Quý vị đi từ đền Xưa ở thôn Nghĩa Phú sang chùa Giám, rồi từ chùa Giám sang đền Bia ở thôn Văn Thai, cả chặng chỉ vài cây số đường đồng. Ba nơi ấy mái thấp, sân rộng, cây cổ thụ che kín, nhìn bề ngoài không có gì khác những ngôi đền ngôi chùa khác của vùng lúa Bắc Bộ. Cái khác nằm ở chỗ ba nơi cùng thắp hương cho một người, và người ấy không phải một vị thần, không phải một ông vua, mà là một ông thầy thuốc.
Người ấy là Tuệ Tĩnh, tên thật Nguyễn Bá Tĩnh, vừa là thiền sư vừa là danh y, sinh ở chính làng Nghĩa Phú này vào khoảng năm 1330. Ba nơi thờ chia nhau ba vai rất rõ, đền Xưa dựng nơi ông sinh ra, chùa Giám là nơi ông tu hành và bốc thuốc, còn đền Bia gắn với tấm bia mang lời nhắn ông gửi về từ đất khách. Một đời người được chia cho ba mảnh đất giữ, mỗi mảnh giữ một đoạn.

INgười Được Thờ Và Hai Lớp Thờ Chồng Nhau
Tuệ Tĩnh là pháp danh, không phải tên khai sinh. Theo các tư liệu phổ biến hiện nay, ông tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, sinh khoảng năm 1330 ở Nghĩa Lư trang, nay là thôn Nghĩa Phú, tên nôm là làng Xưa, thuộc đất Cẩm Giàng cũ. Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ lúc lên sáu tuổi, ông được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi ăn học, mang pháp danh Tiểu Huệ rồi Huệ Tĩnh, về sau quen gọi là Tuệ Tĩnh. Năm hai mươi hai tuổi ông đỗ Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông nhưng không ra làm quan, ở lại cửa thiền, lấy việc chữa bệnh cho dân nghèo làm việc chính của đời mình.
Chủ trương của ông gói trong sáu chữ mà giới làm thuốc nước ta còn nhắc tới hôm nay là thuốc Nam chữa cho người Nam. Câu ấy không phải một khẩu hiệu, mà là một cách làm, ông dạy dân trồng cây thuốc ngay trong vườn nhà, dùng lá cỏ sẵn có quanh mình để chữa những bệnh thường gặp thay vì trông vào dược liệu phải mua từ xa. Hai bộ sách gắn với tên ông là Nam dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư.
Cần nói rõ rằng nơi này có hai lớp thờ chồng lên nhau, và quý vị sẽ thấy điều đó ngay khi đi đủ ba nơi. Lớp thứ nhất là thờ một vị thiền sư, bởi ông đi tu, mang pháp danh, và chùa Giám thờ ông ở nhà tổ đúng theo lệ thờ tổ của nhà chùa. Lớp thứ hai là thờ một vị tổ nghề, khi người làm thuốc khắp nơi coi ông là thầy của nghề mình và về đây dâng hương như con cháu về bái tổ.
Trong cách nghĩ cổ truyền của người Việt, hai lớp ấy không đá nhau. Nhà chùa thờ người tu theo lối thờ tổ sư, dân làng thờ người có công theo lối thờ nhân thần, và giới nghề thờ người mở nghề theo lối thờ tổ nghề. Một người có thể nhận đủ ba lối thờ cùng lúc, và Tuệ Tĩnh là trường hợp rõ nhất của điều đó trong các di tích Bắc Bộ.
Đoạn cuối đời ông là chỗ các nguồn ghi không giống nhau. Phần lớn tư liệu cho biết năm 1385, khi ông năm mươi lăm tuổi, triều đình đưa ông sang nhà Minh, ở đó ông chữa khỏi bệnh cho hoàng hậu nhà Minh, được vua Minh ban danh hiệu Đại y thiền sư và giữ việc ở viện thái y, rồi mất tại vùng sông Trường Giang đất Giang Nam, không trở về được. Có nguồn chép rằng ông bị cống sang, có nguồn chép rằng ông được cử đi sứ. Thư viện ghi lại cả hai cách chép và không chọn bừa một cách, vì hai chữ ấy dẫn tới hai cách hiểu rất khác nhau về đời ông.
Điều không ai chép khác là dòng chữ khắc trên tấm bia mộ ông nơi đất khách, nhắn rằng về sau có ai bên nước sang thì nhớ cho hài cốt ông về với. Chính lời nhắn ấy sinh ra ngôi đền thứ ba trong cụm.
