Đi hết con đường làng Tam Đường, quý vị không gặp ngay một mái đền mà gặp trước tiên mấy gò đất lớn nổi lên giữa ruộng, chân gò kè gạch thành vòng tròn. Dân trong thôn gọi tên từng gò là Phần Đa, Phần Trung, Phần Bụt, gọi quen như gọi tên xóm. Dưới những gò ấy là chỗ táng của lớp người đầu tiên trong một dòng họ về sau làm vua, và đó mới là phần lõi của nơi này.
Ba tòa đền nằm cách đó không xa, dựng thành một cụm nhìn ra cùng một hướng: đền Vua, đền Thánh và đền Mẫu. Cách chia vai như thế không có nhiều nơi làm, và nó chỉ hợp lý khi ta nhớ rằng mảnh đất này không phải nơi thờ vọng. Đây là đất tổ và là nơi táng, chỗ mà mọi nếp thờ nhà Trần ở đồng bằng đều quay về.
IĐất Tổ Và Những Vị Được Thờ
Nơi này có hai lớp chồng lên nhau, và phải tách rõ hai lớp mới hiểu được cách bày đặt của nó. Lớp thứ nhất là đất phát tích, tức quê gốc nơi họ Trần từ nghề chài lưới ven sông mà dựng nên cơ nghiệp. Lớp thứ hai là nơi táng, tức chỗ đặt lăng của các vị vua đầu triều cùng tôn miếu của cả họ. Hai lớp ấy làm cho Tam Đường thành cái gốc, còn các nơi thờ nhà Trần khác là các cành.
Xét theo lối cổ truyền, đây là thờ cúng tổ tiên ở dạng đầy đủ nhất mà một dòng họ có thể có: có mộ, có miếu, có ngày giỗ, có con cháu và dân làng cùng lo việc. Khác với một ngôi đền dựng lên để thờ vọng một vị đã được phong thần, một khu đất tổ giữ đủ ba thứ mà phép thờ tự xưa coi là đủ lễ, gồm mộ phần để yên chỗ nằm, nhà thờ để yên chỗ ngồi của bài vị, và ruộng lệ cùng lệ làng để việc thờ không đứt. Khi dòng họ ấy làm vua thì lễ nhà biến thành lễ nước, nhưng cái khung vẫn là khung giỗ tổ.
Cách chia ba tòa ở đây đọc được theo đúng khung ấy. Tòa thờ các vị đế vương là phần trên của họ. Tòa thờ vị tướng lớn của triều là phần công. Tòa thờ các bà là phần nội, chỗ mà gia phả cũ thường ghi gọn rồi thôi, nhưng ở đây lại được dựng riêng một nếp nhà.
Theo hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản, ba tòa đền thờ như sau. Đền Vua, khuôn viên khoảng 6.498 mét vuông, thờ ba vị vua đầu triều là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa cùng các bậc cao tổ và tằng tổ của dòng họ. Đền Thánh, khoảng 6.011 mét vuông, thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, phu nhân là Nguyên Từ Quốc mẫu cùng hai vị công chúa. Đền Mẫu, khoảng 6.228 mét vuông, thờ các quốc mẫu và công chúa đầu triều Trần.
Việc dựng riêng một tòa cho nữ giới hoàng tộc là điểm đáng ghi. Ở phần lớn đền miếu Bắc Bộ, các bà được phối thờ trong cùng một tòa với chồng hoặc với cha, đặt ở ban bên. Tại đây các bà có một nếp nhà riêng ngang hàng với hai tòa kia, tức là được đặt ở vị thế của một lớp thờ độc lập chứ không phải một ban phụ.
Chỗ hay hiểu lầm nhất là lẫn nơi này với các nơi thờ nhà Trần khác, vì tên gọi quen thuộc của cả bốn nơi đều có chữ Trần. Xin nói rõ phần việc của từng nơi bằng giọng sử liệu, không xếp nơi nào hơn nơi nào.
