Từ đường lớn rẽ vào chân núi Minh Tự, quý vị đi một quãng đường dốc thoai thoải rồi thấy một khoảnh đất phẳng, xây bằng đá nguyên khối, nằm lọt giữa rừng cây. Ngôi mộ ở đó không cao, không có nhà bia lớn án ngữ, không có tượng canh hai bên. Nhìn từ trên xuống, khối đá ấy trải ra như một cánh diều đã hạ xuống và nằm im.
Hình cánh diều không phải chuyện tình cờ. Theo tích mà người Hương Sơn kể lại, lúc còn sống Lê Hữu Trác đã dặn con cháu rằng khi ông mất thì thả một con diều lên, diều rơi ở đâu thì đưa ông về nằm ở đó. Diều rơi xuống chân núi Minh Tự, và mảnh đất này thành nơi ông nằm lại hơn hai trăm năm. Cách đó chừng bảy cây số, bên dòng Ngàn Phố, là nhà thờ và khu lưu niệm, nơi con cháu họ Lê Hữu và người làm thuốc bốn phương về thắp hương.
INgười Được Thờ Và Lối Thờ Tổ Nghề
Lê Hữu Trác sinh năm 1724, gốc ở đất Đường Hào thuộc trấn Hải Dương xưa, nay là vùng Hưng Yên. Quãng giữa đời ông về quê mẹ ở Bàu Thượng trên đất Hương Sơn, và ở lại đó cho tới lúc mất. Hiệu Hải Thượng Lãn Ông mà ông tự đặt có nghĩa là ông già lười ở Hải Thượng, trong đó chữ Hải và chữ Thượng được nhiều nhà nghiên cứu giải là lấy từ tên hai vùng đất gắn với ông, còn chữ lãn là lười, một chữ ông tự nhận để nói rằng mình lười với đường công danh chứ không lười với nghề.
Ông mất vào ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi, tức năm 1791. Thứ ông để lại không phải đền đài mà là sách: bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập với 66 quyển, bộ sách thuốc lớn nhất của y học cổ truyền nước ta, cùng tập ký Thượng kinh ký sự chép chuyến ông được vời ra kinh. Trong bộ sách ấy có phần bàn riêng về phép làm người của thầy thuốc, thường được gọi gọn là chín điều y huấn, và chính phần ấy khiến ông được thờ như một vị tổ nghề chứ không chỉ được nhớ như một tác giả.
Lối thờ ở đây cần được gọi cho đúng. Người nằm dưới chân núi Minh Tự không phải thần, không được triều đình phong làm thành hoàng, không có thần tích, không có sắc phong theo lối đền miếu. Nơi này đứng ở chỗ giao của hai lối thờ quen thuộc trong nếp nhà người Việt.
Lối thứ nhất là thờ tổ họ. Nhà thờ ở Bảo Thượng trước hết là nhà thờ của một dòng họ, con cháu họ Lê Hữu giữ hương khói theo lệ nhà, giỗ theo ngày mất, cúng theo lối gia tiên. Lối thứ hai là thờ tổ nghề. Người làm thuốc cổ truyền khắp nước lấy ngày giỗ ông làm ngày về bái tổ, và khi họ đứng trước ban thờ ấy thì họ đứng với tư cách người nối nghề chứ không phải người trong họ. Hai lối ấy chồng lên nhau trên cùng một ban thờ, và đó là nét riêng của nơi này.
Xin nói thẳng một điều để quý vị khỏi trông đợi nhầm. Đây không phải một ngôi đền cổ. Phần thờ tự ở đây mỏng hơn các đền miếu có hàng trăm năm hương khói: không có hậu cung sâu, không có bộ hoành phi câu đối nhiều đời, không có lệ hầu, không có hệ thần đông đảo. Cái được giữ ở đây là một ngôi mộ, một nhà thờ họ, một ngôi chùa ông từng ở, và một nếp giỗ. Nói vậy không phải để hạ thấp nơi này, mà để quý vị đọc nó cho đúng: giá trị của nó nằm ở chỗ một người làm nghề chữa bệnh được cả một nghề nhận làm tổ, chứ không nằm ở quy mô công trình.
IITừ Nấm Mộ Chân Núi Đến Khu Lưu Niệm
Khu di tích hôm nay không hình thành một lần mà bồi dần qua hơn hai thế kỷ, bắt đầu từ một nấm mộ giữa rừng, rồi tới nhà thờ họ, rồi tới các hạng mục dựng thêm trong vài chục năm gần đây.
