VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Khu di tích Lam Kinh

Tây Kinh, Lam Sơn, Thái miếu Lam Kinh, Vĩnh Lăng

Một kinh đô thứ hai được dựng ra không phải để ở mà chỉ để thờ tổ và để chôn cất, ngay trên mảnh đất phát tích của dòng họ.

Đổi tên thành Lam Kinh
1430
trước đó gọi là Lam Sơn
Chính điện
khoảng 1433
ba tòa nối nhau hình chữ công
Bia Vĩnh Lăng
1433
Nguyễn Trãi soạn, nặng chừng 18 tấn

Qua một cây cầu đá bắc trên con sông nhỏ, quý vị đi giữa hai hàng cây già rồi gặp một tòa cổng ba lối. Sau cổng là một khoảnh sân rộng, rồi ba nếp nhà gỗ lớn nối nhau chạy sâu vào trong. Vòng ra phía sau ba nếp nhà ấy, đất thoải dần lên và hiện ra một dãy tòa nhà xếp thành hình cánh cung. Đi tiếp vào rừng thì gặp những nấm lăng thấp, trước mỗi lăng có tượng người và tượng thú bằng đá đứng chầu hai bên lối.

Đây là Lam Kinh, tên gọi từ năm 1430 của đất Lam Sơn, quê gốc nhà Lê. Nơi này từng được gọi là Tây Kinh để đặt cạnh Đông Kinh ngoài Thăng Long, nhưng nó không phải một kinh đô để ở. Không có triều đình đóng ở đây, không có việc nước bàn ở đây. Cả khu được dựng ra để làm hai việc: thờ tổchôn cất.

IThờ Tổ Trên Chính Đất Phát Tích

Đối tượng thờ ở Lam Kinh là tổ tiên, các vua và các hoàng thái hậu của nhà Lê. Việc thờ được chia làm hai lớp rất rõ: chính điện ba tòa dùng cho việc bái yết, tức chỗ vua và tôn thất về hành lễ mỗi khi có dịp lớn, còn hệ thống Thái miếu chín tòa phía sau mới là chỗ đặt án thờ từng vị.

Chín tòa miếu xếp thành hình cánh cung sau lưng chính điện, mỗi tòa rộng chừng 180 tới 220 mét vuông. Cách bày ấy khác hẳn lối xếp án thờ chung trong một tòa nhà lớn: ở đây mỗi vị có một nếp nhà riêng, và thứ bậc được đọc bằng chỗ đứng của từng nếp nhà trên đường cong ấy chứ không bằng chỗ ngồi trên một hàng án.

Theo giáo nghĩa

Theo điển chế Nho, miếu thờ tổ của một triều đại phải đặt trong kinh đô, và thứ tự các án phải theo phép tả chiêu hữu mục, tức vị khởi tổ ở giữa rồi các đời sau xếp so le sang trái và sang phải. Lam Kinh giữ đúng cái lõi ấy nhưng dịch nó sang một hình khác: thay vì xếp án trong một tòa, người xưa xếp cả tòa nhà theo một đường cong ôm lấy chính điện.

Có một nguyên tắc nữa của Nho được dùng rất mạnh ở đây, đó là hiếu hiểu theo nghĩa đất đai. Sách xưa dạy rằng cây có gốc, nước có nguồn, nên nơi phát tích của dòng họ là nơi phải giữ. Dựng miếu và đặt lăng ngay trên đất tổ là cách làm cho chữ hiếu có một địa chỉ cụ thể trên bản đồ, chứ không chỉ nằm trong lời khấn.

Theo sử liệu

Ngoài khu trung tâm, vùng chung quanh còn có đền thờ Lê Lai, vị công thần được thờ riêng một nơi. Việc một người ngoài dòng họ được lập đền riêng gần khu thờ tổ của hoàng tộc là điều không thường gặp, và nó giải thích vì sao lịch lễ trong năm ở vùng này gồm hai ngày liền nhau chứ không chỉ một ngày.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất về Lam Kinh là coi đây là một kinh thành theo nghĩa thông thường, tức nơi có vua ở và có triều đình làm việc. Theo tư liệu thì không phải. Đông Kinh ngoài Thăng Long mới là nơi đặt triều đình, còn Lam Kinh là nơi tôn thất về bái yết tổ tiên và là nơi đặt phần mộ. Nhiều bài giới thiệu gọi nơi này là kinh thành cổ, cách gọi ấy đúng về hình dáng công trình nhưng dễ làm người đọc hiểu sai chức năng.