Tam Đường là đất tổ và nơi táng, tức chỗ có mộ phần và tôn miếu. Đền Trần Nam Định dựng trên nền hành cung Thiên Trường ở đất Tức Mặc, là nơi thờ gắn với chỗ các Thượng hoàng về ngự. Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều là vùng lăng tẩm về sau cùng các chùa am của thiền phái Trúc Lâm. Đền Trần Thương là một nơi thờ riêng Hưng Đạo Đại vương, gắn với tích kho lương. Bốn nơi không thay thế nhau được, vì mỗi nơi giữ một khúc khác nhau của cùng một dòng họ.
IITừ Mộ Tổ Đến Khu Di Tích
Lịch sử ở đây không chạy liền một mạch. Có một đoạn dày thuộc thế kỷ 13 và 14, khi đất này mang tên Long Hưng và là chỗ đặt tôn miếu cùng lăng tẩm. Sau đó là một khoảng dài mà tư liệu thưa hẳn, nếp thờ chỉ còn giữ trong lệ làng. Rồi tới lớp gần đây, khi khảo cổ học vào cuộc và các tòa đền được phục dựng.
- Thế kỷ 13Long Hưng thành đất tôn miếuVùng Tam Đường được chọn làm nơi đặt tôn miếu và lăng mộ của dòng họ, đồng thời có hành cung Long Hưng để vua về làm lễ tổ tiên khi trở lại quê gốc.
- 1234Thọ LăngNơi táng Thái Tổ Trần Thừa, vị Thượng hoàng đầu tiên của triều. Đây là lăng sớm nhất trong khu.
- 1277Chiêu LăngNơi táng Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần.
- 1290Dụ LăngNơi táng Trần Thánh Tông.
- 1310Đức LăngNơi táng Trần Nhân Tông, vị vua đã xuất gia và được tôn là Phật hoàng. Một số tài liệu chép tên lăng này là Quy Đức Lăng.
- 1381Dời một phần lăng về An SinhTheo sử cũ, trong năm này triều đình cho dời lăng một số vị vua từ đất Long Hưng và các nơi khác về An Sinh thuộc Đông Triều. Từ đó hệ lăng tẩm nhà Trần có hai vùng chứ không còn một.
- 1979 tới 1990Bốn đợt khai quật khảo cổCác đợt khai quật tìm thấy dấu vết kiến trúc và nhiều hiện vật trải từ lớp Lý qua lớp Trần tới lớp Nguyễn, đủ để xác nhận Tam Đường là nơi đặt tôn miếu, lăng mộ vua và hoàng hậu cùng hành cung Long Hưng.
- Những năm 1990Phục dựng ba tòa đềnĐền Vua, đền Thánh và đền Mẫu như quý vị thấy hôm nay chủ yếu được dựng lại trong giai đoạn này, làm khung gỗ theo lối cổ truyền.
- 2014Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408 ngày 31 tháng 12 năm 2014, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần.
Có mấy chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng chứ không chọn bừa. Thứ nhất là tên lăng thứ tư: hồ sơ di tích ghi Đức Lăng là nơi an táng Trần Nhân Tông, trong khi nhiều bài viết phổ thông ghi Quy Đức Lăng. Hai cách ghi cùng chỉ một chỗ, khác nhau ở chữ đầu.
Thứ hai là quan hệ giữa Tam Đường và Đông Triều trong việc táng các vua. Sử cũ chép việc dời lăng về An Sinh năm 1381, nhưng dời những vị nào và dời tới đâu thì các tài liệu ngày nay không thống nhất, có bản kể tên bốn vị, có bản kể nhiều hơn. Điều các nguồn đều thừa nhận là cả hai vùng đều có lăng thật chứ không phải một vùng là lăng và một vùng là vọng.
Thứ ba là ngôi mộ tổ của họ Trần trên đất này. Chuyện về nó được kể khá dày trong tư liệu địa phương và trong gia phả các chi họ, nhưng đó là lớp truyền ngôn, không phải sử biên niên. Chúng tôi ghi lại như một phần của ký ức dân gian, không dùng nó làm mốc niên đại.
