VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ Vua Mai Hắc Đế

Đền Vua Mai, lăng mộ vua Mai, đền thờ Mai Thánh Mẫu

Một quần thể hiếm hoi thờ trọn ba đời trong một nhà, và là một trong số ít nơi mà người mẹ được lập đền riêng chứ không thờ ké.

Số điểm thờ tự
4 điểm
đền thờ, lăng mộ, mộ thân mẫu và đền Mai Thánh Mẫu
Sắc phong
22 đạo
trải các triều, hiện còn 13 đạo thời Nguyễn
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 1649 cuối tháng 12 năm 2022

Đi hết con đường nhỏ dẫn vào chân núi Đụn, quý vị bước vào một thung lũng kín, ba bề là sườn núi thấp, phía trước mở ra khoảng đồng rồi tới bờ sông Lam. Trong lòng thung lũng ấy là một khu thờ xây theo lối miếu ở trên và mộ ở dưới, đi từ hạ điện lên trung điện rồi thượng điện, sau lưng thượng điện mới là phần mộ. Người trông coi sẽ nói với quý vị rằng cách bày như thế là cố ý, để ai vào lễ cũng phải qua ba lớp nhà thờ trước khi tới chỗ nằm của người được thờ.

Đây chỉ là một trong bốn điểm của quần thể. Cách đó chừng vài cây số là ngôi đền thờ chính. Xa hơn nữa, sang bên kia vùng, là ngôi mộ và ngôi đền của người mẹ. Thờ cả một dòng ba đời trong cùng một quần thể là điều không nhiều nơi có, và việc người mẹ được lập đền riêng lại càng hiếm.

IVua Đen, Thánh Mẫu Và Vua Kế Vị

Vị chính được thờ là Mai Thúc Loan, người đất Hoan Châu, dân quen gọi là Mai Hắc Đế. Lý do có đền nằm gọn trong một việc: năm 713 ngài dấy binh ở Hoan Châu, xưng đế và lập nước Vạn An, nhà nước ấy tồn tại tới năm 722. Bài này không kể việc ấy, bài này kể việc thờ.

Cùng được thờ trong quần thể còn có thân mẫu của ngài, dân tôn là Mai Thánh Mẫu, và người kế vị là Mai Thiếu Đế, tức Mai Thúc Huy, con trai của ngài. Ba đời cùng có nơi thờ và nơi táng trên một vùng đất, đó là điều làm quần thể này khác với phần lớn đền thờ vua khác, nơi thường chỉ thờ một người.

Theo giáo nghĩa

Trong lối thờ cúng cổ truyền của người Việt, một vị vua được dân lập đền thì thường được thờ một mình hoặc thờ kèm các tướng. Người sinh ra vua ít khi có ban riêng, và càng ít khi có đền riêng, vì hệ thờ nhân thần vốn xếp theo công trạng chứ không xếp theo vai vế trong nhà.

Ở đây thì khác. Người mẹ có mộ riêng ở một gò đất, lại có đền riêng trên một gò khác, tức được thờ như một vị thần độc lập chứ không phải một ban phụ trong đền con trai. Cách thờ ấy nghiêng về lối thờ tổ của một dòng hơn là lối thờ công thần, và nó cho thấy dân vùng Nam Đàn nhìn ba người này như một nhà, không nhìn như một triều.

Theo sử liệu

Về sự thừa nhận của nhà nước cũ, tư liệu di tích ghi rằng vị thần này được các triều ban tổng cộng hai mươi hai đạo sắc phong. Số hiện còn giữ được tại di tích thì ít hơn nhiều, các nguồn ghi còn mười ba đạo thuộc thời Nguyễn. Hai con số ấy không mâu thuẫn nhau, một con số là tổng số đã từng được ban, một con số là số còn lại tới nay, nhưng chúng hay bị dẫn lẫn lộn nên chúng tôi ghi rõ cả hai.

