Đứng giữa thung lũng Trường Yên, quý vị thấy bốn bề là núi đá dựng đứng, ở giữa là một khoảnh đất bằng chỉ rộng chừng vài cây số vuông, có một dòng sông uốn qua. Trên khoảnh đất ấy là hai ngôi đền cổ quay ra cùng một hướng, cách nhau một quãng đi bộ ngắn, và rải chung quanh là chùa, phủ, đền nhỏ, cùng hai nấm lăng, một nằm trên đỉnh núi và một nằm dưới chân núi.
Hoa Lư từng là kinh đô, lập năm 968, trải ba triều nối nhau rồi thôi làm kinh đô khi việc dời đô ra Thăng Long diễn ra. Cung điện không còn, thành lũy chỉ còn dấu. Thứ ở lại và dày lên qua một nghìn năm là lớp thờ tự. Bài này đọc Hoa Lư theo đúng lớp ấy: đây là một cụm thờ vua, gốc của cả vùng, còn các ngôi chùa trong thung chỉ là lớp xen kẽ.
ICụm Thờ Vua Của Một Kinh Đô Cũ
Hai nơi thờ chính là đền vua Đinh và đền vua Lê. Theo tư liệu, đền vua Đinh thờ Đinh Tiên Hoàng ở gian giữa, gian bên tả thờ người con cả là Đinh Liễn, gian bên hữu thờ hai người con thứ là Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn. Đền vua Lê thờ Lê Đại Hành ở gian giữa, gian bên tả thờ Hoàng hậu Dương Vân Nga, gian bên hữu thờ Lê Long Đĩnh.
Điều đáng nói ngay là cách thờ cả nhà. Ở đây không thờ riêng một vị vua mà thờ vua cùng vợ con trong cùng một tòa, mỗi người một gian. Đó là lối thờ của nhà thờ họ đem áp vào một hoàng tộc, khác hẳn lối miếu điển chế ở các kinh đô về sau, nơi mỗi vị một án và người trong nhà không được ngồi chung hàng với vua.
Chung quanh hai ngôi đền lớn còn một lớp thờ tự nhỏ hơn mà không kém phần đáng kể. Phủ Vườn Thiên thờ một vị thái tử. Đền thờ công chúa Phất Kim lập riêng cho một người con gái trong hoàng tộc, dựng trên chỗ mà dân quanh vùng vẫn truyền là nền cũ nơi bà ở. Chùa Nhất Trụ do vua Lê Đại Hành dựng, còn giữ được cột kinh đá. Chùa Bà Ngô thuộc lớp chùa có gốc từ thời Đinh. Động và đền Am Tiên dựa vào vách núi ở một thung riêng.
Việc một người con gái trong hoàng tộc được lập đền riêng là điều hiếm trong thờ tự cổ truyền của người Việt, nơi các bà thường chỉ được thờ phối trong đền của chồng hoặc của cha.
Chỗ hay gây thắc mắc nhất ở Hoa Lư là việc Hoàng hậu Dương Vân Nga được thờ tại đền vua Lê, trong khi bà từng là hoàng hậu của triều trước. Nhiều người tới đây lần đầu thấy lạ và hỏi vì sao lại đặt như vậy.
Xin ghi bằng giọng sử liệu và không xếp bên nào đúng hơn bên nào. Trong thư tịch của các nhà Nho đời sau, trường hợp của bà từng bị bàn tới bàn lui theo chuẩn mực tiết nghĩa của Nho giáo. Nhưng lệ thờ tại chỗ thì đi theo một lối khác hẳn: dân quanh vùng vẫn đặt án thờ bà tại đền vua Lê, và ở lớp truyền khẩu địa phương còn có những mẩu chuyện kể rằng tượng bà từng được rước qua rước lại giữa hai đền. Điều ấy cho thấy người trong vùng xử lý chuyện này theo lối của người thờ cúng chứ không theo lối của người bình sử: đã là người của đất này thì có chỗ trong đền của đất này.
