VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Khu di tích Cổ Loa

Loa thành, thành Ốc, đền Thượng, am Mỵ Châu, Ngự Triều Di Quy

Một cụm thờ tự nằm trong lòng vòng đất cổ nhất còn lại của người Việt, nơi thờ vua, thờ một bi kịch trong nhà và thờ thành hoàng làm một.

Tượng đồng
1897
đặt trong hậu cung đền Thượng
Lệ phụng thờ
8 làng
bát xã hộ nhi, giữ hội chung
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
quyết định năm 2012

Quý vị đi trên một con đường làng bình thường, hai bên là nhà cửa và ruộng, rồi đường bỗng vượt qua một gờ đất cao chạy dài, cỏ mọc kín, trên có cây. Không có biển nào cắm ở đó. Đi thêm một quãng lại gặp một gờ như vậy nữa. Ba lần như thế thì quý vị đã vào tới trong cùng, và những gờ đất mà quý vị vừa vượt qua chính là vòng thành đất cổ nhất còn lại ở Việt Nam.

Trong lòng vòng trong cùng ấy là một khoảnh đất có đền, có am, có đình, có chùa và một cái giếng tròn trước cửa đền. Cụm ấy thờ ba thứ rất khác nhau đặt cạnh nhau: một ông vua, một người con gái, và vị thành hoàng của làng Cổ Loa. Ba thứ ấy lại là một, và đó là chỗ hiếm khiến nơi này không giống bất cứ khu thờ tự nào khác.

IThờ Vua, Thờ Một Bi Kịch Trong Nhà

Cụm thờ tự trong lòng thành gồm những nơi sau, mỗi nơi một đối tượng riêng:

  • Đền Thượng thờ An Dương Vương, tức Thục Phán, vua nước Âu Lạc. Dân quen gọi là đền Thượng vì đền đặt ở chỗ cao hơn cả.
  • Am Bà Chúa, thường gọi là am Mỵ Châu, thờ công chúa Mỵ Châu, con gái vua.
  • Đình Ngự Triều Di Quy thờ vua trong vai thành hoàng của làng Cổ Loa.
  • Chùa Cổ Loa, tên chữ Bảo Sơn Tự, và chùa Mạch Tràng thờ Phật theo lối Bắc tông.

Lý do có cụm thờ này thì ai cũng biết và trang này không kể lại: nước Âu Lạc mất, kinh đô bỏ hoang, và dân ở lại lập đền thờ vị vua đã dựng đô trên đất mình. Phần đáng viết là những gì xảy ra sau đó, trên chính khoảnh đất ấy, suốt hai nghìn năm.

Một khối đá không đầu

Trong am Bà Chúa có một khối đá tự nhiên, không phải tượng tạc, hình dáng gợi ra dáng người ngồi mà thiếu phần đầu. Dân làng coi đó là thân của Mỵ Châu. Khối đá được phủ áo, đội khăn, đặt trên bệ như một pho tượng, và nhận hương khói như một vị được thờ.

Đây là một trong những lối thờ thành thực nhất mà tín ngưỡng người Việt còn giữ. Thông thường, khi muốn thờ ai thì người ta tạc tượng. Ở đây làng không tạc. Họ nhận lấy một khối đá mà thiên nhiên làm ra, đúng ở dạng không trọn vẹn của nó, rồi thờ chính cái không trọn vẹn ấy. Câu chuyện Mỵ Châu là câu chuyện về một người con gái mất đầu, và vật được thờ cũng không có đầu. Không có lớp trang trí nào đứng giữa nội dung và hình thức.

Theo giáo nghĩa

Đọc theo lối tín ngưỡng bản địa, ba lớp thờ ở đây chồng lên nhau mà không xóa nhau. Lớp thứ nhất là thờ vua, tức thờ người dựng nước, thuộc hệ thờ các vị quốc tổ và quốc vương, có sắc phong, có tế lễ theo lệ triều đình cũ. Lớp thứ hai là thờ một người trong nhà vua, mà lại là người gắn với phần bi thảm nhất của câu chuyện. Lớp thứ ba là thờ thành hoàng, tức đưa chính vị vua ấy xuống làm thần coi sóc một làng cụ thể.

