VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Cụm di tích nhà Mạc ở Dương Kinh

Từ đường họ Mạc Cổ Trai, khu tưởng niệm các vua nhà Mạc, chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai, đền chùa Hòa Liễu

Năm điểm thờ tự trên đất kinh đô thứ hai của nhà Mạc, nơi lối thờ tổ của một dòng họ đứng cạnh ba ngôi chùa do chính dòng họ ấy hưng công.

Số điểm trong cụm
5
trong đó ba điểm là chùa thờ Phật
Lập Dương Kinh
1527
kinh đô thứ hai đặt trên đất quê gốc
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 152 ngày 17 tháng 1 năm 2025

Đứng giữa làng Cổ Trai, quý vị thấy hai nếp nhà thuộc hai đời khác nhau đứng gần nhau. Một là nếp từ đường ba gian gỗ lim, nhỏ và cũ, mái thấp, đúng dáng nhà thờ họ của một làng quê ven biển. Hai là một khu tưởng niệm rộng có nghi môn, cầu đá và tòa chính điện lớn. Cùng thờ một dòng họ, nhưng một bên là cách con cháu lo việc nhà, một bên là cách hậu thế dựng lại một triều đại.

Cụm di tích này gồm năm điểm, và điều cần nói ngay là ba trong năm điểm ấy là chùa thờ Phật: chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai và cụm đền chùa Hòa Liễu. Hai điểm còn lại là từ đường họ Mạc và khu tưởng niệm các vua nhà Mạc. Vì thế đây là một cụm trộn hai lớp thờ khác hẳn nhau, và đọc lẫn hai lớp ấy thì sẽ hiểu sai cả hai.

IHai Lớp Thờ Trên Cùng Một Vùng Đất

Lớp thứ nhất là thờ cúng tổ tiên của một dòng họ. Đây là lối thờ của từ đường và của khu tưởng niệm, nơi đối tượng được thờ là người trong họ, nghi thức là nghi thức giỗ chạp, và người lo việc là con cháu cùng chính quyền địa phương.

Lớp thứ hai là thờ Phật. Đây là lối thờ của ba ngôi chùa, nơi chính điện đặt tượng Phật theo khuôn của Phật Giáo Bắc Tông, và người trong hoàng tộc Mạc không đứng ở vị trí được thờ chính mà đứng ở vị trí người hưng công, tức người bỏ tiền và công sức dựng chùa.

Theo giáo nghĩa

Chỗ khác nhau giữa được thờđược hưng công là chỗ then chốt của cả cụm này, xin nói cho rõ.

Trong một ngôi chùa Bắc Tông, ban chính là ban Tam Bảo, và người thế tục dù quyền quý tới đâu cũng không được đặt lên ban ấy. Người có công lớn với chùa thì được nhà chùa tạc tượng hoặc khắc bia rồi thờ ở một ban riêng, thường gọi là ban hậu hay lệ gửi hậu. Đó là cách nhà chùa ghi ơn: người ấy được nhận phần hương khói của chùa sau khi mất, nhưng vẫn ở ngoài hàng Phật và Bồ Tát.

Vì thế, khi tư liệu nói chùa Trà Phương còn tượng và bia do người trong hoàng tộc Mạc cúng tiến, điều đó không có nghĩa ngôi chùa ấy thờ nhà Mạc. Nó nghĩa là nhà Mạc đã dựng chùa, và nhà chùa giữ lại dấu tích của việc dựng ấy theo đúng phép của mình. Còn nơi thật sự thờ các vua nhà Mạc là từ đường và khu tưởng niệm, hai điểm còn lại của cụm.

Theo sử liệu

Xin ghi lại phần việc của từng điểm theo hồ sơ di tích.

Từ đường họ Mạc ở Cổ Trai thờ tiên tổ dòng họ, dựng năm 1905, ba gian gỗ lim mang phong cách thời Nguyễn, diện tích nếp nhà gốc chỉ khoảng 30 mét vuông, nay nằm trong khuôn viên rộng khoảng 14.000 mét vuông cùng nhiều công trình dựng thêm. Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc thờ các vị vua của triều đại này. Chùa Trà Phương có tên chữ là Thiên Phúc, thuộc lớp chùa cổ được trùng tu lớn dưới thời Mạc. Chùa Nhân Trai có tòa tam bảo làm theo mặt bằng hình chữ đinh, khuôn viên rộng khoảng 9.944 mét vuông. Đền chùa Hòa Liễu gồm phần đền thờ Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn và phần chùa, còn giữ bia đá dựng năm 1561, tượng bà và cây cột đá cổ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất là tưởng cả năm điểm đều là nơi thờ các vua nhà Mạc, vì tên gọi chung của cụm dễ khiến người ta nghĩ như thế. Thực tế thì ba trên năm điểm là chùa thờ Phật, có tăng ni, có lịch tu học và có lệ lễ riêng của nhà chùa, không phụ thuộc vào việc giỗ chạp của dòng họ.

