VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Hai Bà Trưng (Đồng Nhân)

Đền Đồng Nhân, chùa Viên Minh, đình Đồng Nhân

Ngôi đền thờ Hai Bà của chính kinh đô, lập theo một tích tượng nổi trên sông, và là nơi duy nhất mỗi năm rước nước sông Hồng về tắm tượng.

Lập đền
1142
theo tích tượng dạt vào bãi Đồng Nhân
Dời về chỗ nay
1819
khu Cựu Võ Sở của triều Lê
Khuôn viên
khoảng 4.000 m2
gồm đền, chùa và đình

Quý vị rẽ từ phố Lò Đúc vào một con phố nhỏ, đi chừng trăm mét thì gặp một khoảng sân lát gạch rộng bất ngờ giữa những dãy nhà ống. Trước cửa nếp nhà chính có hai con voi đặt chầu hai bên, làm bằng gỗ, sơn thếp, không phải voi đá kiểu lăng tẩm. Bậc thềm lên tiền tế chạm rồng, mặt đá còn nhẵn vì chân người.

Trong khuôn viên ấy đứng liền nhau ba nếp thờ: đền thờ Hai Bà Trưng, chùa Viên Minhđình Đồng Nhân. Đây là ngôi đền thờ Hai Bà của chính kinh đô, không nằm trên đất quê nhà cũng không nằm ở nơi gắn với ngày cuối, mà lập theo một tích riêng: tích hai pho tượng đá nổi trên sông Hồng rồi dạt vào bãi Đồng Nhân.

IĐền Của Kinh Đô Và Tích Tượng Nổi Trên Sông

Đền thờ Hai Bà Trưng, tức Trưng Trắc và Trưng Nhị. Lý do có đền thì cả nước đều biết và không cần kể lại ở đây: hai bà là người đứng đầu cuộc khởi nghĩa năm 40, và từ rất sớm đã được dân thờ như thần. Điều đáng viết ở trang này không phải chuyện ấy, mà là cách thờ của riêng cửa đền Đồng Nhân, vốn khác hẳn hai cửa đền lớn kia.

Theo sử liệu

Theo thần tích được chép lại và được nhắc trong hồ sơ di tích, vào năm 1142 đời Lý Anh Tông, có hai pho tượng đá theo dòng sông Hồng trôi tới bãi Đồng Nhân, ban đêm tỏa sáng. Dân bãi lấy vải đỏ ra đón, rước tượng lên bờ, rồi vua cho lập đền thờ ngay tại chỗ.

Lớp tích ấy thuộc dạng vật thiêng trôi dạt, một mô típ quen trong tín ngưỡng ven sông ven biển của người Việt: cái được thờ không do người mang tới mà tự đến, và chính việc tự đến làm nên tính thiêng. Ở đây mô típ ấy ghép vào một đối tượng thờ đã có sẵn tầm vóc quốc gia, thành ra một cửa đền vừa mang dáng đền làng ven sông, vừa mang vị thế của đền vua lập.

Ba cửa đền, ba lý do

Thư viện có ba trang riêng cho ba cửa đền lớn thờ Hai Bà, vì ba nơi giữ ba vai khác nhau chứ không lặp lại nhau. Đền Hát Môn là nơi gắn với ngày cuối, có đàn Thề và cả một nếp thờ lấy màu đen làm chủ. Đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh là đền trên chính đất quê nhà, thờ hai bà trong vai vua, khu nội vi dựng như một sơ đồ triều đình. Hai nơi ấy có trang riêng, quý vị xem ở đó.

Còn Đồng Nhânđền của kinh đô. Nó không đứng trên đất gắn với đời hai bà mà đứng giữa phố phường Thăng Long, được lập bởi lệnh của vua đang trị vì, và mang dáng thờ của một phường thị chứ không phải của một làng nông. Chính vì vậy nó có những thứ hai nơi kia không có: một khuôn viên chật mà đủ ba nếp thờ, một tục rước nước sông Hồng, và một lịch hội tính theo tháng Hai chứ không theo tháng Giêng hay tháng Ba.

