Qua khỏi nghi môn ở khu Lương Xâm, quý vị bước vào một khoảng sân rộng có tượng đài dựng giữa, rồi mới tới nếp nhà thờ chính. Trong hậu cung của nếp nhà ấy, ngoài thần tượng đặt trong cung cấm còn có tượng hai vị tướng đứng hầu, và trên các ban thờ là những tráp đựng giấy sắc. Dân vùng này không gọi nơi đây là đền, họ gọi là từ, và gọi vị được thờ là Đức Vương.
Điều đáng nhớ nhất ở đây không phải quy mô mà là một xấp giấy. Ngôi từ còn giữ hai mươi lăm đạo sắc phong niên đại trải từ năm 1522 tới năm 1924, tức gần bốn trăm năm, qua năm triều nối nhau. Ít nơi thờ nào trong nước giữ được một chuỗi liền như thế, và chính chuỗi giấy ấy là phần tư liệu quý nhất của cụm di tích này.
IĐức Vương Và Các Làng Cùng Thờ
Vị được thờ là Ngô Quyền. Vùng Lương Xâm xưa nằm sát cửa biển và là nơi ngài đặt bản doanh trong năm 938, đó là lý do dân làng lập nếp thờ tại chính mảnh đất ấy. Phần còn lại của bài xin dành cho việc thờ chứ không dành cho việc binh.
Chữ từ trong tên nơi này đáng được nói rõ, vì nó không cùng nghĩa với chữ đền hay chữ đình. Trong lối gọi cổ truyền, từ chỉ nhà thờ, thứ nhà dựng lên để thờ một người đã khuất theo nghi thức của con cháu, gần với chữ từ đường của một dòng họ. Khi cả một vùng gọi nơi thờ một vị vua là từ, ấy là vùng ấy nhận vị vua kia vào hàng tổ tiên chung của mình, chứ không chỉ coi ngài là một vị thần xa.
Gắn với chữ ấy là chữ từ cả. Trong nhóm các làng cùng thờ một vị, một ngôi được nhận là từ cả, tức ngôi đứng đầu, nơi các làng khác về lễ vọng và nơi giữ đồ nghi trượng chung. Từ Lương Xâm giữ vai ấy trong vùng đất An Dương cũ. Đây là một lối tổ chức thờ tự rất Bắc Bộ: không có giáo hội, không có phẩm trật, nhưng vẫn có thứ bậc, và thứ bậc ấy do các làng tự nhận với nhau.
Theo tư liệu địa phương, trên đất An Dương cũ có bốn nơi thờ Ngô Quyền, trong đó Từ Lương Xâm được nhận là từ cả. Các làng cùng giữ nếp thờ này gồm Lương Xâm, Xâm Bồ, Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải và Tràng Cát, ngoài ra tư liệu còn nhắc các nếp thờ ở Hạ Lũng và Hạ Đoạn. Chính vì thế hồ sơ xếp hạng dùng chữ cụm di tích chứ không dùng chữ đền, và cái được công nhận là cả một mạng lưới thờ tự chứ không phải một nếp nhà.
Trong hậu cung, ngoài thần tượng Ngô Quyền đặt tại cung cấm còn có tượng hai vị tướng là Đào Nhuận và Nguyễn Tất Tố, hai người vùng cửa biển được thờ theo hầu. Khuôn viên còn có cung thờ Thánh Mẫu và cung thờ thân phụ thân mẫu của Đức Vương. Cách bày ấy giữ đúng khung của một nhà thờ họ mở rộng: có người được thờ chính, có bậc sinh thành, có người theo hầu.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Nhiều người nghĩ nơi thờ một nhân vật lớn của cả nước thì phải do triều đình dựng lên và giao cho quan trông coi. Ở đây thì ngược lại. Theo tư liệu, nếp thờ này do dân làng lập trên đất làng mình, rồi các triều đại về sau mới lần lượt ban sắc để công nhận. Nói cách khác, nhà nước cũ không tạo ra lớp thờ này mà nhận lấy nó, và bộ sắc phong chính là dấu vết của việc nhận ấy, lặp đi lặp lại qua nhiều đời.