Một chỗ lẫn nữa là tên. Lam Sơn là tên đất, Lam Kinh là tên đặt cho khu kinh đô thờ tự từ năm 1430, còn Tây Kinh là cách gọi để phân biệt với Đông Kinh. Ba tên ấy chỉ cùng một vùng nhưng nhấn vào ba mặt khác nhau.

IISáu Trăm Năm Của Một Kinh Đô Thờ Tự

Lam Sơn vốn là một vùng đất ở miền tây Thanh Hóa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn những năm đầu thế kỷ 15 khởi phát từ đây, và đó là lý do duy nhất liên quan tới việc binh mà bài này nhắc tới. Việc đáng kể với thư viện là những gì xảy ra sau đó: mảnh đất ấy được nâng lên thành một kinh đô dành riêng cho việc thờ.

  • 1430Đổi tên Lam Sơn thành Lam Kinh
    Từ năm này, đất Lam Sơn mang tên Lam Kinh và bắt đầu được dựng thành một kinh đô thứ hai, chuyên việc thờ cúng và lăng tẩm.
  • 1433Dựng chính điện và dựng bia Vĩnh Lăng
    Chính điện ba tòa được dựng sau khi vua đầu triều qua đời. Cùng năm, tấm bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn văn được dựng trước phần mộ.
  • Thế kỷ 15Hình thành hệ thống Thái miếu và các lăng
    Chín tòa Thái miếu xếp hình cánh cung sau chính điện, cùng các khu lăng mộ vua và hoàng thái hậu lần lượt được đặt trong vùng rừng chung quanh.
  • 2008Tu bổ hệ thống tường thành
    Theo hồ sơ di tích, các đoạn tường thành của khu di tích được tu bổ trong năm này.
  • 2010Phục dựng chính điện
    Công việc phục dựng chính điện trên nền móng cũ được tiến hành, gỗ lim là vật liệu chính cho hệ khung.
  • 2012Di tích quốc gia đặc biệt
    Xếp hạng theo Quyết định số 1419 ngày 27 tháng 9 năm 2012.
  • 2013Bia Vĩnh Lăng thành bảo vật quốc gia
    Tấm bia được công nhận là bảo vật quốc gia vào tháng 12 năm 2013.
Theo sử liệu

Về diện tích khu di tích, các nguồn ghi vênh nhau, xin nói thẳng. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản ghi khu di tích trải trên khoảng 200 hecta. Trang thông tin của chính khu di tích ghi 141 hecta, còn một bản tin của hãng thông tấn ghi khoảng 140 hecta. Chênh lệch nhiều khả năng do có nguồn tính cả vùng đệm và vùng rừng chung quanh, có nguồn chỉ tính phần lõi. Thư viện ghi cả hai con số chứ không chọn bừa một con số.

IIIMột Quần Thể Chỉ Để Thờ Và Để Táng

Điều cần hình dung trước tiên là quy mô trải rộng và sự phân vai rất rạch ròi giữa các phần. Khu trung tâm nằm gọn trong vòng thành, còn các lăng mộ thì rải trong rừng chung quanh, mỗi lăng một khoảnh riêng. Người xưa không gom mộ lại một chỗ mà để rải, và cách để rải ấy có lý do của nó, sẽ nói ở mục thế đất.

Cầu Bạch và sông Ngọc

Lối vào chính đi qua một cây cầu đá bắc trên sông Ngọc, con sông nhỏ chảy vòng trước mặt khu trung tâm. Cầu làm theo lối trên nhà dưới cầu, tức có mái che bên trên mặt cầu.

Ngọ môn và sân rồng

Cổng chính ba lối, tư liệu ghi rộng chừng 11 mét và dài hơn 14 mét, lối giữa rộng 3,6 mét, hai lối bên mỗi lối 2,74 mét, bốn cột chính có chân tảng đường kính 78 phân. Qua cổng là sân rồng trải suốt chiều ngang khu trung tâm.