Ngoài sắc phong, đền còn giữ long ngai, bài vị và hệ thống hoành phi câu đối. Đó là bộ đồ thờ chuẩn của một đền thờ vua theo lệ cũ, và cũng là phần hiện vật gốc đáng kể nhất còn lại sau nhiều lần tu bổ.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất là về cái tên Vua Đen. Nhiều người tưởng đây là một biệt danh chê hoặc một tên tục. Thực ra Hắc Đế nghĩa đúng là vua đen, và đây là danh hiệu gắn liền với chính vị vua ấy, được dùng trong cả tên di tích lẫn trong sắc phong. Dân vùng Nam Đàn gọi bằng hai chữ Vua Đen với giọng thân, không phải giọng khinh.

Chỗ hay hiểu lầm thứ hai là về vị trí. Rất nhiều người tìm tới lăng mộ rồi tưởng mình đã tới đền thờ, hoặc ngược lại. Hai nơi là hai điểm khác nhau, cách nhau chừng ba cây số. Lăng mộ nằm trong thung lũng dưới chân núi Đụn, còn đền thờ nằm ở khu dân cư ngoài kia. Ai muốn đi đủ quần thể thì còn phải sang cả Cồn Dẻ và Cồn Chèn nữa.

IITừ Ngôi Mộ Trong Núi Đến Quần Thể Bốn Điểm

Quần thể không có một năm khởi dựng chung. Lớp sớm nhất là phần mộ trong thung lũng, có từ ngay sau khi vị vua ấy mất. Lớp muộn nhất là ngôi đền thờ người mẹ, mới dựng đầu thập niên hai nghìn mười. Giữa hai đầu ấy là nhiều thế kỷ thờ tự liên tục mà tư liệu chỉ giữ lại được các mốc rời rạc.

  • 713Lập nước Vạn An
    Mai Thúc Loan xưng đế ở Hoan Châu và lập nhà nước Vạn An. Đây là lý do về sau dân vùng này lập đền thờ, và cũng là điều duy nhất thuộc phần binh biến mà bài này nhắc tới.
  • 722Nhà nước Vạn An chấm dứt
    Sau khi ngài mất, phần mộ được giữ trong thung lũng dưới chân núi Đụn. Dân trong vùng lo hương khói từ đó, và lớp thờ tự bắt đầu hình thành quanh ngôi mộ.
  • Các triều về sauHai mươi hai đạo sắc phong
    Trải các triều, vị thần này được ban tổng cộng hai mươi hai đạo sắc. Số còn giữ được tại di tích hiện là mười ba đạo, đều thuộc thời Nguyễn.
  • Thời NguyễnNgôi đền thờ hiện nay
    Ngôi đền thờ chính mang dáng thời Nguyễn, cổng ba tòa sáu trụ, bên trong chia ba lớp hạ điện, trung điện và thượng điện.
  • 1996Xếp hạng di tích quốc gia
    Cụm di tích vua Mai được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, gồm khu lăng mộ, đền thờ và các điểm liên quan trên đất Nam Đàn.
  • 2011Tôn tạo đền thờ
    Ngôi đền thờ chính được tôn tạo sau một thời gian xuống cấp. Bộ khung và cách bài trí ba lớp điện thấy hôm nay chủ yếu thuộc lớp tu bổ này.
  • 2012Dựng đền thờ Mai Thánh Mẫu
    Đền thờ thân mẫu được khởi dựng trên đỉnh Cồn Chèn, khuôn viên khoảng hai nghìn mét vuông, có chính điện và bia dẫn tích, phía sau dựng lại nếp nhà tranh theo lời truyền.
  • 2022Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 1649 ký cuối tháng 12 năm 2022, gồm trọn bốn điểm thờ tự của quần thể.
Theo sử liệu

Một chỗ nên nói cho rõ về số điểm. Có nguồn mô tả quần thể gồm hai khu, là khu lăng mộ và khu đền thờ, vì hai khu ấy nằm gần nhau trên cùng một địa bàn. Nguồn khác mô tả quần thể gồm bốn điểm, kể thêm mộ thân mẫu ở Cồn Dẻ và đền Mai Thánh Mẫu ở Cồn Chèn. Cách ghi thứ hai đầy đủ hơn và là cách chúng tôi dùng trong bài, nhưng quý vị gặp con số hai thì cũng đừng lấy làm lạ.