IIBốn Trăm Năm Sắc Phong
Niên đại khởi dựng của ngôi từ được tư liệu ghi chung là thời Hậu Lê, sau đó trùng tu vào thời Nguyễn, và dáng vẻ kiến trúc hiện nay chủ yếu thuộc lớp Nguyễn. Không có năm dựng cụ thể nào được ghi trong hồ sơ, nên mọi mốc dưới đây đều là mốc có tư liệu bảo chứng chứ không phải năm khởi dựng.
- 938Lý do có nếp thờVùng Lương Xâm sát cửa biển là nơi Ngô Quyền đặt bản doanh trong năm này, và đó là lý do dân làng về sau lập từ thờ ngài ngay trên đất ấy.
- 1522Đạo sắc sớm nhất còn giữĐạo sắc có niên đại sớm nhất trong bộ sưu tập, thuộc lớp Lê Sơ. Đây cũng là mốc sớm nhất cho biết nếp thờ đã được nhà nước cũ ghi nhận.
- Thời Hậu LêKhởi dựng ngôi từTư liệu ghi ngôi từ được dựng trong giai đoạn này, không nêu năm cụ thể.
- Thời NguyễnTrùng tu lớnNgôi từ được sửa lớn và mang dáng vẻ kiến trúc còn thấy hôm nay, gồm nghi môn, tiền tế, từ chính và các cung thờ.
- 1924Đạo sắc muộn nhất còn giữĐạo sắc có niên đại muộn nhất trong bộ sưu tập, khép lại chuỗi bốn trăm năm ban sắc cho nếp thờ này.
- 2022Lễ hội vào danh mục di sản quốc giaLễ hội truyền thống Từ Lương Xâm được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- 2025Di tích quốc gia đặc biệtCụm di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định ngày 17 tháng 1 năm 2025. Lễ đón bằng xếp hạng được tổ chức tối ngày 12 tháng 2 cùng năm, trùng dịp lễ hội truyền thống.
Bộ sắc phong đáng được nói kỹ vì đó là phần tư liệu riêng của nơi này. Theo tư liệu địa phương, cụm di tích lưu giữ hai mươi lăm đạo sắc gốc cùng hơn hai mươi đạo được sao lại, niên đại trải từ năm 1522 tới năm 1924, qua các triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn.
Điều đáng đọc nằm ở chỗ chuỗi ấy không đứt. Các triều đại kế tiếp nhau trong bốn thế kỷ ấy vốn không thừa nhận nhau, nhưng triều nào lên cũng ban sắc cho cùng một nếp thờ ở cùng một làng. Trong phép trị của nhà nước cũ, ban sắc cho một vị thần làng là việc có ý nghĩa hành chính rõ ràng: nó xác nhận làng ấy có thần chủ chính đáng, nó cho phép làng lấy ruộng lệ và thu góp để lo việc thờ, và nó buộc làng phải giữ lệ ấy cho đúng. Một nếp thờ được nhận liên tục như thế nghĩa là nó đã cắm rễ sâu tới mức triều đại nào cũng thấy tiện hơn khi nhận lấy chứ không phải khi thay đổi.
Về con số, cần nói rõ để tránh nhầm. Con số hai mươi lăm là số đạo sắc gốc. Một số bản tin gộp cả bản sao lại rồi nêu con số lớn hơn, nên khi gặp hai con số khác nhau thì quý vị nên xem chúng đang đếm thứ gì.
IIINội Công Ngoại Quốc Và Đồ Thờ
Khuôn viên rộng khoảng 36.747 mét vuông, bố cục theo lối nội công ngoại quốc. Đây là một lối bày quen của các công trình thờ tự lớn ở Bắc Bộ: lớp nhà bên trong xếp thành hình chữ công, còn tường và dãy nhà bên ngoài khép lại thành một khung vuông bao quanh. Lối ấy tạo ra hai lớp không gian, lớp ngoài để tiếp người, lớp trong để thờ.
