Đi giữa Đồng Tháp Mười, quý vị thấy đất phẳng tới mức không có gì để mắt bám vào. Rồi mặt đất nhô lên một chút, chỉ vài mét thôi, và trên chỗ nhô ấy là cây cổ thụ, mái miếu, mái chùa, mái đền. Cả vùng trũng ngập nước theo mùa, còn khoảnh đất này thì quanh năm khô, nên suốt hai nghìn năm nay chỗ nào có người thờ cúng trong vùng thì đều là chỗ này.
Điều làm Gò Tháp khác mọi nơi khác là ba lớp thờ chồng lên nhau dưới chân quý vị. Dưới cùng là nền đền tháp của văn hóa Óc Eo, đã tắt hương khói từ hơn nghìn năm. Ở giữa là miếu Bà Chúa Xứ, nơi đang đông người nhất và là hạt nhân hương khói hôm nay. Trên nữa là mấy đền thờ danh nhân dựng thời gần đây cùng một ngôi chùa. Ba lớp ấy không phải một, và bài này tách chúng ra.
IBa Lớp Thờ Trên Một Gò
Thư viện xếp Gò Tháp vào Đạo Mẫu chứ không xếp vào Thờ Cúng Tổ Tiên, và lý do nằm ở chỗ hạt nhân hương khói của nơi này là miếu Bà Chúa Xứ cùng kỳ lễ vía Bà rằm tháng Ba. Đó là cùng một hệ với miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, tức lớp tín ngưỡng nữ thần đất đai của Nam Bộ. Các lớp khác trên gò đều có thật và đều đáng kể, nhưng chúng không phải cái làm nên nhịp sống thờ tự của nơi này.
Lớp thứ nhất: nền đền tháp Óc Eo
Dưới lòng gò là dấu tích của văn hóa Óc Eo, niên đại khoảng thế kỷ I tới thế kỷ VI, thuộc phạm vi vương quốc Phù Nam. Khai quật ở đây đã tìm được dấu nền của hơn mười phế tích kiến trúc đền tháp, cùng hệ ao và giếng được gọi là ao thần, giếng thần, vốn là những thành phần quen thuộc của một khu đền tháp Ấn Độ giáo.
Hiện vật thu được gồm tượng thần Vishnu và Shiva bằng đá sa thạch, mảnh bệ yoni, khuôn đúc trang sức, cùng một sưu tập hơn bốn trăm hiện vật vàng gồm lá vàng, khuyên tai, nhẫn và dây chuyền. Hai pho tượng Vishnu tìm được ở đây đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Lớp thờ này đã tắt từ lâu, không còn ai hành lễ theo nghi thức của nó, và nó chỉ hiện diện dưới dạng nền gạch, hiện vật và hố khai quật.
Lớp thứ hai: miếu Bà Chúa Xứ
Bà Chúa Xứ trong tín ngưỡng Nam Bộ là vị nữ thần làm chủ một vùng đất, người dân quen gọi là Mẹ Xứ Sở. Đây là lớp thờ nữ thần đất đai, thuộc hệ Đạo Mẫu theo cách phân của thư viện, và khác với hệ Tứ Phủ của Bắc Bộ ở chỗ không có hàng Chầu, hàng Quan Lớn, hàng Cô hàng Cậu, không có giá hầu và bản văn.
Người đi lễ Bà Chúa Xứ cầu những việc thuộc đời sống đang diễn ra: mùa màng, buôn bán, sức khỏe, con cái. Nếp quen của Nam Bộ là vay lộc rồi trả lễ, tức xin Bà phù hộ cho một việc, việc xong thì năm sau quay lại làm lễ tạ. Bên cạnh miếu Bà trên gò còn có miếu Hoàng Cô, một ban thờ nữ thần khác của vùng.
Lớp thứ ba: đền thờ danh nhân và chùa
Lớp trên cùng gồm hai ngôi đền thờ Thiên Hộ Võ Duy Dương và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều, hai vị thủ lĩnh từng lấy vùng này làm chỗ dựng cơ nghiệp hồi thế kỷ XIX, và chùa Tháp Linh thờ Phật. Đền hai ông dựng năm 1958, là lớp mới nhất trong ba lớp, giỗ vào rằm tháng Mười Một âm lịch.
