VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Khu di tích Bạch Đằng

Đền Trần Hưng Đạo Quảng Yên, miếu Vua Bà, đình Yên Giang, đền Trung Cốc, đình Trung Bản

Chuỗi đền miếu đình của các làng ven cửa sông, nơi một lớp thờ anh hùng hòa vào lớp thờ thành hoàng của dân sông nước.

Số nếp thờ tự
5
đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Yên Giang, đền Trung Cốc, đình Trung Bản
Sắc phong đền Trần Hưng Đạo
9 đạo
niên đại thời Nguyễn, còn giữ tại đền
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1419 ngày 27 tháng 9 năm 2012

Đứng trên con đê ở Quảng Yên nhìn xuống, quý vị thấy một vùng bãi triều mở ra tới cửa biển, nước lên nước xuống hai lần mỗi ngày, và rải trên vùng ấy là những gò đất cao có mái đình mái đền. Mỗi nếp nhà thuộc về một làng, mỗi làng có ngày lệ riêng, nhưng tới tháng Ba âm lịch thì các đoàn rước đi tìm nhau và nhập thành một hội chung.

Khu di tích này mang tên một dòng sông, và cái tên ấy dễ khiến người ta tưởng nơi đây chỉ là một bãi chiến địa được giữ lại. Thư viện xin viết theo lối khác, tức viết cái thờ. Phần sống nhất của khu di tích là năm nếp thờ tự gồm đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Yên Giang, đền Trung Cốc và đình Trung Bản, cùng ba bãi cọc là Yên Giang, Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa, di tích của trận thủy chiến năm 1288 và cũng là lý do khiến dân vùng này lập đền.

INăm Nếp Thờ Và Những Vị Được Thờ

Năm nếp thờ ở đây không thờ cùng một kiểu. Có nếp thờ một vị đại vương, có nếp thờ hai vị tướng, có nếp thờ thành hoàng làng, và có một nếp thờ một người đàn bà bán nước ven sông. Đọc cả năm cùng lúc thì thấy một điều mà đọc lẻ từng nơi sẽ không thấy: đây là lớp thờ của dân sông nước, nơi việc thờ anh hùng và việc thờ thành hoàng đã đan vào nhau tới mức khó tách.

Theo giáo nghĩa

Theo lối thờ tự cổ truyền của làng xã Bắc Bộ, mỗi làng có một vị thành hoàng, tức vị thần được làng nhận làm chủ của đất mình. Thành hoàng có thể là một vị thần tự nhiên, một vị tổ nghề, một người có công với làng, hoặc một nhân vật lớn của cả nước mà làng xin rước về làm thần của riêng mình. Khi một làng rước một vị đại vương về làm thành hoàng thì vị ấy không còn chỉ là nhân vật của sử sách nữa mà thành người nhà của làng, được giỗ theo lệ làng và được thờ trong nếp đình của làng.

Đó chính là việc đã xảy ra ở vùng này. Hưng Đạo Đại vương được nhiều làng nhận làm thần chủ, và cùng lúc ấy các vị khác cũng được thờ bên cạnh ngài mà không ai thấy khấp khểnh. Phép thờ làng xã không xếp hạng các vị theo công trạng trong sử, mà xếp theo chỗ mỗi vị đứng trong đời sống của làng.

Theo sử liệu

Xin ghi lại phần việc của từng nếp thờ theo hồ sơ di tích và tư liệu địa phương.

Đền Trần Hưng Đạo thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, khuôn viên khoảng 5.000 mét vuông, hiện còn giữ chín đạo sắc phong niên đại thời Nguyễn. Miếu Vua Bà thờ một bà bán hàng nước bên bến đò cũ, người mà dân vùng này tôn làm thần. Đền Trung Cốc ở vùng Phong Cốc thờ chung Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão. Đình Trung Bản bên vùng Liên Hòa cũng thờ Hưng Đạo Đại vương, hiện giữ sáu đạo sắc phong của các đời Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh và Duy Tân. Đình Yên Giang thờ thành hoàng làng, và theo tư liệu địa phương thì vị được làng tôn làm thành hoàng ở đây cũng chính là Hưng Đạo Đại vương.