Hai nếp thờ còn lại trong khuôn viên có đối tượng riêng. Chùa Viên Minh thờ Phật theo lối Bắc tông và có cả ban thờ Mẫu, tức lối chùa phố kiêm cả phần tín ngưỡng dân gian, rất quen ở Hà Nội. Đình Đồng Nhân thờ thành hoàng của làng Đồng Nhân, giữ phần việc làng, tức phần đời thường của một cộng đồng cư dân. Ba nếp đứng cạnh nhau nhưng không nhập ban, không nhập lễ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm ở cửa đền này là tưởng đền đã đứng tại số nhà hiện nay từ năm 1142. Không phải. Nơi lập đền ban đầu là bãi Đồng Nhân ven sông Hồng, cách chỗ đứng bây giờ một quãng. Mãi tới năm 1819, khi bãi bị nước lở, đền mới được dời vào trong, đặt trên khu Cựu Võ Sở của triều Lê ở thôn Hương Viên. Làng Đồng Nhân cũng dời theo, và mang cả tên làng vào chỗ mới.

Vì vậy khi đọc niên đại của nơi này, xin quý vị tách làm hai lớp: 1142 là năm lập việc thờ, còn kiến trúc đang đứng thuộc lớp thế kỷ 19 trở đi, dựng trên một nền đất vốn có chức năng khác hẳn. Một chỗ nữa cũng hay nhầm: tên gọi dân gian đền Đồng Nhân là tên của cửa đền này, không phải tên chung cho mọi nơi thờ Hai Bà ở Hà Nội.

IIHai Lần Dời Và Một Lần Đổi Nền

Lịch sử của cửa đền này là lịch sử của việc dời chỗ. Một ngôi đền lập ở bãi bồi ven sông thì sớm muộn cũng phải chạy nước, và đó chính là điều đã xảy ra. Điều đáng ghi là việc thờ không đứt: đền chuyển đi, dân chuyển theo, tên làng mang theo, lệ lễ mang theo.

  • 1142Lập đền ở bãi Đồng Nhân
    Đời Lý Anh Tông. Theo thần tích, hai pho tượng đá dạt vào bãi sông, vua cho lập đền thờ tại chỗ.
  • 1819Dời đền vào thôn Hương Viên
    Bãi sông bị lở, đền được dời vào khu Cựu Võ Sở của triều Lê ở thôn Hương Viên, tức chỗ đứng hiện nay. Làng Đồng Nhân dời theo và giữ nguyên tên làng.
  • 1840Dựng bia ghi sự tích
    Tấm bia đá chép sự tích Hai Bà được soạn vào năm này, nay còn trong khuôn viên đền.
  • Thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20Định hình bố cục hiện nay
    Các lớp nhà gồm tiền tế, thiêu hương và hậu cung cùng hệ đồ thờ sơn son thếp vàng phần lớn thuộc lớp niên đại này.
  • 1914Làng nhập vào địa hạt Hà Nội
    Làng Đồng Nhân được nhập vào địa hạt thành phố Hà Nội, từ đó cụm di tích nằm hẳn trong nội thành.
  • 1962Xếp hạng di tích quốc gia
    Đền Đồng Nhân được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2019Di tích quốc gia đặc biệt
    Cụm di tích đền, chùa, đình Hai Bà Trưng được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019. Lễ đón bằng tổ chức năm 2020, nên một số bản tin ghi năm xếp hạng là 2020.
  • 2024Lễ hội vào danh mục di sản phi vật thể
    Lễ hội đền Hai Bà Trưng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo sử liệu

Xin ghi thẳng hai chỗ nguồn vênh. Thứ nhất là năm xếp hạng quốc gia đặc biệt: quyết định mang ngày cuối năm 2019, nhưng lễ đón bằng diễn ra năm 2020, nên tài liệu ghi hai con số khác nhau tùy theo lấy ngày ký hay ngày trao. Chúng tôi ghi cả hai.

