Khu mộ không nằm ngoài đồng, không nằm trên gò, mà nằm ngay trong lòng phố Gò Công, sau một bức tường thấp và một hàng cây. Quý vị bước vào thì thấy một nấm mộ xây bằng thứ hợp chất mà người Nam Bộ xưa gọi là ô dước, dáng nằm phục xuống, bốn góc có bốn trụ chạm hoa sen, tường bao quanh chỉ cao chừng bảy tấc. Phía trước mộ là một tấm bia đá cẩm thạch.
Tấm bia ấy là thứ đáng đứng lại lâu nhất ở đây. Nó đã bị đục mất chữ, rồi được thay, rồi lại được dựng tiếp. Người nằm dưới là Trương Định, mất năm 1864 khi đang chống giữ đất Gò Công, và dân trong xứ lập mộ cho ông ngay năm ấy. Ngôi đền cạnh mộ thì mới, dựng vào đầu thập niên 1970, nhưng nếp giỗ thì đã đi liền một mạch từ thế kỷ XIX tới giờ.
INgười Được Thờ Và Lối Thờ Do Dân Lập
Người được thờ ở đây là Trương Định, mất năm 1864 trên đất Gia Thuận thuộc vùng Gò Công. Đó là câu duy nhất về nguyên do, và thư viện dừng ở đó, vì trang này viết về cái thờ chứ không viết về cái đã xảy ra. Điều đáng viết là những gì diễn ra sau năm 1864, tức là cách một vùng đất nhận lấy một người và giữ người ấy trong một trăm sáu mươi năm.
Dân Gò Công gọi ông bằng danh hiệu Bình Tây Đại nguyên soái, một danh hiệu do chính người trong vùng tôn lên chứ không phải chức tước triều đình ban. Chi tiết ấy quan trọng hơn vẻ ngoài của nó: nó cho biết lớp thờ ở đây có gốc từ dưới lên, không phải từ trên xuống.
Trong tín ngưỡng dân gian người Việt, khi một người được cả một vùng tôn thờ mà không qua đường sắc phong thì lớp thờ ấy được gọi là thờ nhân thần do dân lập. Nó khác hẳn lối thờ thành hoàng làng, vốn cần triều đình xét công rồi ban sắc, và cũng khác lối thờ tổ tiên vốn giới hạn trong một dòng họ.
Nét nhận ra một lớp thờ do dân lập là ở chỗ nghi thức đi theo lệ làng chứ không theo điển lệ: cúng như cúng đình, tế như tế thần của xứ, ngày giỗ lấy theo ngày mất chứ không lấy theo ngày sinh hay ngày hóa do sách định. Người Gò Công về sau còn nói tới ông như một vị phúc thần của xứ, tức một vị giữ cho vùng đất được yên, cầu cho mưa thuận gió hòa và làm ăn xuôi thuận, đúng cách người Nam Bộ đối đãi với các vị thần của mình.
Ngoài khu mộ và đền ở giữa Gò Công, trong vùng còn một ngôi đền thờ khác ở Gia Thuận. Việc một người có hai nơi thờ trong cùng một vùng không phải chuyện lạ ở Nam Bộ: một nơi gắn với chỗ nằm, một nơi gắn với chỗ mất, và cả hai đều do dân lập rồi cùng tồn tại. Người trong xứ không coi nơi nào là chính nơi nào là phụ, mà đi cả hai theo dịp.
Trong đền thờ giữa Gò Công, ngoài ban thờ chính còn có ban thờ các vị quan văn quan võ dưới trướng ông. Đây cũng là một dấu của lối thờ do dân lập: người ta thờ cả một nhóm người đã cùng sống cùng mất trên mảnh đất ấy, chứ không tách riêng một người ra để tôn lên rồi bỏ quên những người còn lại.
IIMột Nấm Mộ Và Ba Lần Dựng Bia
Lịch sử của nơi này gần như là lịch sử của một tấm bia. Mộ thì nằm nguyên chỗ từ năm 1864, nhưng chữ trên bia thì đổi ba lần, và mỗi lần đổi là một lần vùng đất này phải tìm cách giữ lấy điều mình muốn nói.
- 1864Lập mộBà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của ông, đứng ra lo việc mộ phần ngay sau khi ông mất, dựng mộ bằng hợp chất ô dước theo lối mộ cổ Nam Bộ và dựng tấm bia đầu tiên.
- Sau khi dựng biaBia bị đục chữTấm bia đầu khắc dòng chữ có bốn chữ Bình Tây Đại tướng quân. Phần chữ ấy sau đó bị đục bỏ, và tấm bia mang vết đục trở thành một phần của câu chuyện nơi này.