Nhiều người đến đây rồi nghĩ rằng cả ba nơi đều là đền thờ ông thầy thuốc, và chùa Giám chỉ là một cái tên gọi khác. Không phải vậy. Chùa Giám là một ngôi chùa Phật Giáo đầy đủ, tên chữ là Nghiêm Quang tự, có tam bảo, có tượng Phật, có nhà tổ, và sinh hoạt tu học diễn ra bình thường như mọi ngôi chùa khác. Tuệ Tĩnh được thờ ở đó với tư cách một vị sư từng trụ trì và hành đạo tại chùa, chứ ngôi chùa không phải được dựng lên để thờ riêng ông. Phân biệt được điều này thì mới hiểu vì sao trong cùng một cụm di tích lại có cả chùa lẫn đền, và vì sao lễ ở chùa Giám đi theo lệ nhà chùa còn lễ ở đền Bia đền Xưa đi theo lệ làng.
IIBa Ngôi Dựng Ở Ba Thời
Ba nơi trong cụm không dựng cùng lúc, cũng không dựng vì cùng một cớ. Đền Xưa dựng nơi quê sinh theo lệ làng thờ người làng có công. Chùa Giám vốn là ngôi chùa cũ nơi ông tu, có trước cả đời ông. Đền Bia ra đời muộn nhất, sinh ra từ một chuyến đi sứ vào cuối thế kỷ XVII.
- Khoảng 1330Tuệ Tĩnh sinh tại làng Nghĩa PhúNghĩa Lư trang, nay là thôn Nghĩa Phú, tên nôm là làng Xưa, thuộc đất Cẩm Giàng cũ. Đây là nơi về sau dựng đền Xưa.
- Thời LýChùa Giám khởi dựngChùa mang tên chữ Nghiêm Quang tự, khởi dựng từ thời Lý bên bờ sông Thái Bình, là nơi Tuệ Tĩnh tu hành và chữa bệnh vào thế kỷ XIV.
- Thế kỷ XVIIĐền Xưa đã là ngôi đền kiên cốCăn cứ các di vật kiến trúc còn lại, cơ quan quản lý di tích xác định tới thế kỷ XVII nơi đây đã có một ngôi đền kiên cố, chạm khắc tinh tế.
- 1677 tới 1701Chùa Giám di dời lần đầu và dựng nhà phẩmNăm 1677 chùa dời khỏi bãi sông bị sạt lở. Hai tấm bia năm 1696 và 1701 ghi việc dựng lại chùa với quy mô lớn cùng nhà phẩm đặt tòa Cửu phẩm liên hoa.
- Khoảng 1690Tấm bia được đưa về Văn ThaiTiến sĩ Nguyễn Danh Nho (1638 tới 1699), người cùng làng Nghĩa Phú, đi sứ sang nhà Thanh, tìm được mộ Tuệ Tĩnh bên sông Trường Giang và dập chữ mang về khắc bia đá. Thuyền chở bia gặp nạn ở cánh đồng thôn Văn Thai, dân làng vớt bia lên và lập nơi thờ.
- 1846Sự kiện Thánh ứng ở đền BiaMùng 1 tháng Tư năm Thiệu Trị thứ sáu (1846) xảy ra hiện tượng Thánh ứng, hàng ngàn người kéo về xin thuốc. Quan địa phương từng cho thu tấm bia về dinh Án sát Hải Dương và đục bỏ chữ, sau nhờ viên thủ kho báo tin mà dân Văn Thai rước được bia về đền.
- 1974 tới 1975Xếp hạng quốc gia và chuyển chùa GiámChùa Giám được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1974 (đền Xưa xếp hạng năm 1990, đền Bia năm 1994). Từ rằm tháng Bảy âm lịch 1974 tới rằm tháng Hai năm sau, toàn bộ chùa Giám được chuyển đi khoảng bảy cây số về vị trí hiện nay để tránh ngập úng.
- 2017Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt tám cho cụm đền Xưa, chùa Giám, đền Bia.
Tích tấm bia ở đền Bia gắn liền với tên tuổi Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho (1638 tới 1699), người cùng làng Nghĩa Phú với Tuệ Tĩnh. Khi đi sứ phương bắc, ông tìm thấy mộ Đại y thiền sư bên bờ sông Trường Giang, xúc động trước lời nhắn trên bia nên đã dập văn bia mang về nước, thuê thợ đá khắc lại để đưa về quê. Tương truyền thuyền chở bia về đến cánh đồng thôn Văn Thai thì gặp sóng to gió lớn bị đắm, dân Văn Thai vớt bia lập đền thờ. Tới năm 1846 mặt chữ trên bia bị quan sở tại cho đục mờ nhưng tấm bia đá vẫn được dân làng giữ lại trong hậu cung. Để ghi nhớ công đức người đưa tấm bia về nước, sau đợt trùng tu năm 2005, tại tòa tiền tế đền Bia có đặt ngai và bài vị thờ Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho.