Một chỗ hay hiểu lầm nữa là về Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn ở Hòa Liễu. Bà được thờ tại phần đền chứ không phải tại chính điện chùa, và việc bà được dân thờ là vì công hưng công chùa cùng công lập lệ cho làng, chứ không phải vì ngôi vị trong triều. Nói cách khác, cái được dân nhớ là việc bà làm cho làng, không phải chức phận bà mang.

IITừ Kinh Đô Thứ Hai Đến Cụm Di Tích

Điều làm nên cái riêng của vùng đất này là chuyện một dòng họ lên ngôi rồi đưa kinh đô về đúng quê gốc của mình. Dương Kinh được lập năm 1527 và giữ vai kinh đô thứ hai bên cạnh kinh thành cũ. Khi một vùng quê chài lưới bỗng thành đất kinh, thì chùa chiền và đền miếu ở đó cũng được sửa sang theo, và lớp công trình thế kỷ 16 trong cụm này chính là dấu vết của đợt sửa sang ấy.

  • 1527Lập Dương Kinh
    Kinh đô thứ hai của nhà Mạc được lập trên đất Cổ Trai và vùng chung quanh, tức chính quê gốc của dòng họ.
  • Thế kỷ 16Đợt hưng công lớn của hoàng tộc
    Các ngôi chùa trong vùng được trùng tu và mở mang nhờ công đức của người trong hoàng tộc, trong đó Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn là người đứng tên hưng công ở nhiều nơi.
  • 1561Bia đá ở Hòa Liễu
    Tấm bia dựng dưới đời Mạc Phúc Nguyên, niên hiệu Quang Bảo, hiện còn tại đền chùa Hòa Liễu. Đây là một trong những hiện vật có niên đại chắc chắn nhất của cụm.
  • Sau khi triều đại kết thúcCon cháu đổi họ để giữ dòng
    Theo gia phả các chi họ, con cháu phải đổi sang những họ khác và tản đi nhiều vùng. Việc trở lại họ gốc và nối lại nếp thờ tổ diễn ra dần dần qua nhiều thế kỷ sau đó.
  • 1905Dựng từ đường họ Mạc
    Nếp từ đường ba gian gỗ lim ở Cổ Trai được dựng, mang phong cách thời Nguyễn. Đây là mốc đánh dấu việc nếp thờ tổ được công khai trở lại tại chính đất gốc.
  • 1993Đền chùa Hòa Liễu thành di tích quốc gia
    Cụm đền chùa Hòa Liễu được xếp hạng di tích cấp quốc gia, trước khi cả cụm nhà Mạc được xếp hạng đặc biệt nhiều năm sau.
  • 2003Khôi phục hội Minh Thề
    Lệ thề cổ ở Hòa Liễu được khôi phục sau một thời gian dài gián đoạn. Bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho hội này được trao vào đầu năm 2018.
  • 2025Di tích quốc gia đặc biệt
    Cả cụm năm điểm được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 152 ngày 17 tháng 1 năm 2025.
Theo sử liệu

Về niên đại khởi dựng của ba ngôi chùa, các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản ghi chùa Trà Phương thuộc niên đại thời Mạc, trong khi nhiều bài viết phổ thông ghi chùa khởi dựng từ thời Lý rồi được trùng tu lớn vào thế kỷ 16. Chùa Nhân Trai cũng được một số nguồn ghi là chùa cổ thời Lý. Hai cách ghi không hẳn mâu thuẫn: một bên ghi lớp niên đại của phần kiến trúc và hiện vật còn lại, một bên ghi truyền thống về năm khởi dựng. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa một mốc.

Về Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, tư liệu cho biết bà là chính thất của Mạc Thái Tổ, quê ở chính làng Trà Phương. Việc một người đàn bà đứng tên hưng công nhiều ngôi chùa trong cùng một vùng là điều được ghi lại khá rõ qua bia đá, và đây là một trong những trường hợp hiếm mà tư liệu bia ký cho phép dựng lại vai trò của nữ giới hoàng tộc trong đời sống tôn giáo của một thời.