Việc một cộng đồng thờ đủ cả người chịu trách nhiệm lẫn người gánh hậu quả, đặt hai ban thờ cách nhau vài chục bước chân, là điều hiếm. Ở phần lớn nơi khác, cái được thờ là cái đáng tự hào. Ở Cổ Loa, cái được thờ gồm cả phần đau. Dân làng không chọn kể lại chuyện theo hướng có hậu, họ chỉ đặt cả hai ban xuống rồi thắp hương cho cả hai.

Đi cùng lối thờ ấy là một số lệ kiêng của dân tám làng quanh thành. Các lệ này truyền miệng, mỗi làng giữ một ít, và chủ yếu xoay quanh việc gọi tên và việc ăn mặc trong kỳ hội, nhằm tránh chạm tới phần bi thảm của câu chuyện. Người ngoài tới lễ không bị ràng buộc bởi các lệ ấy, nhưng biết để mà giữ ý thì hơn.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất ở đây là tưởng các nếp nhà đang đứng trong thành thuộc thời An Dương Vương. Không phải. Vòng thành đất thì đúng là thuộc lớp rất sớm, quãng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, và đó là phần cổ nhất của khu di tích. Nhưng toàn bộ cụm thờ tự thì muộn hơn rất nhiều: đền Thượng mang dáng thế kỷ 17 tới 18, chùa Bảo Sơn dựng đầu thế kỷ 17, còn đình Ngự Triều Di Quy dựng năm 1907, tức chỉ hơn một trăm năm.

Tên đình cũng hay gây nhầm. Ngự Triều Di Quy nghĩa là nếp cũ còn lại của chốn thiết triều, và đình được dựng trên khoảnh đất mà dân làng tin là nền điện thiết triều xưa. Đó là một niềm tin về địa điểm, không phải một kết luận khảo cổ, và bản thân ngôi đình là công trình của đầu thế kỷ 20. Giữa cái tên và cái nhà có khoảng cách hai nghìn năm, nên đọc cho rõ thì mới khỏi nhầm.

IIHai Nghìn Năm Trên Một Khoảnh Đất

Điều đáng ghi ở Cổ Loa không phải là một niên đại mà là sự liên tục. Kinh đô bỏ đi, nhưng người thì ở lại, và mỗi lớp người lại thêm một nếp nhà vào khoảnh đất ấy. Đọc theo thứ tự niên đại thì thấy cả một quá trình bồi đắp kéo hai nghìn năm.

  • Thế kỷ III trước Công nguyênĐắp vòng thành đất
    Ba vòng thành đất được đắp, tổng diện tích khu thành gần 46 héc ta theo hồ sơ của cơ quan quản lý di sản. Đây là lớp cổ nhất và là phần bao chứa mọi thứ về sau.
  • Đầu thế kỷ 17Dựng chùa Bảo Sơn
    Chùa Cổ Loa, tên chữ Bảo Sơn Tự, được dựng trong lòng thành. Chùa hiện còn 132 hiện vật theo thống kê của cơ quan quản lý.
  • Thế kỷ 17 tới 18Định hình đền Thượng
    Căn cứ vào cấu kiện kiến trúc và hiện vật, đền Thượng mang dáng của lớp niên đại này. Khuôn viên đền rộng khoảng 19.138 mét vuông.
  • 1732Đôi rồng đá trước nghi môn
    Cặp rồng đá chầu ở lối vào đền Thượng mang niên đại này, là một trong những hiện vật có niên đại rõ nhất của đền.
  • 1897Đúc pho tượng đồng An Dương Vương
    Pho tượng đồng thờ trong hậu cung đền Thượng được đúc năm này. Trọng lượng các nguồn ghi vênh nhau, xem hộp sử liệu dưới.
  • 1907Dựng đình Ngự Triều Di Quy
    Đình được dựng trên khoảnh đất mà dân làng tin là nền điện thiết triều xưa. Mặt bằng chữ Đinh, đại đình năm gian, bộ khung kiểu giá chiêng chồng rường.
  • 1962Xếp hạng di tích quốc gia
    Khu di tích Cổ Loa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Cổ Loa được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, loại hình di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ.
  • 2021Hội Cổ Loa vào danh mục di sản phi vật thể
    Lễ hội Cổ Loa được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo sử liệu