Chính điện ba tòa

Ba tòa nối nhau hình chữ công, mang tên Quang Đức, Sùng Hiếu và Diên Khánh. Tư liệu ghi diện tích nền khoảng 1.645 tới 1.648 mét vuông tùy nguồn, nền cũ có 138 cột và nay còn 124 chân tảng đá. Đây là chỗ dùng cho việc bái yết, không phải chỗ đặt án thờ từng vị.

Chín tòa Thái miếu

Xếp thành hình cánh cung sau lưng chính điện, mỗi tòa rộng chừng 180 tới 220 mét vuông, thờ tổ tiên, các vua và hoàng thái hậu nhà Lê. Theo tư liệu, năm trong chín tòa đã được phục dựng bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch theo lối cũ.

Các khu lăng mộ

Sáu khu lăng nằm rải trong rừng, mỗi khu chừng 400 mét vuông, trong đó có Vĩnh Lăng của vua đầu triều cùng lăng của các vua kế tiếp và lăng Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Mỗi lăng có một tấm bia riêng đặt cách phần mộ một quãng.

Tượng chầu trước lăng

Trước Vĩnh Lăng có hai hàng tượng đá đứng chầu dọc lối vào, gồm tượng quan hầu và tượng các con vật. Tượng tạc nhỏ, dáng chắc, ít chi tiết rườm, đó là nét riêng của điêu khắc đá thời Lê sơ so với các thời sau.

Theo sử liệu

Bia Vĩnh Lăng là hiện vật đáng kể nhất của cả khu. Tư liệu ghi bia dựng năm 1433, tạc từ một khối đá trầm tích nguyên khối, thân bia cao 2,79 mét, rộng 1,94 mét, dày 0,27 mét, đặt trên lưng một con rùa đá dài 3,46 mét, rộng 1,94 mét, dày 0,9 mét. Cả khối nặng chừng 18 tấn. Văn bia do Nguyễn Trãi soạn, dài hơn bảy trăm năm mươi chữ Hán. Bia đặt cách phần mộ chừng 300 mét.

Điều đáng học ở tấm bia này không nằm ở kích thước mà ở lối văn. Văn bia lăng mộ theo lệ Nho là một thể riêng, gọi là thần đạo bi, viết để dựng trên đường thần đạo dẫn vào mộ. Thể ấy đòi phải ghi gốc tích, ghi công nghiệp, ghi ngày tháng, và phải viết gọn, không được phô. Bia Vĩnh Lăng giữ đúng cái mực ấy, và chính sự kiệm lời của nó làm nên giá trị.

Chỗ hay hiểu lầm

Về rừng Lam Kinh và mấy cây được dân quanh vùng coi là cây thiêng, xin ghi theo đúng thứ đọc được. Trong khu có một cây ổi mọc gần Vĩnh Lăng, cách chính điện chừng 50 mét, mà người tới thăm quen gọi là cây ổi cười vì khi chạm vào thân thì cả tán cây rung. Có một cây đa quấn lấy một cây thị, gọi là cây đa thị, tư liệu ghi tuổi hơn ba trăm năm và đã được công nhận là cây di sản. Có một cây lim cổ thụ chừng sáu trăm năm tuổi mà năm 2010, đúng dịp phục dựng chính điện, cây rụng hết lá rồi chết, gỗ được lấy làm cột cái cho tòa nhà dựng lại, nên dân gọi là cây lim hiến thân.

Thư viện ghi những chuyện ấy như ghi một lớp tín niệm của người quanh vùng, không xếp chúng vào hàng sử liệu và cũng không phủ nhận. Điều chắc chắn kiểm được là gỗ của cây lim ấy có thật trong hệ khung chính điện hôm nay.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Lam Kinh là một trong số ít nơi mà thế đất đọc ra gần như trọn bộ các thành phần mà sách xem đất đòi hỏi, và tư liệu cũng mô tả khá rõ. Phía bắc khu trung tâm dựa vào núi Dầu, phía nam nhìn ra sông Chu, phía trước có núi Chúa đứng làm tiền án, bên tả có rừng Phú Lâm, bên hữu có núi Hương và núi Hàm Rồng chắn về phía tây. Đem đối chiếu với sách thì đó đúng là hình hậu chẩm có sơn, minh đường có thủy, tả long hữu hổ đủ đôi.