IIINăm Điểm Trên Một Vùng Đất

Năm điểm nằm rải trên vùng đất Dương Kinh cũ, cách nhau vài cây số, mỗi điểm một quy mô và một lớp niên đại. Không có một khuôn viên chung, nên phải tính đi làm nhiều chặng.

Từ đường họ Mạc

Ở làng Cổ Trai. Nếp nhà gốc ba gian, bốn bộ vì bằng gỗ lim, mặt bằng theo lối chữ nhất, phong cách thời Nguyễn, diện tích khoảng 30 mét vuông. Trong từ đường còn giữ đồ gốm, đồ sứ, đồ gỗ và bia ký liên quan tới việc thờ cúng các vua nhà Mạc.

Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc

Cũng ở Cổ Trai, quy hoạch trên diện tích lớn và hiện đã hoàn thành phần đầu. Các hạng mục gồm nghi môn ngoại, cầu đá, hồ nước, nghi môn nội, nhà văn bia, nhà giải vũ và nhà chính điện. Chính điện rộng khoảng 586 mét vuông, mặt bằng hình chữ công, đỡ bởi một trăm cây cột gỗ lim. Tường bao đắp vẽ nhiều bức tranh kể lại lịch sử triều đại.

Chùa Trà Phương

Tên chữ là Thiên Phúc. Ngôi chùa giữ hai hiện vật đã được công nhận bảo vật quốc gia vào cuối năm 2020, gồm pho tượng Mạc Thái Tổ và bức phù điêu tạc Thái hoàng thái hậu, cả hai bằng đá và thuộc thế kỷ 16.

Chùa Nhân Trai

Ngôi chùa cổ ở thôn Nhân Trai, khuôn viên rộng khoảng 9.944 mét vuông, tòa tam bảo làm theo mặt bằng hình chữ đinh. Công trình đại hùng bảo điện được khởi công dựng lại vào năm 2019.

Đền chùa Hòa Liễu

Gồm phần đền và phần chùa đứng cạnh nhau. Hiện vật đáng kể có tấm bia đá dựng năm 1561, pho tượng Thái hoàng thái hậu và một cột đá cổ mà tư liệu gọi là thạch trụ. Đây cũng là nơi giữ lệ Minh Thề.

Nói tới cụm này thì phải nói tới điêu khắc đá thời Mạc, vì đó là thứ làm nên giá trị nghệ thuật riêng của vùng. Tượng và phù điêu ở chùa Trà Phương tạc người thật đang ngồi trong tư thế lễ, nét mặt hiền và gần, y phục chạm kỹ nhưng không rườm. So với tượng thờ các thời khác, lớp tượng thời Mạc thường được các nhà nghiên cứu nhận xét là mộc và ấm, ít vẻ uy nghi ước lệ mà nhiều vẻ người thật. Đá là vật liệu bền, nên qua bốn thế kỷ rưỡi các pho ấy vẫn còn đọc được nét, trong khi phần gỗ của cùng thời gần như không còn gì.

Tại khu tưởng niệm còn giữ thanh đao lớn mà tư liệu gọi là Định Nam đao, dài khoảng 2,55 mét và nặng khoảng 25,6 cân, cũng đã được công nhận bảo vật quốc gia vào năm 2020. Đây là hiện vật của dòng họ được đưa về thờ tại khu tưởng niệm.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải. Với một vùng từng được chọn làm đất kinh thì phần này đáng đọc kỹ, bởi người xưa chọn đất dựng đô cẩn trọng không kém chọn đất táng.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên phải nói là chỗ này không được chọn theo phép tìm huyệt theo nghĩa thông thường. Dương Kinh được đặt ở đây vì đây là quê gốc của dòng họ đang cầm quyền, giống như cách nhà Trần đặt hành cung trên đất Tức Mặc. Khi đọc thế đất ở đây, ta đọc thế đất của một làng chài ven biển được nâng lên thành đất kinh, chứ không đọc một cuộc đất do thầy địa lý tìm ra rồi mới dựng nhà lên.

