Nếu Đông Kinh (Thăng Long) là nơi các hoàng đế nhà Hậu Lê thiết triều trị nước, thì vùng đất Lam Sơn bên bờ bắc sông Chu dưới chân núi Dầu chính là cội nguồn phát tích của cuộc khởi nghĩa mười năm đánh đuổi quân Minh (1418 - 1427) và là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua Lê sơ. Sau khi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) băng hà năm Quý Sửu (1433) và được rước linh cữu về an táng tại Vĩnh Lăng, triều đình nhà Lê đã cho xây dựng tại quê hương nhà vua một kinh thành thứ hai gọi là Lam Kinh hay Tây Kinh.
Trải rộng trên diện tích bảo tồn khoảng 200 hecta thuộc xã Lam Sơn và một phần xã Kiên Thọ, tỉnh Thanh Hóa, quần thể di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh được quy hoạch chuẩn mực theo phép phong thủy cổ truyền, với núi Dầu làm hậu chẩm, sông Ngọc uốn lượn trước cổng Ngọ Môn, Chính điện chữ Công bề thế, chín tòa Thái Miếu hình cánh cung, sáu khu lăng vua cùng năm tấm bia đá thời Lê sơ đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.

IDòng chảy lịch sử
- 1416 - 1418Hội thề Lũng Nhai và dựng cờ khởi nghĩa Lam SơnTháng Hai năm Bính Thân (1416), Lê Lợi cùng 18 hào kiệt lập Hội thề Lũng Nhai. Ngày mồng 2 Tết Mậu Tuất (7/2/1418), ông chính thức dựng cờ khởi nghĩa tại quê hương Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, mở đầu 10 năm kháng chiến chống quân Minh.
- 1428Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Hậu LêSau chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang và Hội thề Đông Quan, tháng Tư năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi tại Đông Kinh (Thăng Long) tức Lê Thái Tổ, đặt quốc hiệu Đại Việt, niên hiệu Thuận Thiên, đồng thời coi đất tổ Lam Sơn là Tây Kinh.
- 1433 - 1434An táng Lê Thái Tổ tại Vĩnh Lăng và khởi dựng điện miếu Lam KinhTháng Tám năm Quý Sửu (1433), vua Lê Thái Tổ băng hà. Tháng Mười âm lịch cùng năm, linh cữu nhà vua được rước về an táng tại Vĩnh Lăng ở Lam Sơn, dựng tấm bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn văn bia. Năm Thuận Thiên thứ 7 (1434) đời Lê Thái Tông bắt đầu khởi dựng các cung điện, thái miếu tại Lam Kinh.
- Thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVIHoàn thiện quần thể cung điện và lăng tẩm các vua Lê sơQua các đời Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lam Kinh liên tục được mở rộng với Chính điện, chín tòa Thái Miếu và hệ thống lăng mộ các vua, hoàng thái hậu cùng những tấm bia đá lớn chạm khắc tinh xảo.
- Thế kỷ XVII - XVIIIBiến cố hỏa hoạn và các đợt trùng tu thời Lê Trung HưngTrải qua chiến cuộc Lê - Mạc và các vụ cháy lớn (như vụ cháy điện miếu năm 1600 đời Lê Kính Tông), nhiều công trình gỗ ở Lam Kinh bị thiêu hủy và được các vua thời Lê Trung Hưng cùng chúa Trịnh cho trùng tu nhiều lần trước khi dần đổ nát vào thời Nguyễn.
- 1962 - 2012Xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và phục dựng Chính điệnLam Kinh được xếp hạng di tích quốc gia năm 1962 và nâng cấp lên di tích quốc gia đặc biệt ngày 27 tháng 9 năm 2012 theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg. Trên cơ sở nền móng khảo cổ, công trình Chính điện và chín tòa Thái Miếu bằng gỗ lim được khởi công phục dựng từ năm 2010 và hoàn thiện nội thất vào đầu thập niên 2020.