- 1724Lê Hữu Trác sinhSinh ở đất Đường Hào thuộc trấn Hải Dương xưa, nay là vùng Hưng Yên. Quãng giữa đời ông về ở Bàu Thượng trên đất Hương Sơn, quê mẹ.
- Thời LêChùa Tượng Sơn được dựngNgôi chùa do người trong họ nội ông đứng ra dựng, về sau là nơi ông ở, bốc thuốc và viết phần lớn bộ sách của mình. Tư liệu địa phương ghi ông gắn bó với chùa trong khoảng những năm 1760 tới 1786.
- 1791Ông mất và được táng ở núi Minh TựMất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi. Theo tích của người Hương Sơn, con cháu thả diều theo lời ông dặn, diều rơi xuống chân núi Minh Tự và mộ được đặt ở đó.
- 1990Xếp hạng di tích quốc giaMộ và khu lưu niệm được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
- 1994Chùa Tượng Sơn được xếp hạngNgôi chùa gắn với quãng đời làm thuốc và viết sách của ông được công nhận di tích quốc gia, thành một điểm trong mạch di tích về ông ở Hương Sơn.
- 2013Dựng tượng đài trên đỉnh núi Minh TựPho tượng bằng đá khối, các nguồn ghi cao 16,91 mét và nặng khoảng 350 tấn, đặt trên đỉnh núi phía trên khu mộ, phía sau có ba bức phù điêu khắc lời ông dạy về y đức.
- 2015Lễ hội thành di sản phi vật thể quốc giaBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số 3465 công nhận Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
- 2024Di tích quốc gia đặc biệtQuyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt mười sáu được ký ngày 26 tháng 11 năm 2024, đúng dịp tròn ba trăm năm ngày sinh của ông.
Tích thả diều là truyền tích của vùng Hương Sơn, không phải ghi chép trong chính sử, và thư viện ghi lại đúng như vậy. Các bản kể cũng không hoàn toàn khớp nhau: có bản nói diều được thả từ ngọn núi giả đắp trong vườn nhà ông, có bản nói thả từ chính khu ông ở. Điều khảo được là ngôi mộ nằm ở chân núi Minh Tự và được người sau giữ liên tục.
Cái đáng đọc trong tích ấy không phải chuyện con diều bay được bao xa. Thả diều là phó mặc việc chọn huyệt cho gió, tức là từ chối phép chọn đất của thầy địa lý. Một người cả đời dạy rằng phải xem bệnh cho kỹ rồi mới bốc thuốc, tới việc chọn chỗ nằm của chính mình thì lại buông tay cho trời định. Người Hương Sơn giữ tích ấy lâu như vậy vì nó nói được cái tính của ông, chứ không phải vì nó là một sự kiện cần chứng minh.
IIIHai Khu Cách Nhau Bảy Cây Số
Quần thể chia làm hai khu chính nằm cách nhau chừng bảy cây số, cộng thêm một ngôi chùa gắn với đời ông. Thư viện viết ở tầng cụm và chỉ nêu cái khung của từng phần, vì mỗi phần đủ sức đứng thành một trang riêng.
Ở chân núi Minh Tự, thôn Hải Thượng. Mộ xây bằng đá nguyên khối, phần mộ chỉ chừng mười lăm mét vuông, nằm giữa một khuôn viên rộng được các nguồn ghi là hơn mười bảy nghìn mét vuông. Lối bày mộ thấp và trải rộng, người địa phương ví như một cánh diều đã hạ.
Cách khu mộ chừng sáu trăm mét, dựng năm 2013 bằng đá khối, phía sau có ba bức phù điêu khắc lời ông dạy về y đức. Đây là hạng mục mới, không phải công trình cổ.
Ở thôn Bảo Thượng, gồm cổng, nhà bia, núi giả, hồ sen, bái đường và thượng điện. Thượng điện là nhà thờ, nơi đặt ban thờ chính. Trong khuôn viên có vườn thuốc trồng hơn sáu chục loài cây thuốc và một vườn cây ăn quả bản địa.
Ngôi chùa dựng từ thời Lê, nơi ông ở, bốc thuốc và viết sách trong nhiều năm. Đây là mắt xích nối đời tu thân của ông với đời làm thuốc, và là nơi diễn ra lễ cầu an trong kỳ lễ hội hằng năm.
Về diện tích khu lưu niệm thì các nguồn ghi vênh nhau, thư viện nêu thẳng ra chứ không chọn bừa. Có nguồn ghi khu lưu niệm rộng 11.249,2 mét vuông. Có nguồn ghi 13.500 mét vuông với mười tám hạng mục. Khả năng là hai con số tính theo hai phạm vi khác nhau, một bên tính phần lõi và một bên tính cả phần mở rộng, nhưng chưa có một con số chính thức thống nhất nên quý vị nên biết là có hai cách ghi.