IIIBa Nơi, Ba Lối Dựng
Đi đủ ba nơi thì thấy rõ ba lối dựng khác nhau, ứng với ba lối thờ khác nhau. Thư viện viết ở tầng cụm, chỉ nêu cái khung của từng nơi, vì mỗi nơi đều đủ sức đứng thành một trang riêng.
Ở thôn Nghĩa Phú, dựng trên nền quê sinh, kiến trúc kiểu chữ nhị gồm năm gian tiền tế và ba gian hậu cung, bên trong đặt tượng gỗ Thiền sư Tuệ Tĩnh. Đền còn giữ khoảng năm mươi cổ vật, trong đó có quả chuông đồng đúc năm 1855 và mười ba đạo sắc phong của các triều.
Tên chữ Nghiêm Quang tự, khuôn viên khoảng hai hecta, bố cục kiểu nội công ngoại quốc, gồm tam quan, tiền đường, tam bảo, nhà tổ và nhà phẩm che tòa Cửu phẩm liên hoa. Chùa còn giữ hai quả đại hồng chung đúc năm 1762 và 1848 cùng mười sáu tấm bia đá thế kỷ XVII tới XIX.
Ở thôn Văn Thai, khởi dựng từ thời Lê, trùng tu năm 1936 theo lối tiền nhất hậu đinh quay mặt về hướng bắc, và tu bổ toàn diện năm 2005 với hơn hai chục hạng mục. Hậu cung đặt tấm bia đá và tượng Tuệ Tĩnh, tiền tế đặt ngai thờ Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho, khuôn viên có vườn thuốc Nam và phòng chẩn trị.
Đặt trong nhà phẩm của chùa Giám, chín tầng, sáu mặt, mỗi mặt rộng khoảng 1,2 mét, mỗi tầng đặt mười tám pho tượng, cả tòa có 145 pho. Tòa nặng khoảng bốn tấn mà chỉ vài người đẩy là quay được. Được công nhận bảo vật quốc gia năm 2015.
Về chiều cao tòa Cửu phẩm thì các nguồn ghi vênh nhau, thư viện nêu thẳng ra đây chứ không chọn bừa một con số. Có nguồn ghi tòa cao 4,44 mét. Có nguồn ghi 5,32 mét hoặc 6 mét, trên tầng cao nhất đặt một pho tượng Phật A Di Đà lớn cao khoảng 1 mét đầu đội trần nhà, hoặc tính tổng chiều cao cả phần bệ và tượng là 6,52 mét. Nhiều khả năng chênh lệch đến từ chỗ đo riêng thân tháp hay đo cả phần bệ và tượng đỉnh, nên quý vị cần biết có những cách ghi như vậy.
Điều đáng nói hơn con số là cách tòa tháp vận hành. Cửu phẩm liên hoa là một khối gỗ chín tầng đặt trên một trục đứng, quay được quanh trục ấy. Người hành lễ vừa niệm vừa đẩy cho tòa xoay, mỗi vòng quay ứng với một lượt tụng. Đây là một lối hành lễ của dòng thiền Bắc Bộ, và cả nước hiện chỉ còn rất ít tòa cửu phẩm còn quay được, nên tòa ở chùa Giám mới thành bảo vật.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Cả ba nơi đều nằm trên đồng bằng châu thổ phía đông Bắc Bộ, đất phẳng, không núi, sông ngòi và mương máng dày. Trong phép xem đất, vùng như thế không có mạch núi để tựa, nên mạch nước thay chỗ cho mạch núi, dòng chảy đóng vai dẫn khí còn ao hồ đóng vai tụ khí. Đó là lý do đền chùa vùng này gần như nơi nào cũng đào ao trước cửa.
Điều riêng của cụm này không nằm ở từng điểm mà nằm ở quan hệ giữa ba điểm. Ba nơi không xếp thành trục dọc, cũng không quây thành vòng, mà rải trên một vùng đồng vài cây số, mỗi nơi ứng với một đoạn đời, gồm nơi sinh ra, nơi tu hành và nơi được gọi về. Đọc theo lối cũ thì đây là một thế phân tam, khí không dồn vào một huyệt mà trải trên một vùng. Lối thờ phân tam như vậy thường gắn với người có một đời đi xa rồi không về được, và người sau lấy đất làng làm chỗ giữ thay.