- 2013 - 2020Công nhận năm tấm bia đá thời Lê sơ là Bảo vật quốc giaNăm tấm bia đá lớn tại Lam Kinh lần lượt được công nhận là Bảo vật quốc gia gồm Bia Vĩnh Lăng (30/12/2013), Bia Khôn Nguyên Chí Đức (2015), Bia Chiêu Lăng (2016), Bia Dụ Lăng (2017) và Bia Kính Lăng (15/01/2020). Năm 2018, lễ hội Lam Kinh được tổ chức trọng thể kỷ niệm 600 năm khởi nghĩa Lam Sơn.
IILê Thái Tổ, các vua Lê sơ và các hoàng thái hậu
Lam Kinh không phải là kinh thành để vua ở thường ngày mà là kinh đô tâm linh thờ cúng tổ tiên của hoàng tộc nhà Hậu Lê. Nhân vật trung tâm được tôn thờ là Thái Tổ Cao Hoàng Đế Lê Lợi cùng các tiên tổ họ Lê (như Lê Hối, Lê Đinh, Lê Khoáng, Lê Trừ) và các vị hoàng đế thời Lê sơ.
Phía sau Chính điện là chín tòa Thái Miếu xếp thành hình cánh cung, mỗi tòa phụng thờ bài vị và ngai thờ của các vua và hoàng hậu nhà Lê qua các thế hệ. Xung quanh khu điện miếu là hệ thống sáu khu lăng vua Lê sơ gồm Vĩnh Lăng (Lê Thái Tổ), Hựu Lăng (Lê Thái Tông), Mục Lăng (Lê Nhân Tông), Chiêu Lăng (Lê Thánh Tông), Dụ Lăng (Lê Hiến Tông), Kính Lăng (Lê Túc Tông) cùng các lăng hoàng thái hậu như lăng Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (thân mẫu vua Lê Thánh Tông) trên đồi Phú Lâm và lăng Huy Gia Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyên (thân mẫu vua Lê Hiến Tông).
Cách khu trung tâm Lam Kinh khoảng 5 km tại làng Tép (xã Kiên Thọ) còn có Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai, vị công thần đã mặc áo bào thay Lê Lợi liều mình cứu chúa ở núi Chí Linh năm 1419, tạo nên lệ giỗ nối liền hai ngày 21 và 22 tháng Tám âm lịch.
Không gian tế lễ trung tâm của các vua nhà Lê mỗi khi về bái yết sơn lăng, gồm ba tòa điện Quang Đức, Sùng Hiếu, Diên Khánh và dãy Thái Miếu phía sau.
Nơi an táng Lê Thái Tổ cùng các vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông và các hoàng thái hậu giữa rừng cổ thụ.
Gồm Bia Vĩnh Lăng (1433), Bia Chiêu Lăng (1498), Bia Khôn Nguyên Chí Đức (1498), Bia Dụ Lăng (1504) và Bia Kính Lăng (1505).
IIINúi Dầu, sông Ngọc và rừng lim Lam Sơn
Trục huyệt mạch tựa núi Dầu, nhìn ra núi Chúa và sông Chu: Toàn bộ khu điện miếu và Vĩnh Lăng được quy hoạch nghiêm ngặt theo trục bắc - nam của địa lý phong thủy phương Đông. Phía bắc có núi Dầu (Du Sơn) làm hậu chẩm vững chãi, từ núi Dầu trườn xuống dải đồi thấp nơi đặt Vĩnh Lăng và gò đất hình mai rùa nơi dựng Chính điện. Phía nam trước mặt có núi Hương và xa hơn là núi Chúa làm tiền án, bên tả có núi Phú Lâm làm Thanh Long, bên hữu có núi Hương và núi Rồng làm Bạch Hổ chầu về.
Sông Ngọc uốn cánh cung và Giếng cổ làm minh đường tụ thủy: Phía trước cổng Ngọ Môn có dòng sông Ngọc (sông đào dẫn nước từ hồ Tây chảy vòng qua trước thành) uốn lượn như dải lụa vắt ngang, bắc qua sông là cầu Bạch (Tiên Loan Kiều) cong hình cánh cung. Bên trái lối vào cách cầu Bạch khoảng 50 m là Giếng cổ rộng lớn kè đá ong quanh năm nước trong xanh không cạn, giữ vai trò tụ thủy và điều hòa sinh khí cho toàn khu nội điện.