Cổng nghi lễ mở vào một khoảng sân rộng, nơi đặt tượng đài Đức Vương Ngô Quyền. Sân này cũng là chỗ tập kết của các đoàn rước trong kỳ hội.
Năm gian, giữa đặt ban Công đồng. Trang trí gồm long đình, bộ bát bửu và các đồ thờ tự. Đây là nơi diễn ra phần lớn nghi thức dâng hương thường ngày.
Kết cấu gọn, hai mặt để song gỗ mà thợ cũ gọi là sơ, hai mặt bưng kín gọi là mật, trên các mảng bưng có chạm hình rồng. Cách làm nửa thoáng nửa kín này giúp khói hương tụ lại thay vì tản đi.
Nơi đặt tượng hai vị tướng Đào Nhuận và Nguyễn Tất Tố, còn thần tượng Ngô Quyền đặt trong cung cấm phía trong cùng. Khuôn viên còn có cung thờ Thánh Mẫu và cung thờ thân phụ thân mẫu của Đức Vương.
Hai dãy nhà chạy dọc hai bên sân trong, làm thành hai cạnh của khung ngoại quốc. Giải vũ là chỗ sửa lễ, chỗ ngồi của các giáp trong ngày hội và chỗ cất đồ nghi trượng.
Dấu tích một vòng đất cũ còn lại trong khu vực, được kể vào các hạng mục của cụm di tích. Đây là phần thuộc lớp khảo cổ chứ không phải kiến trúc thờ tự.
Về hiện vật, tư liệu địa phương cho biết cụm di tích lưu giữ khoảng 125 hiện vật và cổ vật, trong đó có một cỗ kiệu bát cống, nhang án, cùng ba chiếc cọc gỗ thuộc lớp thế kỷ 10 được giữ tại chỗ như di vật của vùng đất, kích thước lần lượt khoảng 220, 206 và 147 phân. Bộ giấy sắc được cất trong tráp và chỉ mở ra trong dịp lệ.
Chỗ hay hiểu lầm về chữ nội công ngoại quốc: nhiều người nghe chữ quốc rồi tưởng nó nói tới nhà nước hay tới quy mô cấp quốc gia. Thực ra đây là cách thợ cũ mô tả mặt bằng bằng hình dáng chữ viết, chữ công chỉ lớp nhà bên trong xếp thành hình có hai nét ngang nối bởi một nét dọc, chữ quốc chỉ khung vuông khép kín bên ngoài. Đó thuần túy là thuật ngữ về hình khối kiến trúc, không hàm ý xếp hạng gì cả.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Trước hết là thế của vùng. Lương Xâm nằm trên dải đất thấp ven cửa sông, nơi các dòng nước lớn tỏa ra biển. Đây là vùng không có núi, đất bồi, nước lên xuống theo triều, tức là loại đất mà sách địa lý cũ xếp vào hàng khó đọc. Ở những vùng như vậy, phép cũ không tìm long mạch từ núi mà tìm từ đường nước và từ những chỗ đất tự nhô lên.
Thứ hai là chỗ đặt. Ngôi từ dựng trên phần đất cao hơn mặt ruộng chung quanh, gần chỗ vốn là bến bãi cũ. Trong phép xem đất, một chỗ cao ráo giữa vùng trũng mà lại nằm cạnh đường nước lớn được coi là chỗ hội đủ hai thứ: tụ nhờ thế đất nổi, và thông nhờ có nước dẫn. Người xưa chuộng thế ấy cho cả việc ở lẫn việc thờ, và ở một vùng hay ngập thì nó còn là điều kiện để nếp nhà đứng được lâu.