IITừ Kinh Đô Đến Cụm Đền
Niên đại của Hoa Lư chia làm hai lớp cách nhau rất xa. Lớp thứ nhất là lớp kinh đô, thuộc thế kỷ 10 và đầu thế kỷ 11, nay chỉ còn nền móng và dấu tường thành. Lớp thứ hai là lớp thờ tự mà quý vị thấy hôm nay, phần lớn thuộc thế kỷ 17 và thế kỷ 19. Giữa hai lớp ấy là sáu trăm năm mà tư liệu kiến trúc gần như trống.
- 968Lập kinh đô tại Hoa LưKinh đô được đặt trong thung lũng Trường Yên, lấy các dãy núi đá vôi làm tường thành tự nhiên, nối với nhau bằng các đoạn tường đắp.
- 995Dựng cột kinh đá chùa Nhất TrụVua Lê Đại Hành cho dựng cột kinh Phật bằng đá tại chùa Nhất Trụ, hiện vật nguyên vẹn xưa nhất còn lại của cả khu.
- 1010Thôi làm kinh đôViệc dời đô ra Thăng Long diễn ra, Hoa Lư trở về vị thế một vùng đất cũ và bắt đầu chuyển dần thành nơi thờ tự.
- Thời LýKhởi dựng đền thờ trên nền cung điệnTheo tư liệu, hai ngôi đền thờ vua được khởi dựng từ thời Lý, đặt ngay trên nền cung điện cũ.
- Thế kỷ XVIIDựng lại hai ngôi đềnNhà Hậu Lê cho dựng lại đền vua Đinh và đền vua Lê. Phần lớn kiến trúc và chạm khắc còn thấy hôm nay thuộc lớp này.
- 1840Xây hai lăng vuaTheo bia đá tại chỗ, cả lăng trên đỉnh núi Mã Yên và lăng dưới chân núi đều được xây trong năm này, cùng ngày mùng hai tháng năm.
- 1885Trùng tu lăngLăng trên núi được trùng tu trong giai đoạn này, theo ghi chép tại di tích.
- 2015 và 2019Bảo vật quốc gia và di sản phi vật thểTháng 12 năm 2015, cột kinh đá chùa Nhất Trụ được công nhận bảo vật quốc gia, là bảo vật quốc gia đầu tiên của tỉnh. Năm 2019, lễ hội Hoa Lư được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Về vòng thành, khảo cổ cho biết thành Hoa Lư gồm hai khu là thành ngoại và thành nội, dựa vào các dãy núi đá vôi làm tường tự nhiên, chỗ nào núi đứt thì đắp tường nối vào. Một đoạn tường dài hơn ba mươi mét đã được khai quật, cho thấy móng tường có đóng cọc gỗ và lót lá trước khi xếp gạch, còn trên gạch đọc được dòng chữ Hán ghi đây là gạch xây thành của nước Đại Việt. Cách đóng cọc và lót lá ấy là lối xử lý nền đất yếu ở vùng trũng, cho thấy người dựng thành khi ấy lấy chính đặc điểm của đất ngập nước làm chỗ tựa chứ không tránh né.
IIIHai Ngôi Đền, Cột Kinh Và Hai Nấm Lăng
Cả cụm di tích trải trên một thung lũng có núi bao bốn phía, các điểm cách nhau từ vài trăm mét tới vài cây số. Khu trung tâm là hai ngôi đền thờ vua, còn các điểm khác rải chung quanh theo chân núi và theo bờ sông.
Dựng trên nền cung điện cũ, bố cục theo lối nội công ngoại quốc, tức vòng ngoài là dãy nhà khép kín như chữ quốc, vòng trong ba tòa nối nhau như chữ công. Từ ngoài vào có Nghi môn ngoại, sân, Nghi môn nội, rồi tới ba tòa bái đường, thiêu hương và chính cung.
Cách đền vua Đinh một quãng đi bộ ngắn, cũng theo lối nội công ngoại quốc nhưng quy mô gọn hơn. Đền nổi tiếng về nghệ thuật chạm gỗ, với hệ cốn, kẻ và xà chạm kín các đề tài quen thuộc của điêu khắc đình đền thế kỷ 17.