Vĩnh Lăng nằm đúng trung tâm điểm tụ khí dưới chân núi Dầu: Khác với lăng tẩm xây thành cao hào sâu của nhiều triều đại khác, Vĩnh Lăng của vua Lê Thái Tổ được đặt trên một thềm đất bằng phẳng giữa sườn đồi thoai thoải, phía sau là núi Dầu, phía trước nhìn thẳng về trục điện miếu. Mộ chỉ đắp nấm đất vuông vắn giản dị giữa hai hàng tượng quan hầu và thú đá chầu, hòa vào gần 100 hecta rừng lim cổ thụ trầm mặc bao bọc xung quanh.
IVChính điện, chín tòa Thái Miếu, hệ thống lăng mộ và năm bảo vật bia đá
Khu trung tâm Hoàng thành và Chính điện Lam Kinh bắt đầu từ cầu Bạch bắc qua sông Ngọc theo lối "thượng gia hạ kiều" (trên nhà dưới cầu), dẫn qua cổng Ngọ Môn ba gian lợp ngói mũi hài có đôi nghê đá chầu vào Sân Rồng rộng lớn. Ở góc sân Rồng gần Ngọ Môn có cây đa thị hơn 300 năm tuổi (Cây Di sản Việt Nam, gốc đa ôm trọn thân thị). Trên nền đài cao ở chính giữa là Chính điện Lam Kinh có mặt bằng hình chữ Công gồm ba tòa điện lớn nối liền nhau là Quang Đức (tiền điện), Sùng Hiếu (trung điện) và Diên Khánh (hậu điện). Công trình phục dựng trên diện tích 1.645,04 m² đúng theo vị trí 138 chân tảng đá cổ phát lộ qua khảo cổ, sử dụng hàng ngàn mét khối gỗ lim xanh với hệ thống vì kèo chồng rường giá chiêng và các mảng chạm rồng thếp vàng lộng lẫy.
Phía sau Chính điện là chín tòa Thái Miếu xếp thành dãy hình cánh cung ôm lấy hậu điện, lợp ngói mũi hài, bên trong đặt ngai thờ, bài vị các vị hoàng đế và hoàng thái hậu nhà Hậu Lê.
Khu Vĩnh Lăng (lăng vua Lê Thái Tổ) nằm cách khu điện miếu khoảng 300 m về phía tây bắc. Đường thần đạo dẫn vào lăng có hai hàng tượng đá thế kỷ XV đứng chầu đối xứng gồm tượng quan hầu, nghê, ngựa, tê giác và hổ mang nét điêu khắc khỏe khoắn, chất phác của mỹ thuật đầu thời Lê sơ. Ngay bên phải lối vào lăng có cây ổi cười gần trăm năm tuổi dáng rồng chầu (khi chạm nhẹ vào thân hoặc chạc cây thì lá ở đầu cành rung rinh) và cây sui khoảng 600 năm tuổi.
Bia Vĩnh Lăng nằm ở phía tây nam lăng Lê Thái Tổ khoảng 300 m, được dựng tháng Mười âm lịch năm Quý Sửu (1433). Bia tạc bằng đá trầm tích nguyên khối, cao 2,79 m hoặc 2,97 m tùy nguồn đo đạc, rộng 1,94 m, dày 0,27 m, đặt trên lưng rùa đá dài 3,46 m. Mặt bia khắc khoảng 750 chữ Hán do danh nhân Nguyễn Trãi phụng soạn và Vũ Văn Phỉ viết chữ, tổng kết cuộc đời, đức độ của vua Lê Thái Tổ và toàn bộ chặng đường khởi nghĩa Lam Sơn.
Cùng với Bia Vĩnh Lăng (công nhận năm 2013), khu di tích Lam Kinh còn lưu giữ bốn tấm bia đá Bảo vật quốc gia khác gồm Bia Chiêu Lăng của vua Lê Thánh Tông (dựng năm 1498, nặng khoảng 13 tấn, công nhận năm 2016), Bia Khôn Nguyên Chí Đức của Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao trên đồi Phú Lâm (dựng năm 1498, công nhận năm 2015), Bia Dụ Lăng của vua Lê Hiến Tông (dựng năm 1504, công nhận năm 2017) và Bia Kính Lăng của vua Lê Túc Tông tại xã Kiên Thọ (dựng năm 1505, công nhận năm 2020).