Thứ ba là bố cục nội công ngoại quốc đọc theo lối phong thủy. Khung vuông khép kín bên ngoài làm thành một vòng ôm, còn lớp nhà chữ công bên trong nằm gọn trong lòng vòng ấy. Đọc theo phép cũ thì đây là hình tường vi hộ huyệt, tức lấy tường và dãy nhà thay cho thế núi ôm mà vùng này không có. Ở nơi có núi, người ta để núi làm việc ấy. Ở nơi không có núi, người ta phải dựng lấy, và cụm nhà ở đây chính là một thế núi nhân tạo.
Thứ tư là hướng và trục. Trục chính chạy từ nghi môn qua sân, qua tượng đài, rồi vào tiền đường, thiêu hương và cung cấm, tức là đi từ rộng vào hẹp, từ sáng vào tối, từ ồn vào tĩnh. Phép cũ gọi lối dẫn ấy là thu khí, đưa người và khí cùng đi theo một chiều hẹp dần cho tới chỗ sâu nhất. Ai đi hết trục này sẽ thấy nhịp chân mình tự chậm lại, và đó là hiệu quả mà người xưa nhắm tới khi đặt các lớp nhà.
Sau cùng là một điều riêng của vùng cửa biển. Ở đây, cái làm nên sự yên ổn không phải núi che gió mà là đê giữ nước và bãi giữ sóng. Người vùng này chọn đất bằng kinh nghiệm con nước chứ không bằng địa bàn, và kết quả lại trùng với điều sách vở khuyên. Trong cách nghĩ cổ truyền, sự trùng nhau ấy không phải ngẫu nhiên: sách địa lý vốn được viết ra từ chính kinh nghiệm sống của những người đi trước, nên khi kinh nghiệm và sách gặp nhau thì đó là dấu hiệu cả hai cùng đúng.
VKỳ Hội Tháng Giêng Và Lệ Rước
Kỳ hội chính mở vào tháng Giêng âm lịch, lấy ngày kỵ của Đức Vương làm ngày trọng. Về ngày mở hội thì nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng: phần lớn tư liệu chính thức ghi hội tổ chức từ ngày 16 tới ngày 18 tháng Giêng, trong khi một số tài liệu khác ghi các làng vào việc từ ngày 14. Cách hiểu hợp lý là hai ngày đầu thuộc phần sửa soạn của các giáp, còn phần lễ chính thì các nguồn thống nhất ở khoảng 16 tới 18, trong đó ngày 18 là ngày kỵ.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 16 tháng Giêng | Khai hội và tế | Các làng cùng thờ về tập kết tại từ cả, dâng hương và vào tế. Đây là ngày mở của kỳ hội. |
| Ngày 16 tới 18 tháng Giêng | Rước kiệu bát cống | Đám rước có múa lân rồng đi đầu, tiếp đến chiêng trống, cờ ngũ sắc, bộ bát bửu và chấp kích, rồi tới long đình và cỗ kiệu bát cống. |
| Trong đám rước | Lệ kiệu bay | Khi đám rước đi ngang tượng đài, đoàn khiêng kiệu nâng cao và chạy nhanh một quãng. Lệ này gọi là kiệu bay, là đoạn được người xem chờ nhất trong cả đám rước. |
| Ngày 18 tháng Giêng | Ngày kỵ Đức Vương | Ngày trọng nhất của kỳ hội, có đại tế tại từ chính. Các làng cùng thờ đều sửa lễ trong ngày này. |
| Trong những ngày hội | Trò diễn và thi của làng | Các trò dân gian và phần thi của các giáp diễn ở sân ngoài, theo lệ cũ của vùng. |
Điều đáng chú ý là kỳ hội này không phải hội của một làng mà là hội của một nhóm làng. Các làng cùng thờ đưa đoàn rước của mình về từ cả, nhập vào phần lễ chung, rồi lại tách về nếp thờ của làng mình. Trong lối thờ tự làng xã, đây là cách mà thứ bậc giữa từ cả và các nếp thờ nhỏ được nhắc lại mỗi năm một lần, bằng chân người đi chứ không bằng văn bản.