Thứ hai, và đây là chỗ riêng nhất của vùng này: Dương Kinh là một kinh đô quay mặt ra biển. Các đô thành lớn trong lịch sử nước ta phần nhiều nằm sâu trong đất liền, dựa núi và men sông, lấy núi làm hậu chẩm. Ở đây thì phía trước là cửa biển, phía sau là đồng bằng. Theo phép cũ, thế ấy đổi hẳn cách đọc: minh đường không còn là một khoảnh ruộng hay một cái hồ mà là cả mặt biển, thứ minh đường rộng nhất có thể có, nhưng cũng là thứ không có bờ để giữ. Sách địa lý chuộng minh đường rộng mà có án sơn chắn, ở đây thì rộng mà không có án, nên cái được là khí thoáng và đường ra vào mở, cái mất là khí khó tụ.

Thứ ba là vai trò của các nếp thờ trong thế đất ấy. Ở một vùng thiếu chỗ tụ, người xưa dựng lấy chỗ tụ bằng công trình. Ba ngôi chùa và hai nơi thờ tổ rải trên vùng này, mỗi nơi chiếm một gò cao hoặc một khoảnh đất tốt, làm thành những điểm neo trên một mặt bằng vốn phẳng và trống. Đọc theo lối cũ thì đó là cách lấy nhân lực bổ cho địa lực, và việc hoàng tộc bỏ tiền hưng công nhiều chùa trong cùng một vùng có thể đọc cả theo nghĩa tín ngưỡng lẫn theo nghĩa giữ đất.

Thứ tư là hướng. Từ đường và khu tưởng niệm ở Cổ Trai theo lối chuộng hướng nam và các hướng lệch nam quen thuộc của nhà thờ họ Bắc Bộ, lấy sân trước làm chỗ tụ người trong ngày giỗ. Các ngôi chùa thì theo phép riêng của nhà chùa, chính điện quay ra chỗ thoáng để người lễ có đủ khoảng lùi, và trục đi từ tam quan qua sân vào tam bảo là trục hẹp dần theo lối thu khí.

Sau cùng, xin nói một điều về cách đọc. Đất Dương Kinh thường được người đời sau đọc kèm với cái kết của triều đại đã dựng nên nó, và từ đó sinh ra những lời bàn về đất tốt đất xấu. Thư viện không đi theo lối ấy. Trong phép xem đất cổ truyền, một cuộc đất chỉ nói được điều kiện sống của người ở trên nó, còn việc thịnh suy của một dòng họ thì có quá nhiều nguyên do nằm ngoài tầm của địa lý. Cái đáng đọc ở đây là một lựa chọn hiếm: đặt kinh đô quay mặt ra biển, vào thời mà phần lớn người cùng thời vẫn quay lưng lại với nó.

VLệ Minh Thề Và Các Ngày Lễ

Lịch lễ của cụm này chia theo hai lớp thờ. Lớp dòng họ lấy ngày giỗ tổ làm ngày trọng. Lớp nhà chùa theo lệ chung của chùa Bắc Tông, cộng thêm kỳ hội riêng của từng làng. Nổi hơn cả là hội Minh Thề ở Hòa Liễu, một lệ thề mà cả nước không có nơi thứ hai giữ được đủ như vậy.

Các kỳ lễ chính trong năm của cụm di tích. Nguồn: Tư liệu địa phương về đền chùa Hòa Liễu, bản tin về hội Minh Thề và hồ sơ di tích..
Ngày âm lịchNơiNội dung
Ngày 14 tháng GiêngĐền chùa Hòa LiễuLệ Minh Thề. Buổi sáng, trước ban thờ, chủ lễ và các bậc chức sắc cùng dân làng đọc lời thề giữ lòng công tâm, không lấy của công làm của riêng, không cậy thế hiếp người, không che tội cho kẻ có lỗi.
Ngày 14 tới 16 tháng GiêngĐền chùa Hòa LiễuKỳ hội làng, trong đó lệ thề là phần trọng nhất. Tư liệu cho biết lệ này xưa vốn làm vào ngày 24 tháng Chạp, về sau mới chuyển sang giữa tháng Giêng.
Trong lệ Minh ThềĐài thề ở sân đềnChủ lễ cắm dao vào vòng tròn vạch trên sân gọi là đài thề, rồi hòa huyết gà trống vào rượu để mọi người cùng uống, lấy đó làm dấu cho lời đã hứa.
Rằm tháng Giêng và rằm tháng BảyBa ngôi chùa trong cụmLễ Thượng nguyên và lễ Vu Lan theo lệ chung của chùa Bắc Tông, không phải hội riêng của cụm di tích.
Tháng TámTừ đường và khu tưởng niệmNgày giỗ Mạc Thái Tổ theo tư liệu của dòng họ, có tế và dâng hương của con cháu các chi phái về từ nhiều vùng.