Điểm đáng nói thứ nhất là hai lớp nước. Xa thì có sông Chu làm dòng lớn ôm ngoài, gần thì có sông Ngọc chảy vòng ngay trước mặt khu trung tâm. Trong phép xem đất, một dòng lớn ở xa gọi là ngoại thủy, giữ vai trò dẫn khí cho cả vùng, còn một dòng nhỏ ôm sát gọi là nội thủy, giữ vai trò giữ khí không cho tuột. Có đủ cả hai là thế hiếm. Cây cầu đá bắc qua sông Ngọc vì vậy không chỉ là lối đi, nó là chỗ vượt qua ranh giới giữa ngoài và trong.

Điểm thứ hai là núi Chúa làm tiền án. Án sơn là ngọn núi đứng trước mặt, không quá cao để chắn tầm nhìn nhưng đủ để chặn gió và để mắt có chỗ dừng. Theo phép cũ, minh đường mà không có án thì khí đi thẳng tuột, tài lộc và phúc trạch không đọng. Với một khu thờ tổ thì cái đọng ấy được hiểu sang nghĩa khác: đọng là để phúc ấm ở lại với con cháu.

Điểm thứ ba là các lăng để rải chứ không gom. Đây là chỗ khác nhau căn bản giữa lăng tẩm và miếu thờ. Miếu thì gom một chỗ để tiện tế lễ và để thấy rõ thứ bậc. Lăng thì mỗi ngôi phải tìm một huyệt riêng, vì theo phép táng, huyệt là chỗ mạch đất kết lại, mà mạch không kết hai lần ở cùng một điểm. Các lăng ở Lam Kinh nằm rải trong rừng, mỗi ngôi một khoảnh, khoảng cách giữa chúng không do thiếu đất mà do phép chọn huyệt.

Điểm thứ tư là bia đặt xa mộ. Tấm bia Vĩnh Lăng đặt cách phần mộ chừng 300 mét, trên đường dẫn vào. Theo lối cũ, khoảng cách ấy là thần đạo, con đường mà người đến viếng phải đi bộ hết mới tới nơi. Đặt bia ở đầu đường chứ không đặt sát mộ là để người đọc bia trước rồi mới vào lễ, tức biết trước rồi mới vái.

VHội Tháng Tám Và Hai Ngày Giỗ

Lịch lễ ở Lam Kinh gọn và rất dễ nhớ, vì dân quanh vùng đã gói nó vào một câu sáu chữ: hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi. Hai ngày liền nhau trong tháng Tám âm lịch, một ngày cho vị công thần, một ngày cho vị vua đầu triều. Lễ hội Lam Kinh lấy hai ngày ấy làm lõi.

Lịch lễ theo âm lịch của khu di tích Lam Kinh và đền thờ Lê Lai. Nguồn: Tư liệu của cơ quan quản lý di sản và bản tin về lễ hội Lam Kinh..
Ngày âm lịchNội dungGhi chú
21 tháng TámGiỗ Lê LaiLễ tưởng niệm vị công thần, cử hành tại đền thờ Lê Lai trong vùng, mở màn cho hai ngày lễ liền nhau.
22 tháng TámGiỗ Lê LợiNgày trọng nhất trong năm của khu di tích, có lễ rước kiệu, lễ dâng hương và đại tế tại khu trung tâm Lam Kinh.
Phần hội hai ngàyTrò diễn dân gianTrò Xuân Phả, múa rồng và dân ca Đông Anh là ba lớp diễn quen thuộc của vùng đất này trong dịp hội.
Rằm và mùng mộtDâng hương thường lệNgoài hai ngày giỗ, khu Thái miếu và các lăng có lệ dâng hương vào các ngày rằm và mùng một theo lệ chung.