Lệ kiệu bay cũng nên được đọc theo lối ấy. Nhiều nơi ở Bắc Bộ có lệ kiệu chạy hoặc kiệu quay, và dân gian thường giải thích rằng đó là lúc thần nhập vào kiệu. Xét về mặt nghi thức, đây là đoạn mà đám rước chuyển từ nhịp đi trang nghiêm sang nhịp gấp, và chính sự chuyển nhịp ấy làm cả đám đông cùng dồn chú ý vào một chỗ. Lệ này được giữ ở đây tới nay và là nét riêng dễ nhận của hội Lương Xâm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu Lương Xâm, phường Nam Hải cũ, nay là phường Đông Hải, thành phố Hải Phòng
- Đường tới
- Nằm ở khu Lương Xâm, phường Nam Hải cũ, nay là phường Đông Hải, thành phố Hải Phòng, trên dải đất thấp ven cửa sông phía đông thành phố. Các nếp thờ cùng vị của những làng lân cận nằm rải quanh đó trong bán kính vài cây số.
- Toạ độ
- 20.8357, 106.7364
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của cả một nhóm làng, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào tượng thờ, kiệu, nhang án và các đồ thờ cũ. Cung cấm là lớp trong cùng và không phải ai cũng được vào, xin quý vị hỏi người trông coi trước. Bộ sắc phong là giấy cổ rất dễ hỏng vì ẩm và vì tay người, chỉ được mở trong dịp lệ, xin đừng nài mở ngoài dịp ấy. Những ngày giữa tháng Giêng là lúc đông nhất, đường rước đi qua nhiều lối trong khu dân cư nên xin theo hướng dẫn tại chỗ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cụm di tích Từ Lương Xâm
Contribute photos, information or video for Tu Luong Xam Relic ClusterThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Từ Lương Xâm thờ ai
Thờ Ngô Quyền, người mà dân vùng cửa biển gọi là Đức Vương. Trong hậu cung còn có tượng hai vị tướng Đào Nhuận và Nguyễn Tất Tố thờ theo hầu, cùng cung thờ Thánh Mẫu và cung thờ thân phụ thân mẫu của Đức Vương.
Vì sao gọi là từ chứ không gọi là đền
Chữ từ chỉ nhà thờ, thứ nhà dựng để thờ một người đã khuất theo nghi thức của con cháu, gần với chữ từ đường của một dòng họ. Khi cả vùng gọi nơi thờ một vị vua là từ thì đó là cách nhận vị ấy vào hàng tổ tiên chung, chứ không coi ngài là một vị thần xa.
Từ Lương Xâm có bao nhiêu đạo sắc phong
Hai mươi lăm đạo sắc gốc, niên đại từ năm 1522 tới năm 1924, trải các triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn. Ngoài ra còn hơn hai mươi đạo được sao lại. Khi gặp hai con số khác nhau trên các bản tin, xin xem chúng đang đếm sắc gốc hay đếm cả bản sao.
Lễ hội Từ Lương Xâm mở ngày nào
Phần lớn tư liệu chính thức ghi hội tổ chức từ ngày 16 tới ngày 18 tháng Giêng âm lịch, một số tài liệu khác ghi các làng vào việc từ ngày 14. Ngày 18 là ngày kỵ của Đức Vương và là ngày trọng nhất. Hội có rước kiệu bát cống cùng lệ kiệu bay khi đám rước đi ngang tượng đài.
Từ cả nghĩa là gì
Là ngôi đứng đầu trong nhóm các làng cùng thờ một vị, nơi các làng khác về lễ vọng và nơi giữ đồ nghi trượng chung. Trên đất An Dương cũ có bốn nơi thờ Ngô Quyền, và Từ Lương Xâm được các làng nhận làm từ cả.