Gia Lai, cách nhau không xa và thường đi liền một chuyến. Miếu Xà nằm bên đường vượt đèo thuộc vùng Song An cũ. Các điểm còn lại rải trên vùng An Khê, Đak Pơ, Kbang và Kông Chro cũ, cách nhau nhiều chục cây số.
Toạ độ
13.9471, 108.6616
Khi tới nơi

An Khê đình, An Khê trường và miếu Xà đều là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong đình, đi nhẹ nói khẽ trước ban thờ, không chạm vào sắc phong, long ngai và đồ tế khí. Trong kỳ cúng Quý Xuân, xin quý vị đứng ngoài phạm vi ban tế và không đi cắt ngang giữa người tế với ban thờ. Ở miếu Xà, dân vùng này kiêng nói lớn tiếng và kiêng chỉ tay vào bệ thờ. Các điểm còn lại trong quần thể phần nhiều là gò và lũy đất, xin đi theo lối đã mở.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo

Contribute photos, information or video for Tay Son Thuong Dao Relic Complex

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tây Sơn Thượng Đạo gồm những điểm nào

Hồ sơ ghi mười bảy điểm chia sáu cụm. Ba cụm ở An Khê gồm hòn Bình, hòn Nhạc, hòn Tào và gò Kho, xóm Ké, cụm miếu Xà với cây Ké phất cờ và cây Cầy gióng trống, cụm gò Chợ, lũy An Khê, An Khê trường và An Khê đình. Các cụm còn lại rải sang vùng Đak Pơ, Kbang và Kông Chro cũ.

An Khê đình thờ ai

Lớp thờ chính là tiền hiền hậu hiền, tức những người khai hoang lập ấp trên vùng thượng đạo, cùng các danh hiệu quen của đình làng Việt như Thành hoàng bổn xứ, Nhị vị công tử, Chúa sơn lâm. Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ được phối thờ trong ba nếp dinh nhỏ ở khuôn viên đình.

Tây Sơn Thượng Đạo khác gì đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt

Khác về vai. Khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ở làng Kiên Mỹ dựng trên chính nền nhà cũ của gia đình ba ông, nên đó là đền thờ ba anh em đúng nghĩa, có án thờ riêng cho từng vị. Tây Sơn Thượng Đạo là vùng đất khởi nghiệp, lớp thờ ở đây là thờ tiền hiền của lưu dân người Kinh, ba anh em chỉ là phối thờ.

Lễ cúng Quý Xuân ở An Khê tổ chức ngày nào

Mùng chín và mùng mười tháng Hai âm lịch, tại An Khê đình và An Khê trường. Lễ mở đầu bằng nghi thức nghinh sắc, rước ba đạo sắc phong từ An Khê trường sang đình, rồi cúng tế thần, dâng hương tại nhà tiền nhân và cúng chính. Lễ vật có heo nguyên sinh đặt nguyên con trên bàn tế.

Miếu Xà ở An Khê thờ gì

Thờ thần rắn, thuộc lớp thờ nhiên thần bản địa, tức thờ một vị thần gắn với nguồn nước và cửa rừng chứ không phải thờ người. Miếu nhỏ, nằm bên con đường vượt đèo thuộc vùng Song An cũ, có hai trụ vuông đắp sen đá và một tấm bia bên cạnh. Dân trong vùng cúng vào ngày hai mươi tháng Hai âm lịch.

Đọc Tiếp