IIIKhu Lăng, Ba Tòa Đền Và Nền Khảo Cổ
Điều cần hình dung trước là quy mô. Đây không phải một khuôn viên đền mà là một vùng gồm ba phần nằm cạnh nhau: khu lăng mộ ngoài đồng, khu đền thờ ba tòa, và khu nền móng khảo cổ đã khai quật. Đi một phần mà bỏ hai phần kia là mới thấy một góc.
Rộng khoảng 38.221 mét vuông, gồm ba gò lớn mà dân quen gọi là Phần Đa, Phần Trung và Phần Bụt. Chân gò được kè gạch bao quanh theo hình đường tròn đồng tâm, đường kính khoảng 65 mét. Đây là phần nguyên vẹn nhất về vị trí, vì gò đất không dời đi đâu được.
Khuôn viên khoảng 6.498 mét vuông. Mặt bằng hình chữ nhị, bảy gian tiền tế nối vào năm gian hậu cung, bộ khung gỗ chạm trổ. Đây là tòa chính của cụm đền.
Khuôn viên khoảng 6.011 mét vuông, cùng lối mặt bằng chữ nhị với đền Vua. Tòa này dành cho Hưng Đạo Đại vương cùng phu nhân và hai vị công chúa.
Khuôn viên khoảng 6.228 mét vuông, cũng làm chữ nhị. Nếp nhà riêng cho các quốc mẫu và công chúa đầu triều, một cách bày hiếm thấy ở đền miếu Bắc Bộ.
Các hố khai quật trong bốn đợt từ năm 1979 tới năm 1990 để lộ dấu kiến trúc và hiện vật nhiều lớp niên đại. Phần này không có mái che nghi lễ, nhưng lại là chỗ cho biết vì sao khu đất được xếp hạng.
Về lối bày, ba tòa đền dàn thành cụm chứ không xếp nối nhau theo một trục sâu. Cách ấy hợp với việc thờ nhiều lớp đối tượng ngang vai: vua một tòa, tướng một tòa, các bà một tòa, không tòa nào đứng sau lưng tòa nào. Bộ khung gỗ và các mảng chạm hiện nay thuộc lớp phục dựng những năm 1990, làm theo lối cổ truyền, nên quý vị đừng tìm ở đó dấu chạm thời Trần. Dấu thời Trần nằm dưới đất, trong các hố khai quật và trong hiện vật đã đưa về kho.
Một chỗ hay hiểu lầm về ba gò đất. Nhiều người nghĩ gò nào cũng là một ngôi lăng của một vị vua, đếm gò là ra số vua. Theo tư liệu địa phương thì không phải vậy: tên các gò là tên dân gian, và các lăng được chép trong sử là Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng và Đức Lăng, còn phần đất nào ứng với lăng nào thì tới nay vẫn là việc của khảo cổ chứ chưa có kết luận dứt khoát cho từng gò. Vì thế xin đọc mấy gò ấy như một khu táng chung của dòng họ, chứ đừng đọc như một bảng tên.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải. Với một khu lăng thì phần này đáng đọc kỹ, bởi người xưa chọn đất táng cẩn trọng hơn bất cứ việc nào khác.
Trước hết là thế nước. Tam Đường nằm trong vùng hợp lưu, nơi dòng sông Hồng gặp sông Luộc, gần chỗ ba bờ của ba vùng đất cũ giáp nhau. Trong phép xem đất đồng bằng, chỗ không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi, và một thế đất nằm trong tay áo của hai ba dòng chảy được coi là thủy tụ. Người xưa lấy nước làm của, lấy chỗ nước dừng làm chỗ khí dừng, nên một dòng họ đi lên từ nghề chài lưới mà chọn đất ở đúng nơi sông gặp sông là chọn theo cả lẽ sống lẫn lẽ đất.