Riêng miếu Vua Bà đáng nói kỹ hơn, vì đây là một trường hợp phong thần hiếm gặp. Thần tích chép rằng bà là con nhà chài, cha mẹ mất tích trên biển, bà ở lại bến đò bán nước cho khách qua sông và thuộc lòng con nước lên xuống của từng lạch. Sau sự kiện năm 1288, triều đình ban cho dân làng bốn chữ mà tư liệu chép là An Hưng nghĩa dân, còn bà được ban tước vương. Dân dựng miếu ngay nơi quán nước cũ và gọi bà là Vua Bà, gọi theo tước đã ban chứ không phải theo ngôi vị.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, khu di tích này không phải một nơi thờ tập trung. Nhiều người nghe tên rồi hình dung một khu đền lớn có tường bao. Thực ra đây là chuỗi các nếp nhà của những làng khác nhau, cách nhau nhiều cây số, mỗi nếp do một cộng đồng trông coi, và cái làm chúng thành một khối là kỳ hội chung chứ không phải một ban quản lý hay một khuôn viên.

Thứ hai, đây không phải trung tâm của tín ngưỡng Đức Thánh Trần. Trung tâm ấy là đền Kiếp Bạc, nơi Hưng Đạo Đại vương lập phủ đệ và là cửa đền gốc của dòng lễ Trần Triều với lệ hầu thánh riêng. Ở Bạch Đằng, ngài được thờ theo lối làng xã, đứng cạnh một bà hàng nước và các vị thành hoàng, trong những nếp đình do dân làng sửa lễ. Hai lối thờ ấy khác nhau về khuôn khổ, và người đi lễ sẽ thấy ngay sự khác nhau ấy trong cách bày ban và cách hành lễ.

IITừ Quán Nước Bến Đò Đến Chuỗi Di Tích

Không có một mốc khởi dựng chung cho cả khu, vì năm nếp thờ thuộc năm lớp niên đại khác nhau. Điều các nguồn thống nhất là lớp thờ tự ở đây bắt đầu từ sau sự kiện năm 1288 và được các triều nối nhau nhận, thể hiện qua các đạo sắc phong còn giữ tại đền và đình.

  • Sau năm 1288Dựng miếu nơi quán nước cũ
    Theo thần tích, dân làng dựng miếu thờ bà hàng nước ngay tại chỗ quán cũ bên bến đò, sau khi bà được triều đình ban tước vương.
  • Thời Hậu LêCác nếp đình làng định hình
    Đình Yên Giang, đình Trung Bản và các nếp thờ khác thuộc lớp đình làng vùng cửa sông, hiện còn giữ di vật và cổ vật của lớp Hậu Lê cùng lớp Nguyễn.
  • 1807Dựng lại đền Trung Cốc
    Theo tư liệu địa phương, ngôi đền vốn làm bằng tranh tre, tới năm Gia Long thứ sáu được dựng lại bằng vật liệu bền và giữ dáng ấy cho tới nay.
  • Thế kỷ 19Các đợt ban sắc phong
    Đình Trung Bản còn sáu đạo sắc của các đời Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh và Duy Tân. Đền Trần Hưng Đạo còn chín đạo sắc niên đại thời Nguyễn.
  • 1936Dời đền Trần Hưng Đạo
    Ngôi đền được chuyển về vị trí hiện nay trên gò đất cao bên bờ sông, cạnh miếu Vua Bà và bến đò cũ.
  • 2001Dựng lại miếu Vua Bà
    Miếu được làm lại gồm tòa bái đường và hậu cung có tượng thờ. Trong khuôn viên còn cây quếch cổ thụ, thứ mà dân làng coi là vật chứng của bến nước xưa.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1419 ngày 27 tháng 9 năm 2012, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho di tích lịch sử Bạch Đằng.
  • 2021Lễ hội vào danh mục di sản quốc gia
    Lễ hội truyền thống Bạch Đằng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2970 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Theo sử liệu

Về niên đại khởi dựng của từng nếp thờ, các nguồn phần lớn chỉ ghi chung là lớp Hậu Lê và lớp Nguyễn, không nêu năm. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản cũng ghi theo cách ấy. Vì vậy trường niên đại của trang này để là chưa rõ, và các mốc nêu trên chỉ là những mốc có tư liệu bảo chứng, không phải năm dựng gốc.