Điều đáng đọc không phải tiểu sử hai ông mà là cách người sau tiếp nhận nền thờ của người trước. Người Việt tới khẩn hoang vùng này không xóa cái có sẵn, cũng không thờ tiếp theo nghi thức cũ. Họ dựng miếu của mình cạnh nền gạch đã tắt, rồi mấy chục năm sau lại dựng thêm đền thờ người của mình bên cạnh. Ba lớp không đè lên nhau mà đứng cạnh nhau.
Chỗ hay hiểu lệch nhất ở Gò Tháp là gộp ba lớp làm một, coi miếu Bà là nơi thờ tiếp nối của đền tháp cổ, hoặc coi cả khu là một đền thờ danh nhân có thêm phần khảo cổ. Cả hai cách hiểu ấy đều làm mất cái hay của nơi này.
Ba lớp thuộc ba hệ tín ngưỡng khác nhau: nền gạch dưới cùng là đền tháp Ấn Độ giáo của một nền văn hóa đã kết thúc, miếu Bà Chúa Xứ là tín ngưỡng nữ thần của người Việt Nam Bộ, các đền thờ danh nhân là lối thờ nhân thần do dân lập. Không lớp nào sinh ra lớp nào. Thứ nối chúng lại chỉ là mảnh đất cao ráo giữa vùng trũng, và đó đã là một lý do đủ lớn, vì ở Đồng Tháp Mười một chỗ khô quanh năm là của hiếm.
IIHai Nghìn Năm Trên Một Khoảnh Đất Cao
Khu di tích trải rộng khoảng hai trăm chín mươi hecta, gồm nhiều gò nằm gần nhau. Ba gò được nhắc tới nhiều nhất là gò Tháp Mười, gò cao nhất và là nơi mặt gò xuất lộ nhiều gạch cổ, gò Minh Sư cách đó chừng bốn trăm mét về phía bắc đông bắc, và gò Bà Chúa Xứ cách gò Tháp Mười chừng năm trăm bảy mươi mét về phía bắc.
- Thế kỷ I tới VILớp văn hóa Óc EoTrên gò hình thành một cụm kiến trúc đền tháp Ấn Độ giáo thuộc phạm vi vương quốc Phù Nam, kèm hệ ao thần giếng thần. Đây là lớp dưới cùng, để lại nền gạch và hiện vật.
- Thế kỷ XIXNgười Việt tới khẩn hoangVùng Đồng Tháp Mười được khai phá, và gò đất cao ráo này trở thành nơi tụ cư cùng nơi thờ cúng của lớp dân mới. Đây cũng là thời hai vị thủ lĩnh về sau được thờ ở đây gắn bó với vùng đất.
- 1914Dựng miếu Bà Chúa Xứ bằng vật liệu nhẹTư liệu địa phương chép năm này người dân trong vùng cùng nhau cất một ngôi miếu bằng vật liệu nhẹ để thờ Bà Chúa Xứ, đây là gốc của miếu Bà hôm nay.
- 1958Dựng đền thờ hai ôngHai ngôi đền thờ Thiên Hộ Võ Duy Dương và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều được xây trên gò, thành lớp thờ thứ ba của khu.
- 1973Miếu Bà được xây lạiSau nhiều biến cố, ngôi miếu được dựng lại chắc chắn hơn. Đây là mốc mà hồ sơ di tích lấy làm năm dựng miếu Bà Chúa Xứ.
- 1996Miếu Bà dời về vị trí hiện nayMiếu được chuyển về chỗ đang thấy hôm nay, và từ đó kỳ vía Bà rằm tháng Ba được tổ chức tại vị trí này.
- 2012Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1419 ngày 27 tháng 9 năm 2012, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Gò Tháp.