Riêng đền Bia có một chỗ rất đáng đọc. Đền không đặt ở gò cao, không đặt cạnh làng, mà đặt đúng chỗ tấm bia dừng lại giữa cánh đồng. Trong phép cũ, chọn huyệt thường là đi tìm, còn ở đây thì huyệt tự chỉ ra chỗ của nó và người chỉ việc dựng theo. Lối lấy điểm dừng của một vật thiêng làm điểm đặt nơi thờ nói lên rằng người xưa tin đất tự nhận lấy chủ của nó chứ không phải người áp đặt lên đất.
Còn chùa Giám thì ngược hẳn. Ngôi chùa này đã hai lần rời khỏi nền đất cũ để tránh sạt lở và ngập úng, lần năm 1974 được tháo ra và dựng lại cách chỗ cũ chừng bảy cây số. Theo lối nghĩ cổ truyền thì một khi đã rời đất thì cái thế đất cũ không còn, chỗ dựa của nơi thờ chuyển từ đất sang vật, tức sang chính khung gỗ, pho tượng và tòa cửu phẩm được mang đi. Điều này hiếm gặp, vì phần lớn di tích Bắc Bộ giữ nguyên nền cũ, còn ở đây cái được giữ là công trình chứ không phải nền.
Về hướng, trong khi đền chùa vùng châu thổ theo lệ chung chuộng hướng nam và hướng đông nam thì đền Bia lại quay mặt tiền về hướng bắc, ngoảnh về phía làng Nghĩa Phú như nối mạch vọng về quê sinh của Thiền sư. Với ba nơi thờ một vị tổ nghề thuốc, một nét đáng đọc nữa là chỗ đặt vườn thuốc. Ở đền Bia, vườn cây thuốc Nam nằm ngay trong khuôn viên, tức nơi thờ và thứ nghề được thờ đứng chung một mảnh đất. Đọc theo lối cũ, đó là đắc vị, được đúng chỗ.
VLễ Tháng Tư Và Lệ Xin Thuốc
Kỳ lễ lớn nhất của cụm rơi vào đầu tháng Tư âm lịch, mở tại đền Bia và có phần rước sang đền Xưa, ngoài ra chùa Giám có kỳ hội riêng vào giữa tháng Hai âm lịch. Đầu tháng Tư là lúc giới làm thuốc cổ truyền nhiều nơi về dâng hương, nên hội ở đây mang dáng một kỳ họp mặt nghề nhiều hơn là một hội làng thuần túy.
| Ngày âm lịch | Nơi | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tới mùng 4 tháng Tư | Đền Bia | Chính hội vào mùng Một (ngày Thánh ứng). Có lễ cáo yết, lễ tế, rước bộ giữa hai đền, dâng hương tưởng niệm và lệ xin thuốc. |
| Đầu tháng Tư và 15 tháng Hai | Đền Xưa | Lễ tưởng niệm tại nơi quê sinh gắn với đám rước trong kỳ hội đền Bia đầu tháng Tư, cùng ngày kỷ niệm ngày mất của Thiền sư vào rằm tháng Hai âm lịch. |
| Ngày 14 tới 16 tháng Hai và rằm tháng Bảy | Chùa Giám | Hội truyền thống chùa Giám mở từ ngày 14 tới 16 tháng Hai âm lịch, cùng lễ Vu Lan và các ngày sóc vọng theo lệ nhà chùa, khác hẳn phần hội của hai ngôi đền. |
| Dịp đầu xuân | Cả ba nơi | Người đi lễ đầu năm thường đi đủ ba nơi trong một chuyến, phần lớn cầu sức khỏe. |
Nếp riêng nhất của nơi này là lệ xin thuốc. Người về lễ đặt lên ban thờ ít lá thuốc quen thuộc của vườn nhà, thường là lá tre, ngải cứu, cúc, cau, khấn xong rồi xin lại mà dùng. Lệ này khác hẳn lệ xin lộc thông thường ở chỗ thứ được xin không phải tiền, không phải đồ mã, mà là chính thứ nghề của người được thờ. Trong khuôn viên đền Bia còn vườn cây thuốc Nam và nơi khám bệnh bốc thuốc, nên việc xin thuốc ở đây nối liền với việc bốc thuốc thật chứ không dừng ở nghi thức.
