Từ đường lớn rẽ vào chân núi Minh Tự, quý vị đi một quãng đường dốc thoai thoải rồi thấy một khoảnh đất phẳng, xây bằng đá nguyên khối, nằm lọt giữa rừng cây. Ngôi mộ ở đó không cao, không có nhà bia lớn án ngữ, không có tượng canh hai bên. Nhìn từ trên xuống, khối đá ấy trải ra như một cánh diều đã hạ xuống và nằm im.
Hình cánh diều không phải chuyện tình cờ. Theo tích mà người Hương Sơn kể lại, lúc còn sống Lê Hữu Trác đã dặn con cháu rằng khi ông mất thì thả một con diều lên, diều rơi ở đâu thì đưa ông về nằm ở đó. Diều rơi xuống chân núi Minh Tự, và mảnh đất này thành nơi ông nằm lại hơn hai trăm năm. Cách đó chừng bảy cây số, bên dòng Ngàn Phố, là nhà thờ và khu lưu niệm, nơi con cháu họ Lê Hữu và người làm thuốc bốn phương về thắp hương.

INgười được thờ và lối thờ tổ nghề
Lê Hữu Trác (tên thật là Lê Hữu Huân) sinh ngày 12 tháng 11 năm 1724 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương xưa (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông là con thứ bảy của Tiến sĩ Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng, người xứ Bàu Thượng, xã Tình Diệm trên đất Hương Sơn. Năm 1746 ông về quê mẹ ở Bàu Thượng dưỡng bệnh, rồi ở lại đó làm thuốc và dạy học cho tới lúc mất. Hiệu Hải Thượng Lãn Ông mà ông tự đặt có nghĩa là ông già lười ở Hải Thượng, trong đó chữ Hải lấy chữ đầu của trấn Hải Dương (quê cha), chữ Thượng lấy chữ thứ hai của xứ Bàu Thượng (quê mẹ, đồng thời trùng với phủ Thượng Hồng), còn chữ lãn là lười, một chữ ông tự nhận để nói rằng mình lười với đường công danh quyền thế chứ không lười với việc cứu người.
Ông mất vào ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi (1791), hưởng thọ 67 tuổi. Thứ ông để lại không phải đền đài mà là sách, nổi bật là bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập với 66 quyển, bộ bách khoa thư lớn của y học cổ truyền Việt Nam, cùng tập ký Thượng kinh ký sự chép chuyến ông được chúa Trịnh vời ra kinh đô năm 1782. Trong bộ sách thuốc ấy có phần Y huấn cách ngôn gồm chín điều răn về y đức và phép làm người của thầy thuốc, khiến ông được hậu thế tôn thờ như vị tổ nghề y của nước Nam. Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 42 ở Paris, tổ chức UNESCO đã thông qua nghị quyết vinh danh Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông.
Lối thờ ở đây cần được gọi cho đúng. Người nằm dưới chân núi Minh Tự không phải thần, không được triều đình phong làm thành hoàng, không có thần tích, không có sắc phong theo lối đền miếu. Nơi này đứng ở chỗ giao của hai lối thờ quen thuộc trong truyền thống thờ cúng tổ tiên và tiền nhân của người Việt.
Lối thứ nhất là thờ tổ họ. Nhà thờ ở thôn Bảo Thượng trước hết là nhà thờ của một dòng họ, con cháu họ Lê Hữu giữ hương khói theo lệ nhà, giỗ theo ngày mất, cúng theo lối gia tiên. Lối thứ hai là thờ tổ nghề. Người làm thuốc cổ truyền khắp nước lấy ngày giỗ ông làm ngày về bái tổ, và khi họ đứng trước ban thờ ấy thì họ đứng với tư cách người nối nghề chứ không phải người trong họ. Hai lối ấy chồng lên nhau trên cùng một ban thờ, và đó là nét riêng của nơi này.