Xin ghi thẳng một chỗ nguồn vênh. Về trọng lượng pho tượng đồng trong hậu cung đền Thượng, hồ sơ của cơ quan quản lý di sản và trang của ban quản lý khu di tích đều ghi khoảng 200 ki lô gam, trong khi một số trang giới thiệu ghi 255 ki lô gam. Chúng tôi ghi cả hai và không chọn bừa, vì con số này chỉ chắc khi có biên bản cân đo, không suy ra được từ kích thước.

Về số điểm di tích trong khu, các tài liệu ghi khác nhau tùy theo cách đếm: có nơi ghi khoảng sáu mươi điểm gồm cả di chỉ khảo cổ, có nơi chỉ kể năm sáu công trình thờ tự chính. Đây là chỗ khác nhau trong phạm vi thống kê chứ không phải mâu thuẫn về tư liệu.

IIICụm Thờ Tự Trong Lòng Thành

Khu di tích trải rộng, gồm ba vòng thành đất, nhiều di chỉ khảo cổ và các làng cư trú. Trang này viết ở tầng cụm thờ tự, tức phần nằm trong vòng thành trong cùng và các nếp thờ phụ cận. Đền Thượng đặt trên trục chính, am và đình nằm chếch về một bên, chùa ở phía sau, giếng nằm ngay trước cửa đền.

Đền Thượng

Nếp chính của cụm, quay hướng nam, các lớp nhà xếp theo trục dũng đạo gồm nghi môn ngoại, nghi môn nội, sân rồng, tiền tế, trung đường và hậu cung. Trước nghi môn có đôi rồng đá năm 1732. Trong hậu cung đặt pho tượng đồng An Dương Vương đúc năm 1897.

Giếng Ngọc

Giếng tròn nằm giữa hồ bán nguyệt trước cửa đền Thượng. Dân gian gắn giếng với phần kết của câu chuyện Mỵ Châu và Trọng Thủy. Về mặt bố cục, giếng và hồ làm thành mặt nước ngay trước cửa đền.

Am Bà Chúa

Nếp nhà nhỏ dưới bóng cây cổ thụ, bên trong đặt khối đá tự nhiên được coi là thân Mỵ Châu, phủ áo và đội khăn. Am nhỏ nhất trong cụm nhưng là nơi có lượng người vào lễ đông không kém đền Thượng.

Đình Ngự Triều Di Quy

Dựng năm 1907, mặt bằng chữ Đinh gồm đại đình và hậu cung. Đại đình năm gian, bốn góc mái cong, bộ khung sáu hàng cột theo kiểu giá chiêng chồng rường. Trên cửa võng có bức đại tự bốn chữ là tên đình.

Chùa Bảo Sơn và chùa Mạch Tràng

Hai ngôi chùa thờ Phật theo lối Bắc tông. Chùa Bảo Sơn, tức chùa Cổ Loa, dựng đầu thế kỷ 17, còn 132 hiện vật. Chùa Mạch Tràng thuộc làng Mạch Tràng, mang dấu kiến trúc thế kỷ 18.

Ba vòng thành đất

Ba vòng đất đắp bao quanh, tổng diện tích gần 46 héc ta, là phần cổ nhất và là khung bao chứa toàn bộ cụm thờ tự. Ngày nay các vòng thành nằm xen trong làng xóm và ruộng.