Có một chỗ hay hiểu lệch về lệ xin thuốc, xin nói bằng giọng sử liệu và không trách ai. Lá thuốc xin ở đền là một nghi thức của lòng tin, đặt trong mạch nghĩa rằng người được thờ là tổ của nghề thuốc Nam, chứ bản thân việc đặt lá lên ban thờ không làm cho lá ấy chữa được bệnh. Chính người mở nghề ở đây là người dạy rằng thuốc phải đúng bệnh, phải biết tính từng vị, phải trồng và dùng cây quanh mình một cách có hiểu biết. Giữ lệ xin thuốc mà vẫn đi khám đi chữa cho đúng chỗ thì mới là giữ đúng cái mà ông để lại.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đền Xưa ở thôn Nghĩa Phú và đền Bia ở thôn Văn Thai cùng thuộc xã Tuệ Tĩnh, chùa Giám thuộc xã Cẩm Giang, thành phố Hải Phòng
- Đường tới
- Đền Xưa ở thôn Nghĩa Phú và đền Bia ở thôn Văn Thai cùng thuộc xã Tuệ Tĩnh, chùa Giám thuộc xã Cẩm Giang, đều trong địa phận thành phố Hải Phòng và cách nhau vài cây số đường đồng. Ba nơi đi liền trong một chuyến là thuận nhất.
- Toạ độ
- 20.9778, 106.2536
Ba nơi đều đang thờ tự, nên lệ nhà cần được giữ, ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào các lớp nhà trong, đi nhẹ nói khẽ ở hậu cung và tam bảo, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Ở chùa Giám, tòa Cửu phẩm liên hoa là bảo vật quốc gia, việc chạm tay hay tự ý đẩy cho tòa quay cần hỏi người trông coi chùa trước. Ở đền Bia, nếu quý vị muốn theo lệ xin thuốc thì nên hỏi người trong đền về cách đặt lá và cách xin cho đúng nếp của nơi ấy.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Cụm di tích đền Xưa, chùa Giám, đền Bia
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Cụm đền Xưa chùa Giám đền Bia thờ ai
Cả ba nơi cùng thờ Tuệ Tĩnh, tên thật Nguyễn Bá Tĩnh, thiền sư kiêm danh y sinh khoảng năm 1330, người đặt nền cho thuốc Nam với chủ trương dùng thuốc Nam chữa cho người Nam. Đền Xưa thờ tại quê sinh, chùa Giám thờ tại nơi ông tu hành, đền Bia thờ gắn với tấm bia mang lời nhắn của ông.
Vì sao một người lại có tới ba nơi thờ
Vì ba nơi giữ ba đoạn đời khác nhau. Đền Xưa giữ nơi sinh, chùa Giám giữ nơi tu hành và bốc thuốc, đền Bia giữ tấm bia được Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đưa từ phương bắc về sau khi Thiền sư mất ở đất khách. Ba nơi cách nhau vài cây số và cùng nằm trong một hồ sơ di tích.
Tòa Cửu phẩm liên hoa ở chùa Giám có gì đặc biệt
Đó là tòa tháp gỗ chín tầng sáu mặt dựng cuối thế kỷ XVII, đặt trên một trục đứng và quay được, cả tòa có 145 pho tượng và nặng khoảng bốn tấn. Người hành lễ vừa niệm vừa đẩy cho tòa xoay. Tòa được công nhận bảo vật quốc gia năm 2015. Chiều cao thì các nguồn ghi vênh nhau, từ 4,44 mét, 5,32 mét tới 6,52 mét.
Lễ hội đền Bia và chùa Giám tổ chức ngày nào
Kỳ hội chính ở đền Bia diễn ra từ mùng 1 tới mùng 4 tháng Tư âm lịch, chính hội vào mùng Một, có lễ tế, rước bộ giữa đền Bia và đền Xưa cùng lệ xin thuốc. Còn hội truyền thống chùa Giám diễn ra từ ngày 14 tới 16 tháng Hai âm lịch.
Xin thuốc ở đền Bia là lệ thế nào
Người đi lễ đặt lên ban thờ ít lá thuốc quen thuộc như lá tre, ngải cứu, cúc, cau, khấn rồi xin lại mà dùng. Trong khuôn viên đền còn vườn cây thuốc Nam và nơi bốc thuốc. Lệ này được chép là bắt rễ từ mùng 1 tháng Tư năm 1846, năm tư liệu địa phương gọi là năm Thánh ứng.