Xin nói thẳng một điều để quý vị khỏi trông đợi nhầm. Đây không phải một ngôi đền cổ. Phần thờ tự ở đây giản dị hơn các đền miếu có hàng trăm năm hương khói khi không có hậu cung nhiều lớp, không có lệ hầu và không có hệ thần đông đảo. Cái được giữ ở đây là một ngôi mộ, một nếp nhà thờ vốn là ngôi nhà ông từng ở, một ngôi chùa bên sông của gia tộc bên ngoại, và một nếp giỗ. Nói vậy không phải để hạ thấp nơi này, mà để quý vị đọc nó cho đúng, bởi giá trị của di tích nằm ở chỗ một người làm nghề chữa bệnh được cả một ngành nghề nhận làm tổ chứ không nằm ở quy mô lâu đài.
IITừ nấm mộ chân núi đến khu lưu niệm
Khu di tích hôm nay không hình thành một lần mà bồi dần qua hơn hai thế kỷ, bắt đầu từ ngôi nhà ông ở và nấm mộ dưới chân núi Minh Tự, rồi tới các hạng mục tôn tạo, mở rộng trong vài chục năm gần đây.
- 1724Lê Hữu Trác sinh tại Liêu XáSinh ngày 12 tháng 11 năm 1724 ở thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Năm 1746 ông về quê mẹ ở xứ Bàu Thượng trên đất Hương Sơn dưỡng bệnh rồi gắn bó trọn đời với nghề thuốc.
- Đầu thế kỷ 18Bà ngoại dựng chùa Tượng SơnNgôi chùa ở xã Sơn Giang do bà ngoại của Lê Hữu Trác là bà Đặng Phùng Hầu sáng lập thời Lê Trung Hưng. Trong khoảng những năm 1760 tới 1786, Lê Hữu Trác thường lui tới chùa mở phòng mạch chữa bệnh và trước tác.
- 1791Ông mất và được táng ở núi Minh TựMất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi (1791). Theo truyền tích của người Hương Sơn, con cháu thả diều theo lời ông dặn, diều rơi xuống chân núi Minh Tự và mộ được đặt ở đó.
- 1990 và 1994Xếp hạng di tích quốc giaBộ Văn hóa công nhận Khu mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1990, tiếp đó công nhận Chùa Tượng Sơn là di tích quốc gia năm 1994.
- 2013Dựng tượng đài trên đỉnh núi Minh TựPho tượng bằng đá cẩm thạch cao 16,91 mét ghép từ 84 phiến đá (riêng phần tượng nặng khoảng 350 tấn, toàn bộ hạng mục dùng hơn 1.600 tấn đá) đặt trên đỉnh núi Minh Tự, phía sau có ba bức phù điêu khắc lời ông dạy về y đức.
- 2015Lễ hội thành di sản phi vật thể quốc giaBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số 3465/QĐ-BVHTTDL ngày 13 tháng 10 năm 2015 công nhận Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
- 2023UNESCO vinh danh Đại danh y Lê Hữu TrácNgày 21 tháng 11 năm 2023, tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 42 ở Paris, tổ chức UNESCO thông qua nghị quyết vinh danh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông (1724 - 2024).
- 2024Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2024 xếp hạng Mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác là Di tích quốc gia đặc biệt đợt mười sáu, đúng dịp tròn 300 năm ngày sinh của ông.
Tích thả diều là truyền tích của vùng Hương Sơn, không phải ghi chép trong chính sử, và thư viện ghi lại đúng như vậy. Các bản kể cũng có chi tiết khác nhau khi có bản nói diều được thả từ ngọn núi giả đắp trong vườn nhà ông ở Bảo Thượng (nơi ông từng thả diều quan sát hướng gió để đoán dịch bệnh), có bản nói thả trong lễ đưa tang. Điều khảo được chắc chắn là ngôi mộ nằm ở chân núi Minh Tự và được con cháu cùng người dân giữ gìn liên tục từ năm 1791 đến nay.
Cái đáng đọc trong tích ấy không phải chuyện con diều bay được bao xa. Thả diều là phó mặc việc chọn huyệt cho gió, tức là từ chối phép chọn đất cầu lợi phát quan của thầy địa lý. Một người cả đời dạy rằng phải xem bệnh cho kỹ rồi mới bốc thuốc, tới việc chọn chỗ nằm của chính mình thì lại buông tay cho trời đất định. Người Hương Sơn giữ tích ấy lâu như vậy vì nó nói được cái tính thanh thoát của ông.