Một điều đáng để ý về mặt bố cục: lớp thờ Phật xen vào ngay trong lòng một khu thờ vua. Ở phần lớn các khu di tích gắn với triều đại, chùa nếu có thì đứng ngoài, tách riêng. Ở Cổ Loa, chùa Bảo Sơn nằm ngay cạnh đình và am, cùng một mạng đường làng. Điều ấy cho thấy khu đất này không bao giờ được giữ như một nơi tưởng niệm đóng kín. Nó là đất ở, và mọi thứ dân cần trong đời sống tâm linh đều được dựng vào đó, lớp nọ cạnh lớp kia.

Về tên chữ Hán ghi ở đầu trang, hai chữ ấy là tên gọi Cổ Loa, nghĩa là ốc cổ, đặt theo hình xoáy của các vòng thành. Tên này có trong thư tịch chữ Hán, không phải chữ do chúng tôi suy ra.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải. Với một nơi từng được chọn làm đất dựng đô, phần này đáng đọc kỹ hơn cả, vì người xưa xem đất dựng đô kỹ hơn bất cứ việc gì.

Thế đất và hướng

Trước hết là vị trí trong châu thổ. Cổ Loa nằm ở tả ngạn sông Hồng, gần chỗ sông Hồng gặp sông Cà Lồ và hệ sông Đuống, trên một dải đất cao hơn vùng trũng chung quanh. Trong phép xem đất thì đây là hình thủy khẩu hội tụ, tức chỗ nhiều dòng nước gặp nhau. Sách cũ coi chỗ ấy là chỗ khí tụ mạnh nhất của cả một vùng, vì nước từ nhiều hướng dồn về rồi mới tỏa đi. Một kinh đô đặt ở thủy khẩu thì vừa được khí vừa được đường đi lại, và đó là lối chọn đô rất sớm của người Việt, có trước cả lối chọn đô dựa núi.

Thứ hai là hình xoáy ốc của các vòng thành. Chính hình ấy đã cho nơi này cái tên. Ba vòng đất không đồng tâm đều đặn mà cuộn vào nhau, lối đi từ ngoài vào trong phải vòng chứ không đi thẳng được. Đọc theo lối cũ thì đó là hình hồi long cố tổ, tức con rồng quay đầu nhìn lại gốc: khí đi vào không lao thẳng mà xoáy dần, mỗi vòng giữ lại một phần, tới vòng trong cùng thì đã lắng. Sách cũ chuộng lối vào vòng vèo hơn lối vào thẳng, vì đường thẳng đưa khí tới cũng đưa khí đi.

Thứ ba là chỗ đặt đền Thượng. Đền không đặt ở tâm hình học của vòng trong mà đặt ở phần đất cao nhất, và quay hướng nam. Hướng nam là hướng mà đền miếu Bắc Bộ chuộng nhất: đón sáng, đón gió mát mùa hè, che gió lạnh mùa đông. Trước cửa đền có hồ bán nguyệt và giếng Ngọc, tức có minh đường và có nước tụ. Sau lưng đền là phần đất dày của vòng thành, tức có hậu chẩm. Trong một vùng châu thổ không có núi, thì vòng thành đất đóng luôn vai chỗ dựa, và đó là chỗ riêng của Cổ Loa: cái do người đắp lên đã thay chỗ cho cái mà thiên nhiên không cho.

Thứ tư là quan hệ giữa các nếp thờ. Đền Thượng ở chỗ cao và quay ra hướng chính. Am Bà Chúa nép dưới bóng cây, thấp hơn, khuất hơn, không nằm trên trục chính. Đình Ngự Triều Di Quy đứng ở chỗ trung gian, nơi làng tụ họp. Đọc theo lối cũ thì cách xếp ấy đúng thứ bậc của một nhà: người cha ở chính giữa và hướng ra ngoài, người con ở chỗ khuất và hướng vào trong, còn việc chung của làng thì đặt ở khoảng giữa hai bên. Thế đất ở đây không chỉ chiều theo địa hình mà chiều theo quan hệ giữa những người được thờ.