Về số điểm trong khu di tích, các nguồn cũng ghi rộng hẹp khác nhau. Hồ sơ di tích kể thêm đình Điền Công bên vùng Uông Bí vào danh sách các nếp thờ của khu, trong khi nhiều tài liệu phổ thông chỉ kể năm nếp. Trang này viết theo cách kể năm nếp, đồng thời ghi nhận rằng có nguồn kể sáu.

IIINhững Nếp Nhà Trên Gò Đất Cao

Điểm chung dễ thấy nhất của cả năm nếp thờ là chỗ đặt: đều nằm trên gò đất cao giữa một vùng bãi triều thấp. Ở vùng đất bồi ven cửa sông, một gò cao hơn mặt ruộng vài thước là của quý, vì nó không ngập khi nước lớn. Dân vùng này dành chỗ ấy cho nếp thờ trước khi dành cho nhà ở.

Đền Trần Hưng Đạo

Khuôn viên khoảng 5.000 mét vuông, mặt bằng hình chữ đinh gồm ba gian tiền đường, hai gian bái đường và một gian hậu cung. Cổng làm bốn trụ lớn mở ba lối, mái lợp ngói vảy cá, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt. Trong đền có lư hương đá xanh và đôi đèn đá. Sân đủ rộng cho hàng nghìn người dự lễ.

Miếu Vua Bà

Nhỏ hơn hẳn ngôi đền bên cạnh, gồm tòa bái đường và hậu cung đặt tượng thờ, dựng lại năm 2001 trên nền quán nước cũ. Trong khuôn viên có cây quếch cổ thụ và lối xuống bến đò cũ.

Đình Yên Giang

Nếp đình làng của một trong các làng ven sông, giữ vai trò nơi hội họp và tế lễ của cả làng. Đây cũng là một trong ba điểm mà đám rước chính của kỳ hội tháng Ba phải đi qua.

Đền Trung Cốc

Trên gò đất cao giữa thôn thuộc vùng Phong Cốc, thờ chung hai vị. Dáng đền hiện nay có từ lần dựng lại năm 1807, quy mô gọn, mặt bằng theo lối đền làng vùng ven biển.

Đình Trung Bản

Trên gò đất cao thuộc vùng Liên Hòa, diện tích hơn 500 mét vuông, mặt bằng hình chuôi vồ gồm tiền đường, bái đường và hậu cung. Các bộ vì chạm nổi rồng, mây và hoa văn lá cách điệu. Trong đình có tượng thờ Hưng Đạo Đại vương.

Một chi tiết đáng dừng lại là pho tượng ở đình Trung Bản. Truyền ngôn của làng gắn ngôi đình với việc vị đại vương từng dừng chân búi lại tóc tại gò đất này, và pho tượng trong đình tạc theo đúng tích ấy. Đây là lối tạo tượng theo truyền ngôn địa phương chứ không theo khuôn tượng thờ chung, và nó cho thấy các làng ở đây không rước về một hình mẫu có sẵn mà dựng lấy hình của riêng mình.

Về vật liệu và niên đại, hầu hết các nếp nhà quý vị thấy hôm nay đều thuộc các lớp trùng tu của thời Nguyễn và về sau. Phần cổ nhất còn giữ được không nằm ở bộ khung mà nằm ở giấy sắc, bia đá, đồ thờ và tượng, những thứ được các làng cất giữ cẩn thận qua nhiều lần dựng lại nhà.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Trước hết phải nhận rằng đây là một vùng đất non theo nghĩa của phép xem đất. Toàn bộ khu vực là đất bồi cửa sông, hình thành muộn, không có núi, không có mạch đá, nước mặn nước ngọt giao nhau theo con triều. Sách địa lý cũ vốn viết cho vùng trung du và đồng bằng ổn định, khi đem áp vào một vùng như thế này thì phải đổi cách đọc.

Cách đổi ấy chính là chỗ hay. Ở vùng không có sơn, người xưa lấy làm sơn. Năm nếp thờ đều đặt trên gò đất cao, và trong con mắt cổ truyền thì mỗi gò là một huyệt nổi giữa thủy, tức chỗ đất tự nhô lên khỏi mặt nước để tụ khí. Chọn gò cao cũng là chọn chỗ không ngập, nên ở đây phép phong thủy và kinh nghiệm sống trùng làm một, không tách được.