Vùng núi Đụn còn có thêm một lớp tư liệu mới. Khai quật khảo cổ ở sườn nam ngọn núi này, tại một điểm cao hơn phần mộ chừng năm mươi mét, đã tìm thấy dấu vết kiến trúc mang đặc điểm trang trí cung đình, được xác định thuộc lớp thời Trần. Phát hiện ấy cho thấy việc thờ tự và lui tới ở vùng núi này đã có từ rất sớm, sớm hơn nhiều so với ngôi đền hiện nay.

IIIBốn Điểm Trên Đất Nam Đàn

Bốn điểm của quần thể không nằm trong một khuôn viên mà rải trên vùng Nam Đàn, cách nhau từ vài cây số tới gần mười cây số. Mỗi điểm có một dáng riêng, và dáng ấy nói lên vai của từng điểm trong cả hệ thờ.

Khu lăng mộ

Nằm trong thung lũng dưới chân núi Đụn, khuôn viên hơn mười nghìn mét vuông. Xây theo lối thượng miếu hạ mộ, tức miếu ở trên và mộ ở dưới, gồm hạ điện, trung điện, thượng điện cùng tả vu hữu vu. Phần mộ đặt phía sau thượng điện, có mái che.

Đền thờ vua Mai

Cách lăng mộ chừng ba cây số. Cổng thờ ba tòa sáu trụ, trang trí kỳ lân và búp sen, hai bên cổng có tượng quan văn quan võ cùng tượng ngựa và tượng voi quỳ. Bên trong chia ba lớp: thượng điện thờ vua và gia quyến, trung điện thờ tướng sĩ, hạ điện dùng cho việc hành lễ chung.

Mộ thân mẫu ở Cồn Dẻ

Cách khu trung tâm gần mười cây số, đặt trên một gò đất cao, lên tới nơi phải qua hơn một trăm bậc. Đây là phần mộ chứ không phải đền, nên quy mô gọn và không có nhà thờ.

Đền thờ Mai Thánh Mẫu ở Cồn Chèn

Khởi dựng năm 2012 trên đỉnh một cồn đất, khuôn viên khoảng hai nghìn mét vuông, gồm chính điện và bia dẫn tích. Phía sau chính điện dựng lại một nếp nhà tranh theo lời truyền về chỗ ở của hai mẹ con thuở hàn vi.

Miếu mộ Mai Thiếu Đế

Nằm trên đỉnh núi Đụn, là nơi táng người con trai kế vị. Điểm này thuộc cùng vùng núi với khu lăng mộ và thường được kể chung khi nói về việc thờ cả ba đời.

Đáng chú ý nhất về mặt bố cục là lối thượng miếu hạ mộ ở khu lăng. Trong nhiều lăng mộ khác, phần mộ đặt trước và nhà thờ đặt sau, hoặc hai phần tách hẳn ra hai khu. Ở đây thì ba lớp nhà thờ được xếp thành một chuỗi đi lên, phần mộ nằm ở cuối chuỗi và ở chỗ khuất nhất. Người vào lễ đi qua hạ điện là chỗ của số đông, lên trung điện là chỗ của hàng tướng sĩ, lên thượng điện là chỗ của vua và gia quyến, rồi mới tới phần mộ. Cách sắp ấy biến một ngôi mộ thành điểm cuối của một hành trình lễ, chứ không để nó đứng trơ giữa sân.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Với một khu lăng thì thế đất là chỗ đáng đọc nhất, vì người xưa chọn đất táng kỹ hơn bất cứ việc gì. Ở đây cái thế hiện ra rất rõ ngay khi quý vị bước vào.

Trước hết là thế thung lũng kín. Khu lăng nằm lọt trong một lòng thung dưới chân núi Đụn, tên chữ là Hùng Sơn, ba bề có sườn núi khép lại, chỉ hở một cửa nhìn ra phía đồng. Phép xem đất gọi hình ấy là tàng phong tụ khí, tức giấu được gió và giữ được khí. Một chỗ táng mà bốn bề trống thì gió xuyên qua, khí không đọng, theo lối cũ là kỵ. Thung lũng này thì ngược lại, nó vừa che vừa giữ.