Hai bệ đá lớn tạc hình sập rồng, một đặt trước Nghi môn ngoại và một đặt ở sân rồng của đền vua Đinh, đều đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Nét lạ nhất là trên mình rồng có chạm một bàn tay người, chi tiết chưa gặp ở nơi nào khác.
Ngôi chùa do vua Lê Đại Hành dựng, tên chùa lấy theo cây cột kinh đá đứng trước sân. Đây là một trong số ít chùa trong thung giữ được hiện vật gốc từ thế kỷ 10.
Lăng vua Đinh Tiên Hoàng đặt trên đỉnh núi Mã Yên, ngọn núi có dáng như cái yên ngựa, tư liệu ghi cao khoảng 80 mét và phải lên hơn hai trăm bậc đá mới tới. Lăng xây kiểu cuốn vòm, mặt trước trang trí đề tài lưỡng long chầu nguyệt.
Lăng vua Lê Đại Hành đặt dưới chân núi Mã Yên về phía nam, cũng xây kiểu cuốn vòm, trang trí lưỡng long chầu lá đề cùng mặt hổ phù, chung quanh có tường hoa bao.
Cột kinh đá chùa Nhất Trụ là hiện vật xưa nhất và cũng là hiện vật đáng kể nhất của cả cụm. Tư liệu ghi cột dựng năm 995, bằng đá, tổng chiều cao 416 phân, nặng chừng 4,5 tấn, gồm sáu bộ phận rời lắp vào nhau là tảng vuông, đế tròn, thân bát giác, thớt bát giác, đấu bát giác và đỉnh hoa sen. Thân cột tám mặt khắc kinh, kệ và lạc khoản bằng chữ Hán, ước chừng hai nghìn năm trăm chữ, nay chỉ còn đọc được 178 chữ trên bốn mặt.
Điểm đáng nói về cây cột này là nó không phải một cây cột đỡ mái. Cột kinh dựng ngoài trời, không chống gì cả, chỉ làm một việc là mang chữ kinh. Đây là hình thức đem kinh khắc lên đá để dựng giữa đất trời, một lối thờ kinh hơn là thờ tượng, và trong khu Hoa Lư thì lối ấy thuộc về lớp Phật giáo sớm chứ không thuộc lớp chùa chiền về sau.
Một chỗ hay hiểu lầm về long sàng: nhiều người quen gọi đây là bệ rồng hoặc sập đá để đặt đồ lễ. Theo tư liệu, long sàng là bệ tạc theo hình sập ngự, đặt ở lối vào và ở sân rồng như dấu chỉ chỗ ngồi tượng trưng của người được thờ, không phải bàn đặt lễ vật. Vì vậy ở đây có lệ không đặt đồ, không ngồi và không bước lên mặt long sàng.
Chỗ lẫn thứ hai là niên đại chạm khắc. Hai ngôi đền khởi dựng từ thời Lý nhưng phần kiến trúc và chạm khắc còn thấy hôm nay chủ yếu thuộc thế kỷ 17, có lớp bổ sung thế kỷ 19. Người đến xem chạm gỗ ở đây đang xem tay nghề thợ thế kỷ 17 chứ không phải thợ thế kỷ 10.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Hoa Lư là trường hợp hiếm mà thế đất đọc được ngay bằng mắt thường, không cần địa bàn. Cả kinh đô nằm trong một thung lũng có núi đá vôi dựng đứng bao gần kín bốn phía, chỗ nào núi hở thì người xưa đắp tường nối vào cho kín. Theo phép xem đất, đó là hình tứ diện hữu sơn, bốn mặt có núi, thế mà sách vở xếp vào loại kín khí bậc nhất. Khí vào được mà khó ra, và với một chỗ đóng đô thì đó là điều người xưa cầu trước hết.
Điểm thứ hai là nước. Một dòng sông chảy qua thung, vừa là đường đi lại vừa là mạch dẫn khí trong một lòng chảo kín. Trong phép xem đất, một thung kín mà không có nước chảy qua thì khí tù chứ không tụ, giống như một cái chén đậy nắp. Có dòng chảy xuyên qua thì khí mới sống. Việc lễ rước nước trong hội vùng này lấy nước từ chính dòng sông ấy không phải chuyện tình cờ, vì với dân trong thung thì dòng sông là mạch của cả vùng.