Thứ hai là thế nước. Đất này nằm ở chỗ sông đổ ra biển, nơi mà phép cũ gọi là thủy khẩu, tức cửa nước. Thủy khẩu được coi là chỗ hệ trọng bậc nhất trong một cuộc đất, vì nó là chỗ khí ra vào. Sách xưa dạy rằng thủy khẩu cần có vật trấn giữ, có thể là một gò, một cây cổ thụ hay một nếp thờ. Nhìn theo lối ấy thì chuỗi đền miếu rải dọc hai bên cửa sông đang làm đúng việc của những cột mốc trấn thủy khẩu, dù người dựng chúng có nghĩ tới điều đó hay không.

Thứ ba là hướng. Các nếp thờ ở đây phần lớn quay mặt ra sông hoặc ra khoảng trống rộng của bãi triều, chứ không xoay theo địa bàn một cách cứng nhắc. Với làng chài thì mặt nước là mặt trước của đời sống, nên đặt cửa đền nhìn ra nước là đặt theo lẽ thật. Cái minh đường ở đây là mặt sông, thứ minh đường rộng nhất mà một làng có thể có, nhưng cũng là thứ động nhất, lên xuống hai lần mỗi ngày.

Sau cùng là cây và bến. Cây quếch cổ thụ trong khuôn viên miếu Vua Bà và bến đò cũ bên cạnh đáng được đọc như một phần của thế đất chứ không chỉ là cảnh vật. Trong cách nghĩ cổ truyền, một cây lớn sống lâu ở đầu bến là vật giữ hồn cho chỗ ấy, và một nếp thờ dựng dưới bóng cây đầu bến là nếp thờ đặt vào đúng chỗ mà người qua lại đã quen dừng chân. Miếu Vua Bà không được chọn chỗ bởi thầy địa lý, mà được chọn bởi thói quen của người đi đò, và trong phép xem đất thì một chỗ đã tụ người từ lâu cũng là một chỗ tụ khí.

VKỳ Hội Tháng Ba Của Các Làng

Kỳ hội chung mở vào tháng Ba âm lịch. Trường dữ kiện chính thức của thư viện ghi hội mở từ mùng Sáu tới mùng Chín tháng Ba, và hồ sơ di tích cũng ghi như vậy, trong khi một số bản tin lại ghi hội kéo từ mùng Sáu tới mùng Tám. Chúng tôi ghi cả hai cách ghi chứ không chọn bừa, và điều các nguồn đều thống nhất là hội khai vào mùng Sáu tháng Ba.

Các nghi thức chính của kỳ hội chung và ngày giỗ trong năm. Nguồn: Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản và các bản tin về lễ hội truyền thống Bạch Đằng..
Thời điểm âm lịchNơiNội dung
Mùng 6 tháng BaĐền Trần Hưng Đạo và miếu Vua BàNgày khai hội. Các làng sửa lễ, dâng hương và tế tại hai nếp thờ nằm cạnh nhau bên bến đò cũ.
Mùng 6 tới mùng 9 tháng BaĐền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Yên GiangĐám rước lớn của kỳ hội đi nối ba điểm này theo lối rước đã thành lệ từ lâu, có múa lân rồng, chiêng trống, cờ ngũ sắc và kiệu.
Trong những ngày hộiCác làng vùng Hà NamNhiều đoàn rước của các làng cùng về, mỗi đoàn mang lễ và đồ nghi trượng của làng mình, nhập vào đám rước chung rồi lại tách về đình làng.
Trong những ngày hộiBến đò cũ và mặt sôngLệ thả đèn trên mặt nước tại bến cũ, một nghi thức của dân sông nước dành cho những người đã khuất trên sông.
Trong những ngày hộiSân đình và bãi rộngHát đúm, đánh đu, đua thuyền và các trò cũ của làng chài, diễn ở sân đình và trên mặt nước.
Ngày 20 tháng TámĐình Trung Bản và các nếp thờ Hưng Đạo Đại vươngNgày giỗ Hưng Đạo Đại vương, giữ theo lệ chung của các nơi thờ ngài ở Bắc Bộ, quy mô gọn hơn kỳ hội tháng Ba.