Thứ hai là hình thức của vật được rước lên từ sông. Phần lớn tư liệu ghi là hai pho tượng đá, một số bản chép lại ghi là hai phiến đá trắng hoặc hai khối đá phát sáng chứ chưa thành hình tượng. Đây là chỗ khác nhau giữa các bản thần tích chứ không phải giữa các con số, và chúng tôi ghi lại nguyên như vậy.

IIIBa Nếp Thờ Trong Một Khuôn Viên Phố

Khuôn viên rộng khoảng 4.000 mét vuông, bố cục theo kiểu nội công ngoại quốc, tức các lớp nhà trong xếp thành hình chữ Công, bên ngoài có hành lang và tường bao khép kín thành khung vuông. Đây là lối bố cục quen của đền chùa lớn Bắc Bộ, nhưng đặt giữa phố thì nó có thêm một công dụng: bức tường bao cắt hẳn tiếng phố ra ngoài.

Đền Hai Bà Trưng

Nếp chính của cụm, gồm tiền tế, nhà thiêu hương và hậu cung. Tiền tế bảy gian, bậc thềm chạm rồng đá, phía trước có phù điêu đá tạc hình Hai Bà cưỡi voi. Nhà thiêu hương làm hai tầng mái, trang trí dày.

Hậu cung và hệ tượng

Lớp trong cùng đặt tượng Hai Bà cùng tượng các nữ tướng theo hầu, tài liệu ghi sáu vị. Không gian hẹp và tối hơn hai lớp ngoài, theo đúng lối đặt hậu cung của đền miếu Bắc Bộ.

Đôi voi thờ

Hai con voi đặt chầu trước cửa, làm bằng gỗ sơn thếp chứ không phải đá. Đây là đồ thờ gắn với hình tượng quen thuộc của Hai Bà, và là chi tiết khiến người ta nhận ra cửa đền này ngay từ ngoài sân.

Chùa Viên Minh

Nếp thờ Phật theo lối Bắc tông, có cả ban thờ Mẫu. Đây là kiểu chùa phố kiêm phần tín ngưỡng dân gian, rất quen trong nội thành Hà Nội.

Đình Đồng Nhân

Nếp thờ thành hoàng của làng Đồng Nhân, giữ phần việc làng. Sự có mặt của ngôi đình trong cùng khuôn viên cho thấy cả một cộng đồng cư dân đã dời theo đền năm 1819.

Bia đá và đồ thờ

Trong khuôn viên còn tấm bia soạn năm 1840 chép sự tích, cùng nhiều hoành phi, câu đối, long ngai, kiệu và đồ thờ sơn son thếp vàng thuộc lớp thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Một điểm đáng để ý: khuôn viên này vốn là Cựu Võ Sở của triều Lê, tức một khu đất công có chức năng hành chính chứ không phải đất thờ tự. Việc một nền đất đổi hẳn công năng như vậy để lại dấu trong mặt bằng: sân trước rộng khác thường so với các đền phố khác, và khối nhà đặt khá lùi vào trong. Đọc mặt bằng thì thấy cái nền cũ vẫn còn nói, dù nhà trên nó đã thay hẳn.

Về tên chữ Hán ghi ở đầu trang, chúng tôi ghi ba chữ đọc theo tên gọi dân gian của cửa đền, đây là chữ suy ra chứ không phải chép từ hoành phi. Nếu quý vị đọc được chữ trên hiện vật, xin lấy chữ trên hiện vật làm chuẩn.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Cửa đền này có một chỗ hiếm để đọc: nó đã đổi đất một lần, nên có thể so hai mảnh đất với nhau. Chỗ cũ là bãi bồi sát mép sông Hồng. Chỗ mới lùi sâu vào trong phố. Hai mảnh ấy đại diện cho hai lối chọn đất khác hẳn nhau.