Một điểm nên lưu ý khi đọc kiến trúc ở đây: phần mới chiếm tỷ trọng lớn. Tượng đài dựng năm 2013, nhiều hạng mục trong khu lưu niệm được xây trong vài chục năm gần đây. Phần thực sự cổ là ngôi mộ, nếp nhà thờ họ và ngôi chùa Tượng Sơn. Quý vị nên phân biệt rõ hai lớp ấy để không nhận nhầm công trình mới thành di vật cũ.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Với mộ phần thì phép xem đất cổ truyền có tên riêng là âm trạch, phân biệt với dương trạch là đất ở của người sống. Ở âm trạch, thứ được coi trọng trước hết là chỗ dựa sau lưng, gọi là hậu chẩm, tức chỗ gối đầu. Mộ ở đây gối hẳn vào sườn núi Minh Tự, một khối núi thấp thuộc dải đồi trung du Hương Sơn. Phía trước mộ là khoảng thoải mở ra hướng đồng và hướng sông, đóng vai minh đường, tức khoảng sáng trước huyệt để khí tụ lại mà không bị chắn.
Hình thế ngọn núi đáng để ý. Núi Minh Tự không có sống nhọn, không có vách dựng, mà là khối thấp và đầy. Trong cách phân loại cổ truyền, dạng núi ấy thuộc hành Thổ, nặng và ổn định, ứng với sự nuôi dưỡng chứ không ứng với sự phát võ hay phát quan. Đặt mộ một người cả đời làm nghề nuôi dưỡng thân người vào chân một ngọn núi hành Thổ là chỗ mà phép cũ gọi là đắc vị, tức được đúng chỗ. Cách bày mộ thấp và trải rộng cũng đi cùng mạch ấy: không dựng cao, không lấy thế áp, mà nằm phẳng vào lòng đất.
Nhưng chỗ hay nhất của thế đất này lại nằm ở cách chọn huyệt chứ không nằm ở bản thân huyệt. Người xưa chọn đất táng kỹ hơn bất cứ việc gì, thường mời thầy địa lý đi tầm long điểm huyệt, tính cả hướng lẫn phân kim. Ở đây thì huyệt được chọn bằng một con diều. Đọc theo lối cũ, thả diều mà định huyệt là giao việc cho khí của trời, tức là thừa nhận rằng gió biết chỗ nào là chỗ nên nằm. Lối chọn ấy hiếm, và nó thuận với một người tự lấy hiệu là lãn ông, ông già lười, người đã từ chối đường quan để về làm thuốc.
Xét ở tầng rộng hơn, ba điểm của quần thể nằm trên cùng một dải đất do dòng Ngàn Phố nuôi: mộ ở chân núi, nhà thờ ở gần bờ, chùa Tượng Sơn ở phía dưới. Trong phép xem đất vùng trung du, dòng sông là mạch dẫn khí nối các điểm lại với nhau. Đọc như vậy thì đám rước trong kỳ lễ hội, đi từ nhà thờ lên mộ rồi sang chùa, chính là một lần đi lại dọc mạch nước ấy, chứ không đơn thuần là di chuyển giữa mấy địa chỉ.
Về hướng, cái đáng đọc ở đây không phải phương vị la bàn mà là quan hệ giữa mộ và vùng đất ông sống. Mộ gối vào núi, mặt mở ra phía thung lũng có làng mạc và ruộng vườn, tức là quay về phía những người ông từng chữa bệnh cho. Theo con mắt cổ truyền, đó là thế tọa sơn hướng điền, lưng tựa núi, mặt trông ruộng, thế của người ở lại với dân chứ không phải thế của người muốn ngự cao.