Sau cùng là lớp cây. Am Mỵ Châu và một số điểm thờ trong cụm đều có cây cổ thụ che, tán rộng, rễ nổi. Theo lối nghĩ cổ truyền, một nơi thờ có cây lớn tại chỗ là nơi có mạch nuôi được cây, tức có long mạch của chính nó, không phải đi mượn. Cần nói ngay rằng không văn bia nào ở Cổ Loa chép việc chọn đất theo một phép xem cụ thể, nên toàn bộ đoạn trên chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.

VLệ Bát Xã Hộ Nhi Và Hội Tháng Giêng

Điều đặc biệt nhất về mặt lễ tiết ở Cổ Loa là việc phụng thờ không thuộc về một làng mà thuộc về tám làng, theo lệ gọi là bát xã hộ nhi, còn gọi là bát xã Loa thành. Tám làng ấy là Cổ Loa, Văn Thượng, Mạch Tràng, Sằn Giã, Ngoại Sát, Đài Bi, Cầu Cả và Thư Cưu, nằm trên địa bàn các xã Cổ Loa, Uy Nỗ và Xuân Canh của huyện Đông Anh cũ.

Theo lệ, làng Cổ Loa giữ vai anh cả vì đứng trên đất có đền, bảy làng còn lại là em. Mỗi làng có kiệu riêng, đội tế riêng, phần việc riêng trong kỳ hội, và thứ tự rước được định sẵn không đổi. Việc chuẩn bị bắt đầu từ tháng Mười một, tháng Chạp năm trước, gồm bầu quan đám, họp hội đồng tám làng, tập tế và tập rước.

Các kỳ lễ chính của khu di tích, tính theo âm lịch. Nguồn: Tư liệu của ban quản lý khu di tích và hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
Tháng Mười một và tháng Chạp năm trướcSửa soạnTám làng họp hội đồng, bầu quan đám, phân việc, tập tế và tập rước. Đây là phần việc kéo dài nhất của cả kỳ hội.
Mùng Năm tháng GiêngRước văn và mở cửa đềnLễ cáo yết tại đền Thượng, rước bản văn tế về đền, sửa soạn kiệu và đồ thờ của tám làng.
Mùng Sáu tháng GiêngChính hội và tế hội đồngNgày trọng nhất. Lễ tế hội đồng kéo dài hơn hai giờ với sáu mươi bảy lần xướng. Sau đó là đám rước xuất phát từ đền Thượng, kiệu làng Cổ Loa đi đầu, các làng còn lại theo thứ tự đã định.
Từ mùng Sáu tới rằm tháng GiêngKỳ hội kéo dàiCác làng lần lượt làm lễ tại nếp thờ của mình, phần hội tiếp tục trên sân đền và các bãi trong thành.
Trong kỳ hộiPhần hộiBắn nỏ, đu tiên, đấu vật, cờ người, hát tuồng và múa rối nước. Đây là các trò dân gian gắn với hội, do các làng luân phiên đảm nhiệm.
Mùng một và ngày rằm hằng thángLễ sóc vọngLệ dâng hương thường kỳ tại đền Thượng, am Bà Chúa và đình, không có rước.

Về ngày hội có một chỗ nhỏ cần nói cho rõ. Tài liệu quản lý di tích ghi hội mở mùng Năm tới mùng Sáu tháng Giêng, trong đó mùng Sáu là chính hội. Nhiều tài liệu khác chỉ ghi gọn mùng Sáu tháng Giêng vì đó là ngày ai cũng nhớ. Trên thực tế phần lễ bắt đầu từ mùng Năm và phần hội có thể kéo tới rằm. Ba cách ghi ấy không mâu thuẫn, chỉ khác nhau ở chỗ đếm từ đâu tới đâu.