Hội Minh Thề đáng được nói riêng. Theo tư liệu, lệ này được lập từ giữa thế kỷ 16, gắn với việc Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn cùng dân làng lập ra quỹ ruộng chung để lo việc chùa và giúp người nghèo. Có của chung thì phải có cách giữ của chung, và cách người xưa nghĩ ra là bắt người cầm việc phải thề trước thần linh mỗi năm một lần.

Điều làm lệ này khác các lệ thề khác là nội dung của nó. Phần lớn lời thề trong các đình làng là thề giữ lệ làng và thề trung với thần chủ, còn lời thề ở đây nhắm thẳng vào việc dùng của công, với cốt lõi là ý không lấy của chung làm của riêng. Lệ bị gián đoạn một thời gian dài và được khôi phục từ năm 2003, sau đó được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, bằng công nhận được trao vào đầu năm 2018.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Từ đường họ Mạc và khu tưởng niệm ở làng Cổ Trai, chùa Trà Phương và chùa Nhân Trai cùng thuộc xã Kiến Hưng, đền chùa Hòa Liễu thuộc xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
Đường tới
Từ đường họ Mạc và khu tưởng niệm ở làng Cổ Trai, chùa Trà Phương và chùa Nhân Trai cùng thuộc xã Kiến Hưng, đền chùa Hòa Liễu thuộc xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Các điểm cách nhau vài cây số trên vùng đất Dương Kinh cũ, nên phải tính đi làm nhiều chặng.
Toạ độ
20.7225, 106.6777
Khi tới nơi

Năm điểm trong cụm đều là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung và trong tam bảo, đặt tiền vào hòm công đức. Ba điểm là chùa nên xin quý vị theo lệ nhà chùa, chắp tay xá khi qua tam bảo và hỏi trước khi muốn thắp hương ở các ban. Các pho tượng đá và tấm bia cổ rất dễ mòn vì tay người xoa, xin đừng chạm vào. Ngày lệ Minh Thề ở Hòa Liễu là lúc đông người nhất, phần thề diễn ra ngoài sân nên xin đứng ngoài vòng đài thề và không bước vào khu hành lễ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cụm di tích nhà Mạc ở Dương Kinh

Contribute photos, information or video for Mac Dynasty Relic Cluster at Duong Kinh

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Cụm di tích nhà Mạc ở Dương Kinh gồm những gì

Năm điểm: từ đường họ Mạc ở Cổ Trai, khu tưởng niệm các vua nhà Mạc, chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai và cụm đền chùa Hòa Liễu. Ba trong năm điểm ấy là chùa thờ Phật, hai điểm còn lại là nơi thờ tổ của dòng họ.

Các ngôi chùa trong cụm có thờ vua nhà Mạc không

Không. Chính điện của các chùa đặt tượng Phật theo khuôn Phật Giáo Bắc Tông. Người trong hoàng tộc Mạc là người hưng công dựng chùa, và nhà chùa ghi ơn bằng cách tạc tượng hoặc khắc bia thờ ở ban riêng theo lệ gửi hậu, một vị trí khác hẳn với được thờ chính.

Hội Minh Thề ở Hòa Liễu là gì

Là lệ thề của làng, tổ chức ngày 14 tháng Giêng âm lịch, trong đó chủ lễ và dân làng đọc lời thề giữ lòng công tâm và không lấy của công làm của riêng. Chủ lễ cắm dao vào vòng tròn gọi là đài thề rồi hòa huyết gà trống vào rượu cùng uống. Lệ được khôi phục từ năm 2003.

Chùa Trà Phương có gì đáng xem

Chùa có tên chữ là Thiên Phúc, giữ hai hiện vật đã được công nhận bảo vật quốc gia vào cuối năm 2020, gồm pho tượng Mạc Thái Tổ và bức phù điêu tạc Thái hoàng thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, cả hai bằng đá thuộc thế kỷ 16 và là ví dụ tiêu biểu của điêu khắc thời Mạc.

Dương Kinh là gì

Là kinh đô thứ hai của nhà Mạc, lập năm 1527 trên chính đất quê gốc của dòng họ ở vùng ven biển. Đây là một trong số ít trường hợp trong lịch sử nước ta mà một kinh đô được đặt quay mặt ra biển thay vì nằm sâu trong đất liền dựa núi men sông.

Đọc Tiếp