- Bia thay sau đóDựng bia mớiMột tấm bia khác được dựng với nội dung ghi theo danh hiệu triều đình truy tặng. Các nguồn chép chữ trên tấm bia này không hoàn toàn giống nhau, thư viện nêu rõ ở phần dưới.
- Khoảng 1930 tới 1931Trùng tu khu mộGia đình bà Huỳnh Thị Điệu, cháu ngoại bà Trần Thị Sanh, đứng ra trùng tu khu mộ. Bố cục mộ, tường bao và bốn trụ chạm sen mà quý vị thấy hôm nay phần lớn định hình từ lần trùng tu này.
- Đầu thập niên 1970Dựng đền thờNgười trong vùng dựng ngôi đền cạnh khu mộ, mặt bằng khoảng 16,5 mét nhân 13,2 mét, cao chừng 10 mét. Các nguồn ghi năm dựng là 1972 hoặc 1973.
- 2016Lễ hội thành di sản phi vật thể quốc giaLễ hội Trương Định được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi nhận nếp giỗ đã được dân trong vùng giữ liên tục.
- 2024Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 694 ngày 18 tháng 7 năm 2024, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho cụm Các địa điểm Khởi nghĩa Trương Định, trong đó mộ và đền thờ ở Gò Công là một trong năm điểm.
Về chữ khắc trên bia thì các nguồn ghi vênh nhau, thư viện nêu thẳng ra đây chứ không chọn bừa một cách. Có nguồn chép bia mới ghi Đại Nam, Phấn Dũng Đại tướng quân, truy tặng Ngũ quân Quận công, Trương Công Định chi mộ. Có nguồn chép là Đại Nam, Thần Dõng Đại tướng quân, truy tặng Ngũ quân, Ngũ Quận công, Trương Định chi mộ. Chỗ khác nhau nằm ở hai chữ đầu của danh hiệu và ở cách ghi tước, nhiều khả năng do đọc bia mòn và do chép lại qua nhiều lần. Điều các nguồn thống nhất là bia có ghi ngày mất theo lịch ta là ngày mười tám tháng Bảy.
Về năm dựng đền thì cũng có hai cách ghi, một bên ghi 1972 và một bên ghi 1973. Cả hai đều rơi vào đầu thập niên 1970, nên có thể hiểu là chênh nhau giữa năm khởi công và năm hoàn thành, nhưng chưa có một con số chính thức thống nhất.
IIIKhu Mộ, Tấm Bia Và Ngôi Đền
Khu di tích ở giữa lòng Gò Công gồm hai phần đứng cạnh nhau, và hai phần ấy thuộc hai thời cách nhau hơn một trăm năm. Đọc được sự chênh lệch ấy thì hiểu được vì sao nơi này lại có dáng như bây giờ.
Xây bằng hợp chất ô dước, thứ vật liệu kết dính mà người Nam Bộ dùng cho mộ cổ, dáng nằm phục xuống. Đây là phần có tuổi thật, gốc từ năm 1864 và mang bố cục của lần trùng tu đầu thập niên 1930.
Tường thấp chừng bảy tấc quây quanh mộ, bốn góc đặt bốn trụ lớn chạm hoa sen. Lối bày này là lối mộ hợp chất Nam Bộ, cùng hệ với nhiều khu mộ cổ khác trong vùng.
Tấm bia trước mộ, vật mang nhiều lớp chuyện nhất của khu di tích, gắn với việc chữ bị đục bỏ rồi bia được thay. Trên bia có ghi ngày mất theo lịch ta.
Dựng đầu thập niên 1970 bên cạnh khu mộ, mặt bằng khoảng 16,5 mét nhân 13,2 mét, cao chừng 10 mét, lối dựng theo kiểu đền miếu phương Đông. Trong đền có án thờ, khuôn biển sơn son thếp vàng và ban thờ các vị dưới trướng ông.
Xin nói thẳng một chỗ hay hiểu lệch. Ngôi đền ở đây không phải đền cổ, nó được dựng vào đầu thập niên 1970, tức mới hơn nhiều so với nấm mộ bên cạnh. Người tới đây thường ngỡ đền có từ thế kỷ XIX vì lệ giỗ ở đây đã cũ tới vậy. Cần tách hai thứ ra: nếp thờ thì cũ, còn công trình thì mới. Cái được giữ liên tục từ năm 1864 không phải mái đền mà là nấm mộ và cái giỗ, và trong suốt hơn một trăm năm trước khi có đền, người Gò Công vẫn về cúng ở ngay trước mộ.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Với mộ phần thì phép xem đất cổ truyền có tên riêng là âm trạch, phân biệt với dương trạch là đất ở của người sống. Nhưng ở đây, điều đầu tiên phải nói là ngôi mộ này không được đặt theo phép chọn huyệt. Nó được đặt trong tình thế gấp gáp của năm 1864, ở chỗ gần nhất có thể chôn cất được, trên phần đất thuộc gia đình người đứng ra lo mộ phần. Đọc thế đất ở đây là đọc thế đất của một khu vườn nhà trong xóm, chứ không đọc một huyệt được thầy địa lý tìm ra.