Điều đáng chú ý nhất trong kỳ hội là cách các làng nhập lại. Mỗi làng vẫn giữ nếp thờ, ngày lệ và đội tế riêng của mình, nhưng tới tháng Ba thì các đoàn rước đi tìm nhau, nhập thành một đám lớn, rồi sau hội lại ai về đình nấy. Trong lối thờ làng xã, kiểu hội này gọi là hội vùng, và nó chỉ hình thành được ở những nơi mà nhiều làng cùng nhận chung một lớp thần chủ.

Vùng Hà Nam ở đây còn giữ một kỳ lệ riêng nữa là lễ tưởng niệm các vị tiên công, tức những người đầu tiên tới quai đê lấn bãi lập làng. Hai lớp lệ ấy đứng cạnh nhau mà không lẫn: một lớp nhớ người mở đất, một lớp nhớ người giữ đất, và cả hai đều do chính các làng đứng ra lo.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà và bãi cọc Yên Giang ở phường Quảng Yên, các điểm còn lại rải ở phường Phong Cốc, phường Liên Hòa và vùng Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
Đường tới
Đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà và bãi cọc Yên Giang nằm ở phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Các điểm còn lại rải ở phường Phong Cốc, phường Liên Hòa và vùng Uông Bí, nên phải tính đi thành nhiều chặng trong ngày.
Toạ độ
20.9461, 106.7778
Khi tới nơi

Năm nếp thờ ở đây đều là nơi thờ tự đang hoạt động của các làng, nên lệ làng cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung, không chạm tay vào tượng thờ, hoành phi và đồ thờ cũ. Sắc phong là vật quý và dễ hỏng, thường chỉ được mở ra trong dịp lệ, xin quý vị đừng nài người trông coi mở xem ngoài dịp ấy. Các điểm nằm rải ở nhiều phường khác nhau và cách nhau nhiều cây số, nên phải tính đi làm nhiều chặng. Khu vực bãi cọc là nơi khảo cổ, xin đi theo lối đã mở và không bước xuống mặt bãi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu di tích Bạch Đằng

Contribute photos, information or video for Bach Dang Historical Site

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Khu di tích Bạch Đằng gồm những nơi thờ nào

Năm nếp thờ tự: đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà ở phường Quảng Yên, đình Yên Giang, đền Trung Cốc bên vùng Phong Cốc và đình Trung Bản bên vùng Liên Hòa. Ngoài ra khu di tích còn gồm ba bãi cọc là Yên Giang, Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa. Có nguồn kể thêm đình Điền Công thành sáu nếp thờ.

Miếu Vua Bà thờ ai

Thờ một người đàn bà bán hàng nước bên bến đò cũ. Theo thần tích, bà là con nhà chài, thuộc lòng con nước lên xuống của từng lạch. Sau sự kiện năm 1288, dân làng được ban bốn chữ An Hưng nghĩa dân còn bà được ban tước vương, nên dân dựng miếu ngay nơi quán nước cũ và gọi bà là Vua Bà.

Khu di tích Bạch Đằng khác gì đền Kiếp Bạc

Khác ở khuôn khổ thờ. Kiếp Bạc là nơi Hưng Đạo Đại vương lập phủ đệ, là cửa đền gốc của tín ngưỡng Đức Thánh Trần với dòng lễ Trần Triều riêng. Ở Bạch Đằng, ngài được các làng ven cửa sông rước về làm thần chủ và thờ theo lối làng xã, đứng cạnh một bà hàng nước và các vị thành hoàng.

Lễ hội Bạch Đằng mở ngày nào

Khai hội vào mùng Sáu tháng Ba âm lịch. Về ngày kết thúc thì nguồn ghi vênh nhau, hồ sơ di tích ghi hội kéo tới mùng Chín tháng Ba còn một số bản tin ghi tới mùng Tám. Hội có đám rước nối đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà và đình Yên Giang, cùng hát đúm, đánh đu và đua thuyền.

Đền Trần Hưng Đạo ở Quảng Yên còn giữ gì

Đền còn giữ chín đạo sắc phong niên đại thời Nguyễn, lư hương đá xanh và đôi đèn đá. Ngôi đền được chuyển về vị trí hiện nay từ năm 1936, làm mặt bằng hình chữ đinh, cổng bốn trụ mở ba lối, mái lợp ngói vảy cá với bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt.

Đọc Tiếp