IIIHai khu cách nhau bảy cây số
Quần thể chia làm hai khu chính nằm cách nhau chừng bảy cây số, cộng thêm ngôi chùa cổ của gia tộc bên ngoại gắn với cuộc đời ông. Thư viện viết ở tầng cụm và nêu rõ cấu trúc của từng điểm.
Ở thôn Hải Thượng (xã Sơn Trung cũ, nay là xã Hương Sơn). Phần mộ rộng khoảng 15 mét vuông ốp đá, tạo dáng cánh diều nằm giữa khuôn viên rộng hơn 17.000 mét vuông. Phía trước mộ có nhà phương đình, quảng trường, hồ sen và tảng đá nguyên khối nặng hơn 17 tấn khắc ba chữ "Đức lưu quang" cùng đôi câu đối của Giáo sư Vũ Khiêu.
Từ khu mộ leo lên 235 bậc đá dài khoảng 600 mét là tới đỉnh núi Minh Tự. Pho tượng Lê Hữu Trác bằng đá cẩm thạch cao 16,91 mét ghép từ 84 phiến đá hoàn thành năm 2013, phía sau có ba bức phù điêu khắc lời ông dạy về y đức.
Ở thôn Bảo Thượng (xã Quang Diệm cũ, nay là xã Sơn Giang) bên sông Ngàn Phố, gồm cổng, nhà bia, núi giả, hồ sen, bái đường năm gian và thượng điện ba gian. Thượng điện dựng trên chính nền ngôi nhà cũ nơi Lê Hữu Trác đã sống, làm thuốc và biên soạn trọn bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh, xung quanh có vườn thuốc quý hơn sáu chục loài.
Ngôi chùa Phật giáo ở thôn 1 xã Sơn Giang do bà ngoại của Lê Hữu Trác là bà Đặng Phùng Hầu sáng lập đầu thế kỷ 18. Tại đây Lê Hữu Trác từng mở phòng mạch chữa bệnh và viết sách trong những năm 1760 tới 1786, đồng thời là nơi diễn ra lễ cầu an trong kỳ lễ hội hằng năm.
Về diện tích khu lưu niệm ở thôn Bảo Thượng thì các nguồn ghi vênh nhau, thư viện nêu thẳng cả hai con số. Báo Sài Gòn Giải Phóng ghi khu lưu niệm rộng 11.249,2 mét vuông, trong khi Báo Hà Tĩnh ghi khoảng 13.500 mét vuông với mười tám hạng mục. Sự chênh lệch này xuất phát từ cách tính phạm vi đất lõi của khu nhà thờ cũ và phần khuôn viên mở rộng sau các đợt trùng tu năm 2004 và 2008.
Một điểm nên lưu ý khi đọc kiến trúc ở đây là phần mới chiếm tỷ trọng lớn về khối tích. Tượng đài trên núi Minh Tự dựng năm 2013, nhiều hạng mục phụ trợ được xây dựng trong hai thập niên đầu thế kỷ 21. Phần thực sự mang dấu vết lịch sử là ngôi mộ, nền nhà thờ họ ở Bảo Thượng (cùng ngọn núi giả trong vườn) và ngôi chùa Tượng Sơn. Quý vị nên phân biệt rõ hai lớp ấy để hiểu đúng giá trị gốc của di tích.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Thư viện ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Với mộ phần thì phép xem đất cổ truyền có tên riêng là âm trạch, phân biệt với dương trạch là đất ở của người sống. Ở âm trạch, thứ được coi trọng trước hết là chỗ dựa sau lưng, gọi là hậu chẩm, tức chỗ gối đầu. Mộ ở đây gối hẳn vào sườn núi Minh Tự, một khối núi thấp thuộc dải đồi trung du Hương Sơn. Phía trước mộ mở về hướng tây nam nhìn ra dòng sông Ngàn Phố làm minh đường tụ thủy và có núi Đại Hàm đứng làm tiền án tự nhiên từ xa.
Hình thế ngọn núi đáng để ý. Núi Minh Tự không có sống nhọn, không có vách dựng, mà là khối thấp và đầy. Trong cách phân loại cổ truyền, dạng núi ấy thuộc hành Thổ, nặng và ổn định, ứng với sự nuôi dưỡng chứ không ứng với sự phát võ hay phát quan. Đặt mộ một người cả đời làm nghề nuôi dưỡng thân người vào chân một ngọn núi hành Thổ là chỗ mà phép cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Cách bày mộ thấp và trải rộng như cánh diều cũng đi cùng mạch ấy, không dựng cao, không lấy thế áp mà nằm phẳng vào lòng đất.