Thứ hai là hình gò. Tư liệu địa phương truyền lại rằng khu táng được đọc theo hình tiền tam thai hậu thất tinh, nghĩa là phía trước có ba gò và phía sau có bảy gò nhỏ. Ba gò trước ứng với cách gọi ba ngôi sao của sách địa lý cũ, bảy gò sau ứng với chòm bảy sao. Đây là lối đọc rất quen của thầy địa lý xưa khi gặp một dải đất bằng có các mô đất nổi lên: không có núi thì lấy gò làm sơn, không có án sơn thì lấy gò làm án. Việc kè gạch quanh chân gò theo vòng tròn đồng tâm về sau càng làm hình ấy rõ thêm.
Thứ ba là quan hệ giữa chỗ nằm và chỗ ngồi. Trong phép cũ, đất táng gọi là âm trạch, đất dựng nhà thờ gọi là dương trạch, và hai thứ không đặt chồng lên nhau. Ở đây khu lăng nằm ngoài đồng thoáng, ba tòa đền nằm trong khu dân cư gần đó, cách một quãng vừa đủ. Đó là cách bố trí đúng sách: người nằm ở chỗ yên, người sống tới lễ ở chỗ tiện, và giữa hai chỗ có một đoạn đường để người đi lễ kịp đổi nhịp.
Thứ tư là hướng. Các tòa đền đều quay về phía có nước và có khoảng trống rộng, theo lối chuộng hướng nam và các hướng lệch nam của đền miếu Bắc Bộ. Cái minh đường ở đây không phải một cái ao đào trước cửa mà là cả một vùng ruộng bãi trải ra tới bờ sông, tức là minh đường rộng theo nghĩa lớn nhất của chữ ấy. Sách xưa khen minh đường rộng mà bằng, chê minh đường hẹp mà dốc, và đất Tam Đường rơi đúng vào vế được khen.
Sau cùng là lớp nghĩa của đất tổ. Với người xưa, chọn đất táng tổ không chỉ là chọn chỗ đẹp mà là chọn một điểm neo cho cả dòng họ, để con cháu dù đi xa tới đâu vẫn có một chỗ quay về mà giỗ. Đọc theo lối ấy thì giá trị phong thủy lớn nhất của Tam Đường không nằm ở một huyệt cụ thể nào, mà nằm ở chỗ nó là điểm gốc. Các nơi thờ nhà Trần khác dù to đẹp tới đâu cũng là nơi thờ, còn nơi này là nơi có mộ, và trong cách nghĩ cổ truyền thì hai thứ ấy không cùng một hạng.
VHội Tháng Giêng Và Lệ Của Làng
Hội mở từ ngày 13 tới ngày 16 tháng Giêng âm lịch, mở đầu bằng lễ tế mở cửa đền do các bậc cao niên thôn Tam Đường đảm nhận. Lễ hội đền Trần trên đất này đã được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều đáng chú ý là hầu hết các nghi thức trong hội đều nhắc lại nghề cũ và gốc cũ của dòng họ, chứ không nhắc chiến công.
| Ngày âm lịch | Nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 13 tháng Giêng | Tế mở cửa đền | Các cụ cao niên thôn Tam Đường dâng hoa, dâng hương, dâng rượu tại sân tòa trung tế, rồi dâng hương tại khu lăng mộ các vua Trần. |
| Ngày 13 tháng Giêng | Rước nước | Đoàn rước đi từ khu đền ra bến sông, chủ tế lấy nước giữa ngã ba sông đựng vào vò sứ lớn rồi rước về đặt tại đền Vua. Lệ này nhắc nghề chài lưới của tổ tiên họ Trần và mang ý cầu mưa thuận gió hòa. |
| Trong những ngày hội | Thi cỗ cá | Các giáp trong làng sửa cỗ có cá làm món chính để dâng lên, một tục gắn thẳng với gốc nghề sông nước của dòng họ. |
| Trong những ngày hội | Giao chạ Tam Đường và Vân Đài | Lệ kết chạ giữa hai làng được giữ trong dịp hội, hai bên qua lại lễ nhau theo thứ bậc anh em đã định từ xưa. |
| Trong những ngày hội | Trò diễn dân gian | Vật cầu, đấu gậy, thả diều, chọi gà và nấu cơm cần, đều là trò cũ của làng chứ không phải phần diễn thêm về sau. |
Lễ rước nước đáng được nhắc riêng. Nước được lấy ở giữa ngã ba sông chứ không lấy ven bờ, và người lấy nước phải là chủ tế chứ không phải người giúp việc. Trong lối thờ cúng cổ truyền, nước lấy giữa dòng là thứ tinh khiết nhất mà một làng ven sông có thể dâng lên, và việc đưa nó về đặt tại tòa thờ các vua là cách nói bằng nghi thức rằng dòng họ này ra đi từ sông nước.