Thứ hai là hậu chẩm và minh đường. Sau lưng khu lăng là khối núi Đụn làm chỗ dựa, đúng vai hậu chẩm. Trước mặt, qua khoảng đồng, là dòng sông Lam chảy ngang, và bên kia sông là dãy núi thấp chạy dài. Đọc theo lối cũ thì sông làm minh đường, dãy núi bên kia sông làm án sơn, tức bức bình phong chắn ở phía trước để khí không xổ thẳng đi mất. Có núi dựa sau, có nước chắn trước, lại có án ngoài nước, đó là đủ ba tầng mà sách vở đòi hỏi ở một huyệt kết.

Thứ ba là chiều cao và thứ tự. Phần mộ đặt ở chỗ cao nhất trong chuỗi ba lớp điện, còn miếu mộ của người kế vị thì đặt hẳn trên đỉnh núi, và khu khai quật thời Trần lại nằm cao hơn phần mộ chừng năm mươi mét. Vùng núi này được dùng theo tầng, càng lên cao càng vắng và càng dành cho việc thiêng. Trong con mắt cổ truyền, đó là cách xếp quen thuộc: chỗ đông người ở dưới, chỗ tĩnh ở trên.

Sau cùng là hai gò đất của người mẹ. Mộ đặt trên Cồn Dẻ, đền đặt trên đỉnh Cồn Chèn, cả hai đều là gò nổi giữa vùng đất thấp. Phép xem đất coi một gò nổi lên giữa đồng bằng là chỗ mạch đất dừng lại mà kết, và với vùng không có núi thì gò chính là núi. Việc dân chọn hai cái gò cho hai công trình của người mẹ, thay vì đặt bà vào một ban thờ trong đền con trai, là một lựa chọn có ý. Cần nói ngay rằng không văn bia nào ở đây chép việc chọn đất theo một phép xem cụ thể, nên cả đoạn trên chỉ là chỗ đối chiếu.

VLễ Hội Rằm Tháng Giêng

Kỳ lễ lớn nhất trong năm là lễ hội đền Vua Mai, mở từ ngày mười ba tới ngày mười lăm tháng Giêng âm lịch, tức trùng dịp rằm tháng Giêng. Các nghi thức mở màn bắt đầu sớm hơn một ngày.

Trình tự các nghi thức chính trong kỳ lễ hội đền Vua Mai. Ngày tổ chức từng phần có thể xê dịch theo từng năm. Nguồn: Thông tin lễ hội do cơ quan quản lý văn hóa công bố và các bản tin về lễ rước nước tại bến Sa Nam..
Thời điểm âm lịchNghi thứcNội dung
12 tháng GiêngLễ rước nướcĐoàn rước mang cờ biển, chiêng trống và kiệu Thánh ra bến Sa Nam bên sông Lam, lên thuyền tới khúc sông trước lăng mộ rồi múc nước vào chum sành đưa về đền.
12 tháng GiêngLễ khai quangDùng nước vừa rước về để rửa đồ tế khí, tức nghi thức thanh tẩy trước khi vào chính hội.
13 tháng GiêngLễ yết cáo và khai hộiTrình báo với thần trước khi mở hội, có đánh trống khai hội, múa rồng lân và dâng hương.
14 tháng GiêngLễ đại tếNghi lễ trọng nhất của kỳ hội, có xướng văn tế và rước kiệu, do ban tế đứng chủ.
15 tháng GiêngLễ tạ và hoa đăngKhép lại phần lễ, kèm thả đèn hoa đăng trên sông.
Trong hộiPhần hội dân gianĐua thuyền trên sông Lam, đấu vật, đẩy gậy, cờ thẻ, chọi gà, thi hát dân ca và thi làm cỗ xôi gà.
Theo sử liệu

Nghi thức rước nước đáng được nhắc riêng, vì nó là phần cổ nhất và cũng là phần chặt chẽ nhất về mặt lệ. Nước không lấy ở bất cứ chỗ nào trên sông mà phải lấy ở khúc sông trước lăng mộ. Người múc gáo nước đầu tiên phải là một bậc cao niên có uy tín trong vùng, được chọn trước. Nước múc từng gáo một đổ vào chum sành, chum ấy do hai người khiêng về, đi kèm có bốn người phụ nữ dâng bốn dải lụa. Về tới đền, nước được dùng để rửa đồ tế khí.