Điểm thứ ba, và là chỗ hay nhất của Hoa Lư, là hai nấm lăng đặt ở hai độ cao khác nhau. Một lăng trên đỉnh núi Mã Yên, một lăng dưới chân núi. Theo phép táng cổ truyền, huyệt trên cao gọi là thiên huyệt hay huyệt đỉnh, chỗ khí bốc, lấy được tầm nhìn bao quát cả vùng nhưng chịu gió bốn bề. Huyệt dưới chân núi là địa huyệt, chỗ mạch núi buông xuống rồi dừng lại, kín gió và gần nước. Hai lối táng ấy đối nhau, và người xưa đặt hai vị vua vào hai lối ấy trong cùng một ngọn núi.
Điểm thứ tư là hình núi Mã Yên. Núi có dáng lõm ở giữa, hai đầu nhô lên, nên mang tên yên ngựa. Trong phép xem hình thế, một ngọn có hai đầu nhô và giữa trũng được đọc là thế ngai: hai bên là tay ngai, chỗ trũng là chỗ ngồi.
Điểm thứ năm là hướng của hai ngôi đền. Hai đền quay ra cùng một phía, lưng dựa vách núi phía sau, mặt hướng về khoảng đất bằng và về phía núi thấp ở xa. Đây là thế tựa sơn hướng thủy thu nhỏ trong lòng một thung, nơi án sơn không phải ngọn núi ở chân trời mà là chính vách núi bên kia thung. Trong một lòng chảo hẹp, mọi thành phần của phép xem đất đều bị rút ngắn lại, và Hoa Lư là chỗ tốt nhất để thấy điều đó. Xin nhắc rằng không văn bia nào ở đây chép việc chọn huyệt theo một phép cụ thể, nên cả mục này là chỗ đối chiếu chứ không phải tư liệu.
VHội Trường Yên Tháng Ba
Hội lớn nhất của vùng là hội Trường Yên, nay còn được gọi là lễ hội Hoa Lư, mở trong ba ngày của tháng Ba âm lịch. Hội lấy hai ngôi đền thờ vua làm trung tâm, và phần lễ ở đây giữ được nhiều nghi thức cổ hơn phần lớn các hội đồng bằng khác.
| Ngày âm lịch | Nghi lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Ba | Mở hội và lễ rước nước | Đoàn rước đi từ đền ra sông lấy nước, có kiệu, có rồng và lân, có phường bát âm. Các thiếu nữ múc nước giữa dòng, các bô lão làm lễ khấn thần sông trước khi rước nước về đền. |
| Mùng 8 tới mùng 10 | Lễ dâng hương và đại tế | Lễ mở đầu bằng ba hồi trống và chín hồi chiêng, sau đó các đoàn lần lượt vào dâng hương tại đền vua Đinh và đền vua Lê. |
| Các buổi tối trong hội | Tế ca cửu khúc | Lối hát tế chín khúc, theo tư liệu đã mai một sau năm 1945 và được phục hồi từ năm 1994. |
| Mùng 10 tháng Ba | Lễ rước lửa | Đoàn rước mang đuốc lên núi Mã Yên, người tham gia mặc trang phục theo lối xưa, rước lửa từ lăng trên đỉnh núi về đền. |
| Trong phần hội | Cờ lau tập trận | Trò diễn của thiếu niên trong vùng, dựng lại tích tuổi nhỏ của vị vua mở nước, theo tư liệu được phục hồi từ năm 1983. |
Hai nghi lễ đáng dừng lại. Rước nước có gốc từ tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân đồng bằng, lấy nước từ dòng chảy tự nhiên rồi rước về nơi thờ, và việc nó tồn tại trong một hội thờ vua cho thấy hai lớp tín ngưỡng ở đây đã đan vào nhau từ lâu. Rước lửa thì đi ngược, từ lăng trên núi xuống đền dưới thung, tức từ chỗ táng về chỗ thờ. Một lễ lấy nước dưới thấp, một lễ lấy lửa trên cao, hai chiều gặp nhau ở cùng một sân đền.