Ngoài kỳ hội tháng Giêng, khu đền còn theo lệ giỗ của từng vị được thờ, trong đó ngày giỗ Hưng Đạo Đại vương vào tháng Tám âm lịch được giữ tại đền Thánh theo cùng một nếp với các nơi thờ ngài khác ở Bắc Bộ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Tam Đường, xã Tiến Đức cũ, nay là xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên
- Đường tới
- Nằm ở thôn Tam Đường, xã Tiến Đức cũ, nay là xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên, trong vùng đồng bãi gần chỗ sông Hồng gặp sông Luộc. Khu lăng mộ, khu đền thờ và khu khảo cổ nằm gần nhau, đi bộ được giữa các phần.
- Toạ độ
- 20.599, 106.1468
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động và đồng thời là một khu táng, nên lệ nhà cần được giữ cho đủ. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ trong hậu cung, đặt tiền vào hòm công đức. Ở khu lăng, xin quý vị đi theo lối đã mở quanh chân gò, không trèo lên mặt gò và không bước vào phần đất đã kè. Khu nền móng khảo cổ cũng vậy, xin đứng ngoài ranh đã đánh dấu. Ngày 13 tháng Giêng là lúc đông người nhất vì có tế mở cửa đền và rước nước, đường rước kéo dài ra tận bến sông.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu lăng mộ và đền thờ các vua Trần
Contribute photos, information or video for Tombs and Temple of the Tran Kings at Tam DuongThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Khu lăng mộ và đền thờ các vua Trần thờ ai
Đền Vua thờ ba vị vua đầu triều là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa cùng các bậc cao tổ tằng tổ. Đền Thánh thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, phu nhân và hai công chúa. Đền Mẫu thờ các quốc mẫu và công chúa đầu triều.
Khu này khác gì đền Trần Nam Định
Khác ở phần việc. Tam Đường là đất phát tích và nơi táng, có mộ phần và tôn miếu của dòng họ. Đền Trần Nam Định dựng trên nền hành cung Thiên Trường ở đất Tức Mặc, là nơi thờ gắn với chỗ các Thượng hoàng về ngự. Hai nơi thuộc hai khúc khác nhau của cùng một dòng họ.
Ở đây có những lăng nào
Hồ sơ di tích chép bốn lăng chính: Thọ Lăng táng Thái Tổ Trần Thừa, Chiêu Lăng táng Trần Thái Tông, Dụ Lăng táng Trần Thánh Tông và Đức Lăng táng Trần Nhân Tông. Một số tài liệu ghi lăng thứ tư là Quy Đức Lăng. Trên thực địa có ba gò lớn mà dân gọi là Phần Đa, Phần Trung và Phần Bụt.
Hội đền Trần ở đây mở ngày nào
Từ ngày 13 tới ngày 16 tháng Giêng âm lịch. Mở đầu là lễ tế mở cửa đền do các cụ cao niên thôn Tam Đường làm, sau đó là lễ rước nước lấy nước giữa ngã ba sông về đặt tại đền Vua, rồi tới thi cỗ cá, lệ giao chạ với làng Vân Đài và các trò diễn dân gian.
Vì sao nơi này có riêng một đền Mẫu
Vì đây là đất tổ, nơi thờ đủ các lớp người trong dòng họ chứ không chỉ thờ người đứng đầu. Các quốc mẫu và công chúa đầu triều được dựng riêng một nếp nhà ngang hàng với đền Vua và đền Thánh, khác với lối quen ở nhiều đền miếu Bắc Bộ là phối thờ nữ giới vào ban bên.