VLễ hội Lam Kinh hăm mốt Lê Lai hăm hai Lê Lợi
Lễ hội Lam Kinh diễn ra hằng năm từ ngày 21 đến ngày 23 tháng Tám âm lịch (tâm điểm là ngày 21 và 22 tháng Tám), gắn liền với câu ca truyền tụng suốt nhiều thế kỷ của người Việt là "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi".
Ngày 21 tháng Tám âm lịch, lễ dâng hương tưởng niệm Trung Túc Vương Lê Lai được cử hành trọng thể tại đền Tép. Sang ngày 22 tháng Tám (ngày giỗ vua Lê Thái Tổ), đại lễ chính thức diễn ra tại sân Rồng Chính điện Lam Kinh với nghi thức rước kiệu vua Lê Thái Tổ và kiệu Trung Túc Vương Lê Lai, lễ dâng hương, đọc chúc văn và tế lễ theo nghi thức cung đình thời Lê.
Phần hội tái hiện hào khí Lam Sơn qua chương trình sân khấu hóa (Hội thề Lũng Nhai, Lê Lai cứu chúa, Giải phóng thành Đông Quan, Vua Lê đăng quang) và trình diễn các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đặc sắc của xứ Thanh như Trò Xuân Phả, Ngũ trò Viên Khê, Pôồn Pôông cùng cồng chiêng của đồng bào Mường.
VINhững chỗ nguồn ghi khác nhau
Về vị trí của Mục Lăng (lăng vua Lê Nhân Tông): Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tại Lam Kinh có sáu lăng vua Lê sơ gồm Vĩnh Lăng (Lê Thái Tổ), Hựu Lăng (Lê Thái Tông), Mục Lăng (Lê Nhân Tông), Chiêu Lăng (Lê Thánh Tông), Dụ Lăng (Lê Hiến Tông) và Kính Lăng (Lê Túc Tông). Hiện nay năm khu lăng đã xác định rõ vị trí trên thực địa, riêng vị trí chính xác của Mục Lăng thờ vua Lê Nhân Tông (bị sát hại năm 1459 trong biến loạn Nghi Dân) vẫn là một câu hỏi đang được các nhà khảo cổ tiếp tục tìm kiếm trong vùng rừng núi Lam Kinh.
Về số đo chiều cao Bia Vĩnh Lăng (2,79 m hay 2,97 m): Khi dẫn kích thước tấm bia Vĩnh Lăng (không tính rùa đá), các nguồn báo chí và hồ sơ giới thiệu có sự chênh lệch do đảo chữ số hàng thập phân, trong đó một số tài liệu chuyên khảo văn hóa ghi bia cao 2,79 m, rộng 1,94 m, dày 0,27 m (rùa dài 3,46 m, rộng 1,94 m, cao 0,90 m), còn một số bản tin thông tấn ghi bia cao 2,97 m, rộng 1,94 m, dày 0,27 m (rùa dài 3,46 m, rộng 1,90 m, cao 0,94 m).
Về việc phục dựng Chính điện Lam Kinh: Do Chính điện gỗ nguyên bản thế kỷ XV đã bị cháy hủy từ thế kỷ XVII và không còn bản vẽ thiết kế chi tiết đương thời, khi lập dự án phục dựng (2010 - 2020), hội đồng khoa học đã căn cứ tuyệt đối vào hệ thống 138 chân tảng đá xanh còn nguyên tại chỗ để xác định khẩu độ gian, bước cột, kết hợp đối chiếu với kiến trúc thời Lê còn bảo lưu ở các ngôi đình, đền cổ thế kỷ XVI - XVII để tái tạo phần bộ khung thượng và mái đao.
VIINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Lam Sơn và một phần xã Kiên Thọ (trước 01/07/2025 thuộc thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc), tỉnh Thanh Hóa
- Đường tới
- Khu di tích nằm tại xã Lam Sơn (thị trấn Lam Sơn cũ) và một phần xã Kiên Thọ, tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa cũ khoảng 50 km về phía tây bắc theo Quốc lộ 47 hoặc đường Hồ Chí Minh, và cách sân bay Thọ Xuân (Sao Vàng) chỉ khoảng 8 km.