Xét theo phép cũ thì bãi bồi ven sông là đất động. Nước bồi thì đất nở, nước xói thì đất mất, mạch không cố định. Một nơi thờ đặt trên đất động thì hợp với tích lập đền, vì chính dòng nước đã mang vật thiêng tới, nhưng không hợp với việc đứng lâu. Việc bãi lở năm 1819 chỉ là điều mà bất cứ ai quen nhìn đất bãi cũng đoán trước được. Có thể nói đền đã phải trả giá cho đúng cái đặc tính đã sinh ra nó.

Chỗ mới thì ngược hẳn: một khoảnh đất cao ráo, đã được đóng nền từ trước, bốn bề có nhà cửa vây, tường bao khép kín. Theo lối cũ thì đó là hình tàng phong tụ khí, tức kín gió mà giữ được khí, thế mà sách vở coi là hợp với nơi thờ tự lâu dài. Cái mất là mất mặt sông trước cửa, tức mất minh đường thiên nhiên. Cái được là được sự bền.

Đó cũng là chỗ để hiểu vì sao tục rước nước sông Hồng lại quan trọng đến thế ở cửa đền này. Đọc theo con mắt phong thủy, mỗi năm một lần, khi đoàn rước mang chóe nước từ giữa dòng về tới sân đền, dòng sông được mời trở lại với ngôi đền đã rời xa nó. Nước ấy dùng để tắm tượng, tức chạm trực tiếp vào chính vật đã từ sông mà lên. Cái nghi thức ấy nối lại mối liên hệ giữa nơi thờ và cái mạch đã sinh ra nó, thứ mà việc dời đền đã cắt đứt về mặt địa lý.

Về hướng, các lớp nhà xếp theo một trục dọc, cổng mở ra phố nhỏ, hậu cung nằm sâu nhất và kín nhất. Trong một khuôn viên bị phố vây bốn bề thì hướng không còn do địa bàn quyết định mà do mạng đường quyết định, và người dựng lại chọn cách bù: lấy sân trước rộng làm minh đường nhân tạo, giống như các đền phố khác lấy hồ nhỏ hoặc bức bình phong làm chỗ đỡ. Đền đứng giữa nội thành mà vào tới hậu cung vẫn thấy tĩnh, phần lớn là nhờ cái sân ấy và bức tường bao.

VHội Tháng Hai Và Lệ Rước Nước

Kỳ hội của đền mở vào tháng Hai âm lịch, sớm hơn hội Hát Môn và muộn hơn hội Mê Linh, tức ba cửa đền lớn thờ Hai Bà mở hội vào ba thời điểm khác nhau trong năm. Nghi thức riêng của Đồng Nhân, không lặp lại ở hai nơi kia, là rước nước sông Hồng về tắm tượng.

Các kỳ lễ chính của cụm di tích, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu di tích của cơ quan quản lý và các bản tin mùa hội..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Mùng Bốn tháng HaiMở cửa đềnLễ cáo yết, dâng hương, sửa soạn đồ thờ và kiệu. Ban khánh tiết và các đội tế tập hợp.
Mùng Năm tháng HaiRước nướcLàm lễ xin phép tại đền, sau đó đoàn rước ra sông Hồng lấy nước giữa dòng vào chóe, rước về đền, đọc văn tế rồi đưa nước vào hậu cung.
Mùng Năm tới mùng Sáu tháng HaiChính hội và lễ mộc dụcHai ngày trọng của kỳ hội. Nước rước từ sông về được dùng cho lễ mộc dục, tức lễ tắm tượng. Đội tế nam quan và đội dâng hương nữ lần lượt hành lễ.
Mùng Bảy tháng HaiLễ tấtLễ tạ khép kỳ hội, hạ kiệu và thu xếp đồ thờ.
Trong kỳ hộiPhần hộiDiễn xướng dân gian, múa lân, đấu vật và các trò của phường hội cũ, tổ chức ở sân trước đền.
Mùng một và ngày rằm hằng thángLễ sóc vọngLệ dâng hương thường kỳ ở cả ba nếp thờ, không có rước.