Xét về địa hình, Gò Công nằm ở vùng cửa sông giáp biển phía đông châu thổ, đất thấp và phẳng, sông rạch dày. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi, dòng chảy dẫn khí còn ao rạch tụ khí. Chính cái tên Gò trong địa danh đã nói lên đặc điểm của vùng: cả xứ phẳng, chỗ nào nhô lên một chút thì được gọi là gò, và dân cư tụ lại quanh những chỗ nhô ấy. Theo lối cũ, một điểm cao giữa vùng bằng phẳng gọi là đột, và đột là chỗ khí kết.
Chỗ đáng đọc nhất ở đây lại là một điều mà phép cũ thường tránh: mộ nằm giữa chỗ đông người ở. Sách xưa dạy rằng đất táng nên chọn nơi tĩnh, xa chỗ ồn ào, để khí không bị khuấy. Ngôi mộ này thì ngược lại, nó nằm trong lòng phố, có nhà cửa vây quanh, có tiếng xe ngoài tường. Nhưng với một nơi thờ mà lớp thờ do dân lập thì cái tĩnh không phải thứ quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn là người phải với tới được. Một nấm mộ nằm giữa xóm là nấm mộ mà ai đi ngang cũng ghé được, và chính vì thế mà nếp giỗ ở đây mới không đứt đoạn suốt một trăm sáu mươi năm.
Về hình mộ, khối mộ xây thấp và trải rộng, dáng nằm phục xuống mà người địa phương ví như con voi phục. Trong cách đọc cổ truyền, hình voi phục là hình của sự trấn giữ, con vật lớn hạ mình xuống mà vẫn giữ thế. Bốn trụ chạm hoa sen ở bốn góc thì là cách bày rất Nam Bộ, mượn hình hoa sen của nhà Phật đặt vào một khu mộ theo lối dân gian, một lối pha trộn quen thuộc của vùng đất này.
Sau cùng là quan hệ giữa mộ và đền. Đền dựng bên cạnh chứ không dựng trùm lên mộ, và điều đó đáng chú ý. Theo lối cũ, phần âm và phần thờ nên tách ra: mộ là chỗ người nằm, đền là chỗ người sống tới. Đặt hai thứ cạnh nhau mà không lấn nhau là cách giữ được cả hai chức năng, và đó cũng là lý do người đến đây thường thắp hương ở mộ rồi mới sang đền, giữ đúng thứ tự cũ.
VLệ Giỗ Ba Ngày Tháng Tám
Nếp lễ ở đây là nếp giỗ của một xứ, không phải hội chùa hội đền. Giỗ kéo ba ngày, rơi vào giữa tháng Tám dương lịch, và đây là điểm khiến lễ ở Gò Công khác hẳn phần lớn đền miếu vốn tính theo âm lịch.
| Ngày | Chặng lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| 18 tháng 8 dương lịch | Mở giỗ | Lễ cáo, dọn ban, bày lễ vật. Các đoàn trong xứ và người trong họ về trước một ngày để lo phần cúng. |
| 19 tháng 8 dương lịch | Chính lễ và hát bội | Cúng và tế theo lối lễ đình Nam Bộ, kèm hát bội diễn trước ban thờ, một nếp mà dân Gò Công giữ lâu đời. |
| 20 tháng 8 dương lịch | Ngày giỗ chính | Dâng hương tại mộ và tại đền, đông người nhất trong ba ngày. Các năm chẵn thì quy mô lớn hơn. |
| Ngày rằm và mùng một | Lễ thường | Người trong phố Gò Công giữ lệ ghé thắp hương ở mộ, phần lớn cầu bình an và cầu làm ăn xuôi thuận. |
Nét riêng nhất của kỳ giỗ này là hát bội. Ở Nam Bộ, hát bội trong lễ không phải tiết mục giải trí mà là một phần của việc cúng: tuồng được diễn quay mặt về ban thờ, tức diễn cho vị được thờ xem trước, người sống chỉ ngồi xem ké. Giữ được hát bội trong một kỳ giỗ tức là giữ được cả một lớp nghi thức cũ, và đó là lý do lễ giỗ ở đây được xếp vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.