- 2025Lễ hội vía Bà thành di sản phi vật thể quốc giaLễ hội vía Bà Chúa Xứ Gò Tháp được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Về năm dựng miếu Bà thì các nguồn ghi vênh nhau, thư viện nêu thẳng ra đây. Báo địa phương chép người dân dựng miếu bằng vật liệu nhẹ từ năm 1914, xây lại năm 1973 rồi dời về chỗ hiện nay năm 1996. Hồ sơ của cơ quan quản lý di sản thì ghi gọn miếu Bà Chúa Xứ dựng năm 1973. Nhiều khả năng hai cách ghi nói về hai việc khác nhau, một bên tính từ ngôi miếu đầu bằng tre lá và một bên tính từ ngôi miếu xây, nhưng chưa có một mốc chính thức thống nhất.
Tên gọi Tháp Mười cũng là chỗ chưa ngã ngũ. Có cách giải thích gắn với một ngôi tháp nhiều tầng từng đứng trên gò, có cách giải thích gắn với thứ tự của ngôi tháp trong một chuỗi kiến trúc cổ. Thư viện ghi lại rằng đây là địa danh có nhiều cách giải, không chọn một cách làm chuẩn.
IIINhững Gì Đang Đứng Trên Gò
Thư viện viết ở tầng cụm, nêu cái khung của từng thành phần, vì mấy thành phần trong khu đều đủ sức đứng thành trang riêng, nhất là miếu Bà Chúa Xứ và khu khai quật Óc Eo.
Nằm trên gò Bà Chúa Xứ, là nơi đông hương khói nhất khu. Lối dựng theo kiểu miếu Nam Bộ, mái thấp, gian thờ chính đặt ban thờ Bà, trước miếu có sân rộng để bày lễ trong kỳ vía.
Ban thờ nữ thần khác nằm trong khu, cùng hệ tín ngưỡng nữ thần Nam Bộ với miếu Bà nhưng là một nơi thờ riêng, không phải một gian của miếu Bà.
Ngôi chùa thờ Phật trên gò, sinh hoạt theo lệ nhà chùa, tách hẳn khỏi phần lễ của miếu Bà và của hai ngôi đền. Đây là lớp thờ Phật Giáo trong khu.
Đền thờ Thiên Hộ Võ Duy Dương và đền thờ Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều, xây năm 1958, thuộc lối thờ nhân thần do dân lập. Giỗ hai ông vào rằm tháng Mười Một âm lịch.
Các hố khai quật trên gò Tháp Mười và gò Minh Sư để lộ nền gạch của kiến trúc đền tháp cổ, cùng hệ ao và giếng được gọi là ao thần, giếng thần. Đây là phần khảo cổ, không phải nơi đang hành lễ.
Điểm đáng chú ý về bố cục là các công trình không xếp theo một trục. Chúng rải trên nhiều gò nhỏ, cách nhau vài trăm mét, nối với nhau bằng đường đi dưới tán cây. Đây không phải cách bày của một quần thể được thiết kế một lần, mà là dấu vết của việc mỗi lớp người tới sau lại chọn một mô đất còn trống để dựng nơi thờ của mình.
Một điều nên nói rõ về ao thần và giếng thần. Đây là tên người sau đặt cho những hố nước có kè gạch thuộc lớp Óc Eo, vốn là thành phần bắt buộc của một khu đền tháp Ấn Độ giáo, dùng cho việc tẩy rửa trước khi vào đền. Chúng thuộc nghi thức của đạo ấy, không thuộc nghi thức của miếu Bà, nên quý vị nên đọc chúng như di tích khảo cổ chứ không như nơi thờ đang hoạt động.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Cần nói thêm rằng lớp dưới cùng của gò thuộc kiến trúc đền tháp Ấn Độ giáo, mà đạo ấy không dạy phong thủy, hướng đền tháp đi theo quy tắc riêng của đạo, thường là mở cửa chính về hướng Đông đón mặt trời mọc. Phần dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị đọc quen lối cổ truyền của người Việt.
Cái đáng nói đầu tiên là gò nổi giữa vùng trũng. Đồng Tháp Mười là vùng đất thấp, ngập nước theo mùa, phẳng gần như tuyệt đối. Giữa vùng ấy có một khoảnh đất nhô lên và khô quanh năm. Trong phép xem đất, một điểm nhô cao giữa vùng bằng phẳng gọi là đột, và đột là chỗ khí kết. Ở miền núi thì đột chẳng có gì đặc biệt, nhưng ở một vùng trũng rộng thì mỗi cái đột là một điểm duy nhất, và cả vùng dồn về đó.