Nhưng chỗ hay nhất của thế đất này lại nằm ở cách chọn huyệt chứ không nằm ở bản thân huyệt. Người xưa chọn đất táng kỹ hơn bất cứ việc gì, thường mời thầy địa lý đi tầm long điểm huyệt, tính cả hướng lẫn phân kim. Ở đây thì huyệt được chọn bằng một con diều. Đọc theo lối cũ, thả diều mà định huyệt là giao việc cho khí của trời, tức là thừa nhận rằng gió biết chỗ nào là chỗ nên nằm. Lối chọn ấy hiếm, và nó thuận với một người tự lấy hiệu là Lãn Ông, ông già lười đã từ chối đường quan trường để về quê mẹ làm thuốc.
Xét ở tầng rộng hơn, ba điểm của quần thể nằm trên cùng một dải đất do dòng Ngàn Phố nuôi dưỡng, gồm khu mộ ở chân núi Minh Tự, nhà thờ ở Bảo Thượng sát bờ sông và chùa Tượng Sơn ở phía dưới trước mặt dãy núi bảy ngọn Thất Tinh. Trong phép xem đất vùng trung du, dòng sông là mạch dẫn khí nối các điểm lại với nhau. Đọc như vậy thì đám rước trong kỳ lễ hội, đi từ nhà thờ lên mộ rồi sang chùa, chính là một lần đi lại dọc mạch nước ấy chứ không đơn thuần là di chuyển giữa mấy địa chỉ.
Về hướng, cái đáng đọc ở đây không phải độ số la bàn mà là quan hệ giữa mộ và vùng đất ông sống. Mộ gối vào núi Minh Tự, mặt mở ra phía thung lũng sông Ngàn Phố có làng mạc và ruộng vườn, tức là quay về phía những người dân mà ông từng chữa bệnh. Theo con mắt cổ truyền, đó là thế tọa sơn vọng thủy, hướng về nhân quần, thế của người ở lại với dân chứ không phải thế của người muốn ngự cao.
VLệ giỗ rằm tháng Giêng
Nếp lễ ở đây bắt đầu từ một cái giỗ. Sau khi ông mất năm 1791, người Hương Sơn giữ lệ tế hằng năm, và lệ ấy dần lớn thành một kỳ lễ hội kéo dài ba ngày, từ ngày mười ba tới ngày rằm tháng Giêng âm lịch, tức lấy ngày mất của Đại danh y làm ngày chính.
| Ngày âm lịch | Nơi | Nội dung |
|---|---|---|
| 13 tháng Giêng | Nhà thờ ở Bảo Thượng | Mở đầu kỳ lễ, con cháu họ Lê Hữu và người làm thuốc các nơi về cúng tế theo lối gia tiên tại nhà thờ. |
| 14 tháng Giêng | Chùa Tượng Sơn | Lễ cầu an và cầu sức khỏe cho nhân dân theo lệ nhà chùa tại ngôi chùa ông từng mở phòng mạch và viết sách. |
| Rằm tháng Giêng | Khu mộ chân núi Minh Tự | Ngày chính giỗ. Lễ tế và dâng hương tưởng niệm tại khu mộ và tượng đài, là ngày đông người về bái tổ nhất trong năm. |
| Trong ba ngày lễ | Cả vùng Hương Sơn | Phần hội gồm lễ rước giữa ba di tích, đua thuyền trên sông Ngàn Phố, hội thi thả diều sáo, gói bánh chưng, đẩy gậy và khám bệnh phát thuốc miễn phí. |
Điều làm kỳ lễ này khác các hội làng khác là thành phần người về. Ngoài con cháu trong họ và dân trong vùng, đây là dịp các thầy thuốc y học cổ truyền và y bác sĩ từ khắp các tỉnh thành về dâng hương bái tổ, nhiều đoàn tổ chức bắt mạch, khám bệnh và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân ngay trong ngày hội. Cái giỗ của một dòng họ vì thế mang thêm vai một kỳ họp mặt của nghề y, và nơi này mang dáng một tổ đình nghề thuốc nhiều hơn là một ngôi đền.
Lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3465/QĐ-BVHTTDL ngày 13 tháng 10 năm 2015. Hồ sơ ghi nhận lễ hội hình thành từ nếp tế giỗ của nhân dân Hương Sơn sau khi ông mất năm 1791, tức là một nếp lễ có gốc từ việc nhà rồi mở rộng thành việc làng và việc nghề, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghi thức giỗ tổ và hoạt động thiện nguyện chữa bệnh cứu người.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Mộ ở núi Minh Tự, xã Sơn Trung cũ, nay là xã Hương Sơn, nhà thờ và khu lưu niệm ở xã Quang Diệm cũ, nay là xã Sơn Giang, tỉnh Hà Tĩnh
- Đường tới
- Khu mộ nằm ở chân núi Minh Tự thuộc thôn Hải Thượng, xã Sơn Trung cũ, nay là xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (ngay sát quốc lộ 8A). Nhà thờ và khu lưu niệm nằm ở thôn Bảo Thượng, xã Quang Diệm cũ, nay là xã Sơn Giang, cách khu mộ khoảng 7 km về phía đông dọc sông Ngàn Phố. Chùa Tượng Sơn nằm tại thôn 1 xã Sơn Giang trên cùng tuyến đường.
- Toạ độ
- 18.5295, 105.4339
Đây là nơi thờ tự và mộ phần của một danh nhân, nên lệ nhà cần được giữ trang nghiêm. Quý vị lưu ý ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào bái đường và thượng điện, đi nhẹ nói khẽ trong khu mộ, không ngồi và không đặt đồ lên phần mộ đá, đặt tiền vào hòm công đức chứ không cài lên đồ thờ. Vườn thuốc trong khu lưu niệm Bảo Thượng là vườn cây thuốc mẫu đang được chăm sóc, xin quý vị không tự ý hái lá. Nếu đi trong ba ngày từ 13 đến rằm tháng Giêng thì nên sắp xếp đi đủ cả ba điểm gồm khu mộ núi Minh Tự, nhà thờ Bảo Thượng và chùa Tượng Sơn trên cùng tuyến đường dọc sông Ngàn Phố.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác thờ ai
Thờ Đại danh y Lê Hữu Trác (tên thật Lê Hữu Huân), hiệu Hải Thượng Lãn Ông, sinh năm 1724 và mất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi 1791, tác giả bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh và Thượng kinh ký sự. Đây là lối thờ tổ họ kết hợp với lối thờ tổ nghề y cổ truyền, được UNESCO vinh danh vào tháng 11 năm 2023 nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông.
Vì sao mộ Hải Thượng Lãn Ông lại đặt ở chân núi Minh Tự
Theo truyền tích của người Hương Sơn, lúc sinh thời ông dặn con cháu khi ông mất thì thả một con diều, diều rơi ở đâu thì táng ở đó. Cánh diều rơi xuống chân núi Minh Tự và ngôi mộ đá tại đây cũng được tạo dáng như một cánh diều hạ xuống đất.
Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông diễn ra ngày nào
Từ ngày 13 tới ngày rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm, lấy ngày mất của ông (15 tháng Giêng) làm ngày chính giỗ. Lễ chia ở ba nơi gồm nhà thờ Bảo Thượng, chùa Tượng Sơn và khu mộ núi Minh Tự, kèm hoạt động khám phát thuốc miễn phí, thi thả diều sáo và đua thuyền trên sông Ngàn Phố.
Khu di tích gồm những gì
Gồm hai điểm chính trong hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt cách nhau khoảng 7 km là Khu mộ và tượng đài ở núi Minh Tự (xã Hương Sơn) và Khu lưu niệm cùng nhà thờ ở thôn Bảo Thượng (xã Sơn Giang). Kết nối trực tiếp với quần thể còn có chùa Tượng Sơn (xếp hạng di tích quốc gia năm 1994), ngôi chùa do bà ngoại ông sáng lập và là nơi ông từng mở phòng mạch, viết sách.
Nơi này được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt khi nào
Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2024 xếp hạng Mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác là Di tích quốc gia đặc biệt đợt mười sáu, đúng dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông (1724 - 2024). Trước đó khu di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1990.