Lễ hội Lam Kinh đã được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Thứ đáng chú ý trong hồ sơ ấy không phải quy mô mà là trật tự hai ngày. Trong lệ thờ cúng cổ truyền, người ngoài họ không được cúng trước người trong họ, vậy mà ở đây ngày giỗ của vị công thần lại đặt trước ngày giỗ của vị vua. Dân gian giải thích điều đó bằng một tích cũ, và bất kể tích ấy đúng tới đâu, việc giữ nguyên thứ tự ấy suốt mấy trăm năm cho thấy người vùng này coi món nợ nghĩa nặng hơn thứ bậc.

Một chi tiết nữa: trò Xuân Phả vốn là điệu múa của một làng trong vùng, có gốc từ lễ nghi cung đình chứ không phải trò chơi hội làng thuần túy. Việc điệu múa ấy vẫn được diễn trong hội Lam Kinh là dấu cho thấy khu di tích này giữ được cả lớp lễ nhà nước lẫn lớp lệ làng, hai thứ vốn ít khi còn đủ ở cùng một nơi.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Xuân Lam và thị trấn Lam Sơn cũ, nay là xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Đường tới
Nằm ở xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa, bên đường từ thành phố Thanh Hóa đi lên miền tây của tỉnh. Đền thờ Lê Lai nằm cách khu trung tâm một quãng ngắn về phía tây, nên hai nơi thường được đi trong cùng một chuyến.
Toạ độ
19.9254, 105.4071
Khi tới nơi

Khu di tích vừa là nơi thờ tự vừa là khu mộ, nên lệ ở đây chặt hơn lệ đền chùa thường. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chính điện và các tòa Thái miếu, đi nhẹ nói khẽ trong khu lăng. Không bước lên mặt nền lăng, không ngồi hay tựa vào tượng đá và rùa đá, không chạm tay lên mặt bia. Trong rừng Lam Kinh, xin đi theo lối đã mở và không bẻ cành hay buộc vật gì lên các cây cổ thụ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu di tích Lam Kinh

Contribute photos, information or video for Lam Kinh Royal Citadel and Tombs

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Lam Kinh thờ ai

Thờ tổ tiên, các vua và các hoàng thái hậu nhà Lê. Chính điện ba tòa dùng cho việc bái yết, còn chín tòa Thái miếu xếp hình cánh cung phía sau mới là chỗ đặt án thờ từng vị. Trong vùng còn có đền thờ Lê Lai, vị công thần được thờ riêng một nơi.

Vì sao gọi Lam Kinh là kinh đô thứ hai

Vì từ năm 1430 đất Lam Sơn được nâng lên thành một kinh đô mang tên Lam Kinh, còn gọi là Tây Kinh để đặt cạnh Đông Kinh ngoài Thăng Long. Nhưng đây không phải kinh đô để ở: không có triều đình đóng tại đây, cả khu chỉ dựng cho hai việc là thờ tổ và đặt lăng mộ.

Bia Vĩnh Lăng do ai soạn và lớn cỡ nào

Văn bia do Nguyễn Trãi soạn, bia dựng năm 1433, dài hơn bảy trăm năm mươi chữ Hán. Thân bia cao 2,79 mét, rộng 1,94 mét, dày 0,27 mét, đặt trên lưng một con rùa đá dài 3,46 mét. Cả khối nặng chừng 18 tấn, được công nhận bảo vật quốc gia tháng 12 năm 2013.

Lễ hội Lam Kinh vào ngày nào

Vào tháng Tám âm lịch, theo câu quen thuộc của vùng là hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi. Ngày 21 giỗ vị công thần, ngày 22 giỗ vị vua đầu triều với lễ rước kiệu, dâng hương và đại tế. Phần hội có trò Xuân Phả, múa rồng và dân ca Đông Anh.

Khu di tích Lam Kinh rộng bao nhiêu

Các nguồn ghi vênh nhau. Hồ sơ di tích của cơ quan quản lý di sản ghi khoảng 200 hecta, trang thông tin của chính khu di tích ghi 141 hecta, một bản tin của hãng thông tấn ghi khoảng 140 hecta. Chênh lệch nhiều khả năng do có nguồn tính cả vùng rừng chung quanh, có nguồn chỉ tính phần lõi.

Đọc Tiếp