- Toạ độ
- 19.9254, 105.4071
Khuôn viên Lam Kinh rất rộng và rợp bóng rừng lim cổ thụ. Từ cổng bán vé vào tới cầu Bạch, Chính điện, Vĩnh Lăng và Chiêu Lăng đi bộ khá xa (tổng quãng đường tham quan khoảng 2 - 3 km), du khách có thể đi bộ dưới tán rừng hoặc sử dụng xe điện nội khu. Nên dừng lại quan sát kỹ các chân tảng đá cổ thế kỷ XV được trưng bày cạnh Chính điện và chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm rồng thời Lê sơ trên Bia Vĩnh Lăng và Bia Chiêu Lăng. Giữ trật tự, ăn mặc trang nghiêm khi vào dâng hương trong Chính điện, các tòa Thái Miếu và khu vực Vĩnh Lăng. Từ Lam Kinh có thể kết hợp thăm Đền thờ Lê Lai (cách 5 km), đền thờ Lê Hoàn ở Xuân Lập (Thọ Xuân) khoảng 15 km và Thành nhà Hồ ở Vĩnh Lộc khoảng 35 km.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu di tích Lam Kinh
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Lam Kinh được gọi là Tây Kinh?
Dưới triều Hậu Lê, kinh đô chính nơi vua thiết triều là Thăng Long được gọi là Đông Kinh (kinh đô phía đông), còn quê hương phát tích của nhà Lê ở Lam Sơn (Thanh Hóa), nơi xây dựng cung điện và sơn lăng thờ tổ tiên, được tôn xưng là Tây Kinh (kinh đô phía tây) hay Lam Kinh.
Tại Khu di tích Lam Kinh có bao nhiêu Bảo vật quốc gia?
Hiện nay Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh lưu giữ 5 tấm bia đá thời Lê sơ đã được công nhận là Bảo vật quốc gia, gồm Bia Vĩnh Lăng của vua Lê Thái Tổ (dựng năm 1433, công nhận năm 2013), Bia Khôn Nguyên Chí Đức của Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (dựng năm 1498, công nhận năm 2015), Bia Chiêu Lăng của vua Lê Thánh Tông (dựng năm 1498, công nhận năm 2016), Bia Dụ Lăng của vua Lê Hiến Tông (dựng năm 1504, công nhận năm 2017) và Bia Kính Lăng của vua Lê Túc Tông (dựng năm 1505, công nhận năm 2020).
Câu "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi" có ý nghĩa gì?
Lê Lai là vị tướng đã mặc áo bào của Lê Lợi dẫn quân cảm tử phá vòng vây giặc Minh ở núi Chí Linh năm 1419 để cứu chúa và hy sinh. Trước khi băng hà vào ngày 22 tháng Tám âm lịch năm 1433, vua Lê Thái Tổ dặn con cháu đời sau phải làm lễ giỗ Lê Lai vào ngày 21 tháng Tám, trước ngày giỗ của chính nhà vua một ngày để trọn đạo ân nghĩa.
Cây ổi cười ở Lam Kinh nằm ở đâu?
Cây ổi cười nằm ngay bên phải lối vào khu vực Vĩnh Lăng (mộ vua Lê Thái Tổ). Cây có tuổi đời gần một thế kỷ, dáng uốn lượn hướng về phía lăng vua, đặc biệt khi du khách dùng ngón tay gãi nhẹ vào phần thân hoặc chạc cây thì lá ở đầu các cành nhỏ rung lên rõ rệt.
Cầu Bạch bắc qua sông Ngọc ở Lam Kinh được làm theo kiểu kiến trúc nào?
Cầu Bạch bắc qua sông Ngọc trước cổng Ngọ Môn của Hoàng thành Lam Kinh được dựng theo lối thượng gia hạ kiều (trên là nhà gỗ lợp ngói, dưới là cầu nối hai bờ), tạo nên điểm mở đầu trang nghiêm trên trục thần đạo dẫn vào Chính điện.