VLệ Giỗ Rằm Tháng Giêng
Nếp lễ ở đây bắt đầu từ một cái giỗ. Sau khi ông mất năm 1791, người Hương Sơn giữ lệ tế hằng năm, và lệ ấy dần lớn thành một kỳ lễ hội kéo ba ngày, từ ngày mười ba tới ngày rằm tháng Giêng âm lịch, tức lấy ngày mất làm ngày chính.
| Ngày âm lịch | Nơi | Nội dung |
|---|---|---|
| 13 tháng Giêng | Nhà thờ ở Bảo Thượng | Mở đầu kỳ lễ, con cháu họ Lê Hữu và người làm thuốc các nơi về cúng tế theo lối gia tiên. |
| 14 tháng Giêng | Chùa Tượng Sơn | Lễ cầu an và cầu sức khỏe theo lệ nhà chùa, tại ngôi chùa ông từng ở và viết sách. |
| Rằm tháng Giêng | Khu mộ chân núi Minh Tự | Ngày chính giỗ. Lễ dâng hương tại mộ, là lúc đông người nhất trong năm. |
| Trong ba ngày lễ | Cả vùng Hương Sơn | Phần hội gồm lễ rước, đua thuyền trên sông Ngàn Phố, gói bánh chưng, đẩy gậy, vật tay và các trò của làng. |
Điều làm kỳ lễ này khác các hội làng khác là thành phần người về. Ngoài con cháu trong họ và dân trong vùng, đây là dịp người làm nghề thuốc cổ truyền từ nhiều tỉnh về dâng hương, nhiều đoàn mang theo thuốc để khám và phát cho người trong vùng ngay trong ngày hội. Cái giỗ của một dòng họ vì thế mang thêm vai một kỳ họp mặt của nghề, và nơi này mang dáng một tổ đình nghề nhiều hơn là một ngôi đền.
Lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3465 năm 2015. Hồ sơ ghi nhận lễ hội hình thành từ nếp tế giỗ của dân Hương Sơn sau khi ông mất, tức là một nếp lễ có gốc từ việc nhà rồi mở rộng thành việc làng và việc nghề, chứ không phải một lễ hội được lập ra về sau.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Mộ ở núi Minh Tự, xã Sơn Trung cũ, nay là xã Hương Sơn, nhà thờ và khu lưu niệm ở xã Quang Diệm cũ, nay là xã Sơn Giang, tỉnh Hà Tĩnh
- Đường tới
- Mộ nằm ở núi Minh Tự thuộc xã Sơn Trung cũ, nay là xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà thờ và khu lưu niệm ở xã Quang Diệm cũ, nay là xã Sơn Giang, cách khu mộ chừng bảy cây số. Chùa Tượng Sơn nằm cùng tuyến, thường được đi liền trong một chuyến.
- Toạ độ
- 18.5295, 105.4339
Đây là nơi thờ tự và mộ phần của một dòng họ, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào bái đường và thượng điện, đi nhẹ nói khẽ trong khu mộ, không ngồi và không đặt đồ lên phần mộ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Vườn thuốc trong khu lưu niệm là vườn đang được chăm, xin quý vị không tự ý hái lá. Nếu đi trong ba ngày rằm tháng Giêng thì nên tính cả ba điểm là nhà thờ, khu mộ và chùa Tượng Sơn trong một chuyến, vì lễ chia ra ở cả ba nơi.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác
Contribute photos, information or video for Tomb and Memorial Site of Le Huu TracThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Mộ và khu lưu niệm Lê Hữu Trác thờ ai
Thờ Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, sinh năm 1724 và mất rằm tháng Giêng năm Tân Hợi 1791, tác giả bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh. Đây là lối thờ tổ họ chồng với lối thờ tổ nghề, không phải thờ thần và không có sắc phong theo lối đền miếu.
Vì sao mộ Hải Thượng Lãn Ông lại đặt ở chân núi Minh Tự
Theo tích của người Hương Sơn, lúc sinh thời ông dặn con cháu khi ông mất thì thả một con diều, diều rơi ở đâu thì táng ở đó. Diều rơi xuống chân núi Minh Tự. Đây là truyền tích của vùng chứ không phải ghi chép trong chính sử.
Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông diễn ra ngày nào
Từ ngày mười ba tới ngày rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm, lấy ngày mất của ông làm ngày chính. Lễ chia ở ba nơi là nhà thờ Bảo Thượng, chùa Tượng Sơn và khu mộ, kèm phần hội với lễ rước và đua thuyền trên sông Ngàn Phố.
Khu di tích gồm những gì
Hai khu chính cách nhau chừng bảy cây số: khu mộ và tượng đài ở chân núi Minh Tự, khu lưu niệm và nhà thờ ở Bảo Thượng gồm cổng, nhà bia, hồ sen, bái đường, thượng điện và vườn thuốc. Ngoài ra còn chùa Tượng Sơn, nơi ông ở và viết sách, được xếp hạng di tích quốc gia năm 1994.
Nơi này được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt khi nào
Quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt mười sáu được ký ngày 26 tháng 11 năm 2024, đúng dịp tròn ba trăm năm ngày sinh của ông. Trước đó nơi này đã được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1990.