Lễ mộc dục, tức lễ tắm tượng, cần được nói cho đúng. Đây không phải việc lau chùi đồ thờ mà là một nghi thức có trình tự riêng, do người được làng chọn thực hiện, kín đáo, không mở cho người ngoài xem. Nước dùng là nước lấy từ giữa dòng sông Hồng chứ không phải nước giếng hay nước máy, và chính chi tiết ấy làm nên sợi dây nối cửa đền hôm nay với bãi sông năm 1142.

Về ngày chính hội, tài liệu ghi hơi khác nhau: có nguồn ghi chính hội là mùng Sáu, có nguồn ghi cả mùng Năm và mùng Sáu đều là ngày trọng, vì rước nước làm ngày mùng Năm còn tế chính làm ngày mùng Sáu. Chúng tôi ghi cả hai cách. Kỳ hội chung thì các nguồn thống nhất là từ mùng Bốn tới mùng Bảy tháng Hai.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 12 phố Hương Viên, phường Đồng Nhân cũ, nay là phường Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đường tới
Cụm di tích ở số 12 phố Hương Viên, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội, trên địa bàn phường Đồng Nhân cũ. Đi bộ được từ phố Lò Đúc và khu vực chợ Hôm, cách bờ sông Hồng một quãng ngắn về phía tây.
Toạ độ
21.0123, 105.8568
Khi tới nơi

Đây là cụm thờ tự đang hoạt động giữa khu dân cư, không phải bảo tàng. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào long ngai, kiệu, đôi voi thờ và các đồ sơn son thếp vàng. Lễ vật đặt đúng ban của từng nếp thờ, vì đền, chùa và đình trong khuôn viên này là ba nếp riêng chứ không phải một. Vào ngày rước nước, xin quý vị đứng ngoài lối đi của đoàn rước và không chen vào phần lễ mộc dục.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Hai Bà Trưng (Đồng Nhân)

Contribute photos, information or video for Hai Ba Trung Temple at Dong Nhan

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Hai Bà Trưng ở Đồng Nhân thờ ai

Thờ Hai Bà Trưng, tức Trưng Trắc và Trưng Nhị. Đây là ngôi đền thờ Hai Bà của chính kinh đô, lập năm 1142 theo tích hai pho tượng đá dạt vào bãi Đồng Nhân ven sông Hồng. Trong cùng khuôn viên còn chùa Viên Minh thờ Phật và thờ Mẫu, và đình Đồng Nhân thờ thành hoàng làng.

Đền Đồng Nhân khác gì đền Hát Môn và đền Mê Linh

Ba cửa đền giữ ba vai. Hát Môn là nơi gắn với ngày cuối, có đàn Thề và nếp thờ lấy màu đen làm chủ. Mê Linh là đền trên đất quê nhà, thờ hai bà trong vai vua. Đồng Nhân là đền của kinh đô, lập theo tích tượng nổi trên sông, có tục rước nước sông Hồng và hội mở vào tháng Hai.

Vì sao đền Đồng Nhân phải dời chỗ

Vì đền vốn lập trên bãi bồi ven sông Hồng, tới năm 1819 bãi bị nước lở nên phải dời vào trong, đặt trên khu Cựu Võ Sở của triều Lê ở thôn Hương Viên, tức chỗ đứng hiện nay. Làng Đồng Nhân dời theo và mang nguyên tên làng vào chỗ mới.

Lễ hội đền Đồng Nhân tổ chức ngày nào

Từ mùng Bốn tới mùng Bảy tháng Hai âm lịch, với hai ngày trọng là mùng Năm và mùng Sáu. Nghi thức riêng của cửa đền này là rước nước từ giữa dòng sông Hồng về làm lễ mộc dục, tức lễ tắm tượng. Lễ hội đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Cụm di tích Đồng Nhân được xếp hạng quốc gia đặc biệt năm nào

Theo Quyết định số 1954 ngày 31 tháng 12 năm 2019, lễ đón bằng tổ chức năm 2020, nên một số bản tin ghi năm xếp hạng là 2020. Trước đó đền đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1962.

Đọc Tiếp