Lấy nước từ một dòng sông tự nhiên rồi rước về nơi thờ là một lệ có gốc từ tín ngưỡng nông nghiệp, gặp ở nhiều vùng châu thổ. Điều riêng ở đây là chỗ lấy nước được ràng buộc vào chính chỗ đặt phần mộ, khiến nghi thức mang thêm một lớp nghĩa nữa: nước ấy là nước của khúc sông chảy qua trước mặt người được thờ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đền thờ và lăng mộ ở thị trấn Nam Đàn cũ, nay là xã Vạn An, mộ và đền thờ thân mẫu ở xã Nam Thái cũ, tỉnh Nghệ An
Đường tới
Đền thờ và lăng mộ nằm ở thị trấn Nam Đàn cũ, nay là xã Vạn An, tỉnh Nghệ An, hai nơi cách nhau chừng ba cây số. Mộ thân mẫu ở Cồn Dẻ và đền thờ Mai Thánh Mẫu ở Cồn Chèn thuộc xã Nam Thái cũ, cách khu trung tâm gần mười cây số, nên phải tính đi làm hai chặng.
Toạ độ
18.7021, 105.4937
Khi tới nơi

Cả bốn điểm đều là nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp điện, đi nhẹ nói khẽ ở thượng điện và ở khu mộ, không chạm vào long ngai, bài vị và đồ tế khí, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên ban thờ. Ở khu lăng, xin quý vị đi theo thứ tự từ hạ điện lên, không vòng thẳng ra phần mộ phía sau. Lối lên mộ thân mẫu ở Cồn Dẻ là bậc đá ngoài trời, nên liệu sức và đi giày thấp.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ Vua Mai Hắc Đế

Contribute photos, information or video for Temple of King Mai Hac De

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền thờ Vua Mai Hắc Đế thờ ai

Thờ Mai Thúc Loan, dân gọi là Mai Hắc Đế hay Vua Đen, cùng thân mẫu của ngài là Mai Thánh Mẫu và người kế vị là Mai Thiếu Đế, tức Mai Thúc Huy. Thượng điện của đền thờ vua và gia quyến, trung điện thờ tướng sĩ. Thờ trọn ba đời trong một quần thể là điều không nhiều nơi có.

Quần thể di tích vua Mai gồm những điểm nào

Bốn điểm trên đất Nam Đàn: đền thờ vua Mai, khu lăng mộ trong thung lũng dưới chân núi Đụn, mộ thân mẫu ở Cồn Dẻ và đền thờ Mai Thánh Mẫu trên Cồn Chèn. Trên đỉnh núi Đụn còn miếu mộ của Mai Thiếu Đế. Một số nguồn chỉ kể hai khu là lăng mộ và đền thờ.

Vì sao gọi là Vua Đen

Vì danh hiệu Hắc Đế có nghĩa đúng là vua đen, và đó là danh hiệu gắn liền với chính vị vua ấy, dùng trong cả tên di tích lẫn trong sắc phong. Dân vùng Nam Đàn quen gọi bằng hai chữ Vua Đen với giọng thân thuộc. Đây không phải một biệt danh chê hay một tên tục do đời sau đặt thêm.

Đền vua Mai có bao nhiêu đạo sắc phong

Tư liệu di tích ghi vị thần này được các triều ban tổng cộng hai mươi hai đạo sắc phong. Số hiện còn giữ được tại di tích ít hơn, các nguồn ghi còn mười ba đạo thuộc thời Nguyễn. Hai con số ấy không mâu thuẫn, một là tổng số từng được ban, một là số còn lại tới nay.

Lễ hội đền Vua Mai tổ chức ngày nào

Từ ngày mười ba tới ngày mười lăm tháng Giêng âm lịch. Lễ rước nước và lễ khai quang tiến hành trước đó một ngày, nước lấy ở bến Sa Nam bên sông Lam tại khúc sông trước lăng mộ. Trong hội có lễ yết cáo, đại tế, lễ tạ, thả đèn hoa đăng cùng đua thuyền, đấu vật, cờ thẻ và chọi gà.

Đọc Tiếp