Xin nói thêm về phân vai trong vùng. Núi Ninh Bình có nhiều nơi thờ tự lớn nhưng không cùng một loại. Các ngôi chùa lớn trong vùng thuộc về Phật giáo và có lịch lễ riêng của nhà chùa. Hoa Lư thì khác: đây là cụm thờ vua và thờ hoàng tộc, gốc của cả vùng, còn chùa trong thung như chùa Nhất Trụ hay chùa Bà Ngô là lớp xen kẽ chứ không phải trung tâm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Trường Yên, xã Trường Yên cũ, nay là phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Nằm ở thôn Trường Yên, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, trong thung lũng có núi đá bao bốn phía. Hai ngôi đền thờ vua cách nhau một quãng đi bộ ngắn, còn chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên và đền thờ công chúa Phất Kim nằm rải trong cùng thung.
- Toạ độ
- 20.2845, 105.9052
Đây là cụm di tích đang có việc thờ cúng thường ngày, nên lệ của nơi này cần được giữ. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính cung, đi nhẹ nói khẽ trước các án thờ. Không bước lên mặt long sàng đá và không đặt đồ lễ lên đó, vì theo lệ đây là chỗ ngồi tượng trưng chứ không phải bàn lễ. Không chạm tay vào thân cột kinh đá ở chùa Nhất Trụ. Đường lên lăng trên núi Mã Yên là hơn hai trăm bậc đá, nên quý vị liệu sức và đi giày thấp.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cố đô Hoa Lư
Contribute photos, information or video for Hoa Lu Ancient CapitalThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Cố đô Hoa Lư thờ ai
Chủ yếu thờ vua và hoàng tộc của hai triều Đinh và Tiền Lê. Đền vua Đinh thờ Đinh Tiên Hoàng cùng ba người con, đền vua Lê thờ Lê Đại Hành cùng Hoàng hậu Dương Vân Nga và Lê Long Đĩnh. Chung quanh còn phủ Vườn Thiên, đền thờ công chúa Phất Kim và mấy ngôi chùa cổ.
Vì sao Dương Vân Nga được thờ ở đền vua Lê
Vì lệ thờ tại chỗ đi theo lối của người thờ cúng chứ không theo lối bình sử. Thư tịch của các nhà Nho đời sau từng bàn nhiều về trường hợp của bà theo chuẩn tiết nghĩa, nhưng dân quanh vùng vẫn giữ án thờ bà tại đền vua Lê, coi bà là người của đất này nên có chỗ trong đền của đất này.
Long sàng đá ở đền vua Đinh là gì
Là bệ đá tạc theo hình sập ngự, đặt trước Nghi môn ngoại và ở sân rồng, chỉ chỗ ngồi tượng trưng của người được thờ chứ không phải bàn đặt lễ. Cả hai đã được công nhận bảo vật quốc gia. Nét lạ nhất là trên mình rồng có chạm một bàn tay người, chi tiết chưa gặp ở nơi nào khác.
Cột kinh đá chùa Nhất Trụ có gì đặc biệt
Cột dựng năm 995 dưới thời vua Lê Đại Hành, cao 416 phân, nặng chừng 4,5 tấn, gồm sáu bộ phận rời lắp vào nhau, thân tám mặt khắc kinh và kệ bằng chữ Hán. Ước chừng hai nghìn năm trăm chữ, nay còn đọc được 178 chữ. Được công nhận bảo vật quốc gia tháng 12 năm 2015.
Hội Trường Yên tổ chức vào ngày nào
Từ mùng 8 tới mùng 10 tháng Ba âm lịch, tại khu đền vua Đinh và đền vua Lê. Các nghi lễ chính gồm lễ rước nước từ sông về đền, lễ dâng hương mở đầu bằng ba hồi trống và chín hồi chiêng, tế ca cửu khúc, lễ rước lửa lên núi Mã Yên và trò cờ lau tập trận.