Một điều đáng ghi nữa: tế hội đồng với sáu mươi bảy lần xướng là một trong những bài tế dài và đầy đủ nhất còn giữ được ở vùng châu thổ. Đây không phải nghi thức dựng lại cho hội mà là bài tế truyền đời, thuộc lòng bởi các đội tế của tám làng, và chính nó là thứ giữ cho lệ bát xã hộ nhi không tan ra thành tám lễ riêng lẻ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn Cổ Loa, xã Cổ Loa cũ, nay là xã Đông Anh, Hà Nội
Đường tới
Khu di tích ở thôn Cổ Loa, xã Đông Anh, Hà Nội, thuộc địa bàn xã Cổ Loa cũ, cách trung tâm thành phố chừng mười bảy tới hai mươi bốn cây số về phía bắc tùy lối đi. Các điểm thờ tự nằm trong vòng thành trong cùng, đi bộ nối được với nhau.
Toạ độ
21.1122, 105.8714
Khi tới nơi

Đây là cụm thờ tự đang hoạt động, nằm ngay trong làng xóm, không phải khu trưng bày. Vài điều thường được nhắc tại chỗ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung đền Thượng, không chạm tay vào pho tượng đồng, đôi rồng đá và các đồ thờ. Riêng ở am Bà Chúa, xin quý vị không sờ vào khối đá và không xê dịch áo khăn phủ trên đó. Không thả vật gì xuống giếng Ngọc. Các vòng thành đất là di tích khảo cổ, xin đi theo lối mòn có sẵn, không đào bới và không trèo lên phần thân thành đang sạt.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu di tích Cổ Loa

Contribute photos, information or video for Co Loa Citadel and Temple Complex

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Cổ Loa thờ ai

Đền Thượng thờ An Dương Vương, vua nước Âu Lạc. Am Bà Chúa thờ công chúa Mỵ Châu bằng một khối đá tự nhiên chứ không phải tượng tạc. Đình Ngự Triều Di Quy thờ chính vị vua ấy trong vai thành hoàng của làng. Chùa Bảo Sơn và chùa Mạch Tràng thờ Phật theo lối Bắc tông.

Bát xã hộ nhi là gì

Là lệ tám làng cùng nhận việc phụng thờ An Dương Vương và cùng giữ một kỳ hội chung. Tám làng gồm Cổ Loa, Văn Thượng, Mạch Tràng, Sằn Giã, Ngoại Sát, Đài Bi, Cầu Cả và Thư Cưu. Làng Cổ Loa giữ vai anh cả, mỗi làng có kiệu và đội tế riêng, thứ tự rước được định sẵn không đổi.

Hội Cổ Loa tổ chức ngày nào

Phần lễ bắt đầu từ mùng Năm tháng Giêng âm lịch, chính hội là mùng Sáu, phần hội có thể kéo tới rằm. Nghi thức trọng nhất là lễ tế hội đồng với sáu mươi bảy lần xướng, sau đó là đám rước tập hợp kiệu của cả tám làng, xuất phát từ đền Thượng.

Khối đá trong am Mỵ Châu là gì

Là một khối đá tự nhiên, không phải tượng do người tạc, hình dáng gợi ra dáng người ngồi mà thiếu phần đầu. Dân làng coi đó là thân của Mỵ Châu, phủ áo và đội khăn cho khối đá rồi thờ như một pho tượng. Đây là lối thờ hiếm, thờ chính cái không trọn vẹn của vật.

Các công trình ở Cổ Loa có từ thời An Dương Vương không

Không. Chỉ ba vòng thành đất thuộc lớp rất sớm, quãng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Cụm thờ tự muộn hơn nhiều: đền Thượng mang dáng thế kỷ 17 tới 18, chùa Bảo Sơn dựng đầu thế kỷ 17, đình Ngự Triều Di Quy dựng năm 1907 trên khoảnh đất mà dân làng tin là nền điện thiết triều xưa.

Đọc Tiếp