Đó là lý do khiến ba lớp thờ chồng lên nhau ở đây. Không phải vì lớp sau muốn kế thừa lớp trước, mà vì cả ba lớp đều đi tìm cùng một thứ: chỗ cao ráo giữa nước. Đọc theo lối cũ thì đất tự chọn người chứ không phải người chọn đất.
Xét về thủy, thế nước ở đây đảo ngược so với sách. Phép cũ xem nước là thứ tụ khí và tìm nơi có nước trước mặt. Ở Đồng Tháp Mười thì nước không thiếu, nước bao bốn phía và ngập theo mùa, nên thứ hiếm lại là đất. Khi nước quá nhiều thì vai trò đảo lại: nước thành cái vây quanh còn đất thành cái được giữ ở giữa. Theo lối đọc ấy, cả gò là một huyệt được nước ôm trọn, và ranh giới của huyệt chính là mực nước mùa lũ.
Về ao thần và giếng thần, đây là chỗ hai lối nhìn gặp nhau mà vẫn khác nhau. Với đền tháp Ấn Độ giáo, hồ nước là nơi tẩy rửa trước khi vào đền, thuộc nghi thức của đạo. Với con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, một hố nước có kè nằm trước công trình lại được đọc là minh đường có thủy tụ. Hai cách đọc cho ra cùng một kết luận là nên có nước ở đó, nhưng vì hai lý do hoàn toàn khác nhau.
Sau cùng là vị trí của miếu Bà. Miếu không đặt trên gò cao nhất mà đặt trên một gò riêng cách gò Tháp Mười vài trăm mét. Theo cách nghĩ cổ truyền, chỗ cao nhất là chỗ của trời và của cái đã qua, còn nơi thờ của người sống nên đặt ở chỗ vừa tầm, nơi người đi lễ tới được mà không phải leo. Việc miếu Bà từng được dời chỗ cho thấy điều người trong vùng coi trọng không phải giữ đúng một điểm trên mặt đất, mà giữ đúng một vị thần và một kỳ lễ.
VHai Kỳ Lễ Trong Năm
Gò Tháp có hai kỳ lễ lớn, cách nhau tám tháng, và hai kỳ ấy thuộc hai lớp thờ khác nhau. Kỳ tháng Ba là của miếu Bà Chúa Xứ, tức lớp thờ Mẫu. Kỳ tháng Mười Một là giỗ hai vị được thờ ở hai ngôi đền, tức lớp thờ nhân thần. Người trong vùng đi cả hai nhưng không lẫn hai kỳ với nhau.
| Ngày âm lịch | Kỳ lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 14 tới 16 tháng Ba | Vía Bà Chúa Xứ | Kỳ lễ lớn nhất trong năm, chính vía vào rằm. Gồm lễ cúng cơm chay, lễ tắm Bà, lễ cầu an, lễ thỉnh sanh, lễ cúng Thần Nông và lễ chánh tế Bà Chúa Xứ. |
| Rằm tháng Mười Một | Giỗ hai ông | Lễ giỗ Thiên Hộ Võ Duy Dương và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều tại hai ngôi đền trên gò, theo lối cúng và tế của lễ đình Nam Bộ. |
| Trong cả hai kỳ | Bếp ăn của dân | Người trong vùng và người hảo tâm dựng bếp nấu cơm, bún và nước trà đãi khách hành hương, không phân biệt ai. |
| Ngày thường và sóc vọng | Lễ thường | Người đi lễ tới miếu Bà quanh năm, phần lớn cầu mùa màng, buôn bán và sức khỏe, giữ lệ vay lộc rồi năm sau trả lễ. |
Trong kỳ vía tháng Ba, hai nghi lễ đáng chú ý nhất là lễ tắm Bà và lễ thỉnh sanh. Tắm Bà là việc lau rửa và thay xiêm y cho ban thờ Bà, do một nhóm người được chọn thực hiện trong không gian kín, và đây là nghi thức lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu Nam Bộ. Thỉnh sanh là lễ dâng vật sống lên thần theo lối cổ. Bên cạnh đó còn có lễ cúng Thần Nông, cho thấy lớp thờ ở đây gắn chặt với nghề nông của vùng trũng.