Phần cúng thì theo lệ cúng đình của người Nam Bộ: có ban tế, có người xướng, có văn tế đọc trước ban thờ, lễ vật là heo, xôi, trái cây và hương đèn. Người trong xứ mang đồ tới góp chứ không chỉ mua sẵn, và nhiều nhà giữ nếp nấu một món riêng mang tới mỗi năm.
Có một chỗ hay gây thắc mắc về ngày giỗ, xin nói bằng giọng sử liệu và không phê phán ai. Ông mất ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý, và chính tấm bia trước mộ cũng khắc ngày ấy theo lịch ta. Nhưng lệ giỗ ở Gò Công lại tính theo dương lịch, lấy ngày 20 tháng 8 làm ngày chính.
Nhà nghiên cứu Lê Công Lý đã chỉ ra rằng ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý quy ra dương lịch là ngày 19 tháng 8 năm 1864, chứ không phải ngày 20. Như vậy có hai chỗ lệch chồng lên nhau: lệch giữa việc giỗ theo dương lịch hay theo âm lịch, và lệch một ngày trong chính phép quy đổi. Thư viện ghi lại cả hai cách và không chọn bừa, vì đây là chỗ các nguồn chưa thống nhất. Thực tế thì lễ giỗ hiện nay trải ba ngày từ 18 tới 20 tháng 8 dương lịch, tức bao trùm cả hai mốc đang tranh luận.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Phan Đình Phùng, phường 1 thị xã Gò Công cũ, nay là phường Gò Công, tỉnh Đồng Tháp
- Đường tới
- Khu mộ và đền thờ nằm trên đường Phan Đình Phùng, phường 1 thị xã Gò Công cũ, nay là phường Gò Công, tỉnh Đồng Tháp, ngay trong khu dân cư. Trong vùng còn một đền thờ khác ở Gia Thuận, cùng thuộc cụm di tích được xếp hạng.
- Toạ độ
- 10.3596, 106.6738
Đây là khu mộ và nơi thờ tự đang hoạt động ngay trong khu dân cư, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào đền, đi nhẹ nói khẽ trong khu mộ, không ngồi và không đặt đồ lên nấm mộ, không chạm tay lên mặt bia đá, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Theo nếp của người Gò Công, nên thắp hương ở mộ trước rồi mới sang đền. Ba ngày giữa tháng Tám dương lịch là lúc đông người nhất, và nếu gặp buổi hát bội thì xin quý vị ngồi phía sau, không đi cắt ngang giữa sân diễn với ban thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ và mộ Trương Định
Contribute photos, information or video for Temple and Tomb of Truong DinhThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền thờ và mộ Trương Định ở đâu
Ở đường Phan Đình Phùng, phường 1 thị xã Gò Công cũ, nay là phường Gò Công, tỉnh Đồng Tháp, ngay giữa khu dân cư. Đây là một trong năm điểm thuộc cụm Các địa điểm Khởi nghĩa Trương Định được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2024.
Lễ giỗ Trương Định tổ chức ngày nào
Kéo ba ngày, từ ngày 18 tới ngày 20 tháng 8 dương lịch, ngày 20 là ngày giỗ chính. Lễ gồm phần cúng và tế theo lối lễ đình Nam Bộ cùng hát bội diễn trước ban thờ. Lễ hội được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.
Vì sao giỗ theo dương lịch mà không theo âm lịch
Bia trước mộ khắc ngày mất theo lịch ta là ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý, nhưng lệ giỗ ở Gò Công lại lấy ngày 20 tháng 8 dương lịch. Nhà nghiên cứu Lê Công Lý cho rằng ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý ứng với ngày 19 tháng 8 năm 1864. Đây là chỗ các nguồn chưa thống nhất.
Ai là người lập mộ Trương Định
Bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của ông, đứng ra lo việc mộ phần ngay năm 1864. Khoảng những năm 1930 tới 1931, gia đình bà Huỳnh Thị Điệu, cháu ngoại bà Trần Thị Sanh, trùng tu khu mộ, và bố cục thấy hôm nay phần lớn định hình từ lần ấy.
Đền thờ ở đây có phải đền cổ không
Không. Đền được dựng vào đầu thập niên 1970, các nguồn ghi là năm 1972 hoặc 1973. Phần có tuổi thật ở đây là nấm mộ lập năm 1864 và tấm bia trước mộ. Nếp giỗ thì cũ, còn công trình đền thì mới.