Nếp riêng mà người Đồng Tháp Mười giữ lâu nhất là lệ trả lễ. Người xin Bà một việc thì năm sau quay lại tạ, nhiều nhà giữ nếp ấy qua nhiều đời, đi đúng ngày, mang đúng thứ đã hứa. Chính lệ trả lễ, chứ không phải quy mô công trình, là thứ giữ cho kỳ vía rằm tháng Ba không đứt đoạn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Ấp Gò Tháp, xã Tân Kiều cũ, nay là xã Đốc Binh Kiều, tỉnh Đồng Tháp
- Đường tới
- Khu di tích nằm ở ấp Gò Tháp, xã Tân Kiều cũ, nay là xã Đốc Binh Kiều, tỉnh Đồng Tháp, giữa vùng Đồng Tháp Mười. Khu trải rộng khoảng hai trăm chín mươi hecta nên các điểm cách nhau vài trăm mét, đi bộ dưới tán cây được.
- Toạ độ
- 10.601, 105.8271
Đây vừa là nơi thờ tự đang hoạt động vừa là khu khảo cổ, nên có hai lớp lệ cần giữ. Ở miếu Bà, chùa và hai ngôi đền: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào gian thờ, đi nhẹ nói khẽ, không chạm vào đồ thờ, đặt tiền vào hòm công đức. Ở khu hố khai quật và khu ao thần giếng thần: không bước xuống nền gạch, không nhặt mảnh gạch mảnh gốm, đi đúng lối đã mở. Trong ba ngày vía rằm tháng Ba thì lối đi được phân luồng, xin quý vị theo hướng dẫn tại chỗ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu di tích Gò Tháp
Contribute photos, information or video for Go Thap Archaeological and Religious SiteThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Khu di tích Gò Tháp thờ ai
Hạt nhân hương khói là miếu Bà Chúa Xứ, vị nữ thần làm chủ vùng đất theo tín ngưỡng Nam Bộ, cùng miếu Hoàng Cô. Trên gò còn chùa Tháp Linh thờ Phật và hai đền thờ Thiên Hộ Võ Duy Dương và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều. Dưới lòng gò là nền đền tháp Ấn Độ giáo của văn hóa Óc Eo, lớp này đã tắt hương khói từ lâu.
Lễ vía Bà Chúa Xứ Gò Tháp vào ngày nào
Từ ngày mười bốn tới ngày mười sáu tháng Ba âm lịch, chính vía vào rằm. Lễ gồm cúng cơm chay, lễ tắm Bà, lễ cầu an, lễ thỉnh sanh, lễ cúng Thần Nông và lễ chánh tế. Lễ hội được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.
Gò Tháp có liên quan gì tới văn hóa Óc Eo
Dưới lòng gò là dấu tích kiến trúc đền tháp Ấn Độ giáo niên đại khoảng thế kỷ I tới VI, thuộc phạm vi vương quốc Phù Nam, với hơn mười phế tích nền, hệ ao thần giếng thần, hiện vật vàng và tượng đá. Hai pho tượng Vishnu tìm được ở đây đã được công nhận bảo vật quốc gia.
Vì sao ba lớp thờ lại nằm chồng lên nhau ở đây
Vì Đồng Tháp Mười là vùng trũng ngập nước theo mùa, còn gò này là khoảnh đất cao ráo khô quanh năm. Mỗi lớp cư dân tới sau đều chọn chỗ ấy để dựng nơi thờ của mình, nhưng không lớp nào tiếp nối nghi thức của lớp trước, ba lớp thuộc ba hệ tín ngưỡng khác nhau.
Giỗ Thiên Hộ Võ Duy Dương và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều vào ngày nào
Vào rằm tháng Mười Một âm lịch, tại hai ngôi đền dựng năm 1958 trên gò, theo lối cúng và tế của lễ đình Nam Bộ. Đây là kỳ lễ thuộc lớp thờ nhân thần, tách khỏi kỳ vía Bà rằm tháng Ba.