VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ và mộ Trương Định

Lăng Trương Định, đền thờ Trương Định Gò Công

Một nấm mộ nằm giữa phố Gò Công đã hơn một trăm sáu mươi năm, và một nếp giỗ mà dân trong xứ chưa lần nào bỏ.

Lập mộ
1864
do bà Trần Thị Sanh đứng ra lo liệu
Trùng tu mộ
Khoảng 1930 tới 1931
do gia đình bà Huỳnh Thị Điệu thực hiện
Xếp hạng
Quốc gia đặc biệt
Quyết định số 694/QĐ-TTg ngày 18 tháng 7 năm 2024

Khu mộ không nằm ngoài đồng, không nằm trên gò, mà nằm ngay trong lòng phố Gò Công, sau một bức tường thấp và một hàng cây. Quý vị bước vào thì thấy một nấm mộ xây bằng đá ong và thứ hợp chất mà người Nam Bộ xưa gọi là ô dước, trên diện tích khoảng 67 mét vuông, dáng nằm phục xuống, bốn góc có bốn trụ chạm hoa sen, tường bao quanh chỉ cao chừng bảy tấc. Phía trước mộ là một tấm bia đá cẩm thạch.

Tấm bia ấy là thứ đáng đứng lại lâu nhất ở đây. Nó đã bị đục mất chữ, rồi được thay, rồi lại được dựng tiếp. Người nằm dưới là Trương Định (Trương Công Định, sinh năm 1820 tại Quảng Ngãi), mất năm 1864 khi đang chống giữ đất Gò Công, và gia quyến cùng dân trong xứ lập mộ cho ông ngay năm ấy. Ngôi đền cạnh mộ thì mới, dựng vào đầu thập niên 1970, nhưng nếp giỗ thì đã đi liền một mạch từ thế kỷ XIX tới giờ.

Đền thờ và mộ Trương Định
Đền thờ và mộ Trương Định. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

INgười Được Thờ Và Lối Thờ Do Dân Lập

Người được thờ ở đây là Trương Định (Trương Công Định, 1820 - 1864), mất năm 1864 tại Ao Dinh trên vùng đất Gia Thuận thuộc Gò Công. Đó là câu duy nhất về nguyên do, và thư viện dừng ở đó, vì trang này viết về cái thờ chứ không viết về cái đã xảy ra. Điều đáng viết là những gì diễn ra sau năm 1864, tức là cách một vùng đất nhận lấy một người và giữ người ấy trong hơn một trăm sáu mươi năm.

Dân Gò Công gọi ông bằng danh hiệu Bình Tây Đại nguyên soái (hay Bình Tây Đại tướng quân), một danh hiệu do chính người trong vùng tôn lên chứ không phải chức tước triều đình ban. Chi tiết ấy quan trọng hơn vẻ ngoài của nó vì nó cho biết lớp thờ ở đây có gốc từ dưới lên, không phải từ trên xuống.

Theo giáo nghĩa

Trong tín ngưỡng dân gian người Việt, khi một người được cả một vùng tôn thờ mà không qua đường sắc phong thì lớp thờ ấy được gọi là thờ nhân thần do dân lập. Nó khác hẳn lối thờ thành hoàng làng, vốn cần triều đình xét công rồi ban sắc, và cũng khác lối thờ tổ tiên vốn giới hạn trong một dòng họ.

Nét nhận ra một lớp thờ do dân lập là ở chỗ nghi thức đi theo lệ làng chứ không theo điển lệ, cúng như cúng đình, tế như tế thần của xứ, ngày giỗ lấy theo ngày mất chứ không lấy theo ngày sinh hay ngày hóa do sách định. Người Gò Công về sau còn nói tới ông như một vị phúc thần của xứ, tức một vị giữ cho vùng đất được yên, cầu cho mưa thuận gió hòa và làm ăn xuôi thuận, đúng cách người Nam Bộ đối đãi với các vị thần của mình.

Ngoài khu mộ và đền ở giữa Gò Công, trong vùng còn một ngôi đền thờ khác ở xã Gia Thuận (cùng các điểm Đám Lá Tối Trời, Ao Dinh và Lũy Pháo Đài). Việc một người có hai nơi thờ trong cùng một vùng không phải chuyện lạ ở Nam Bộ, khi một nơi gắn với chỗ nằm, một nơi gắn với chỗ mất, và cả hai đều do dân lập rồi cùng tồn tại. Người trong xứ không coi nơi nào là chính nơi nào là phụ, mà đi cả hai theo dịp.

Trong đền thờ giữa Gò Công, ngoài ban thờ chính đặt pho tượng đồng Trương Định đúc năm 1972 còn có ban thờ các vị quan văn quan võ dưới trướng ông. Đây cũng là một dấu của lối thờ do dân lập, bởi người ta thờ cả một nhóm người đã cùng sống cùng mất trên mảnh đất ấy, chứ không tách riêng một người ra để tôn lên rồi bỏ quên những người còn lại.

IIMột Nấm Mộ Và Ba Lần Dựng Bia

Lịch sử của nơi này gần như là lịch sử của một tấm bia. Mộ thì nằm nguyên chỗ từ năm 1864, nhưng chữ trên bia thì đổi qua nhiều lần, và mỗi lần đổi là một lần vùng đất này phải tìm cách giữ lấy điều mình muốn nói.

  • 1864Lập mộ và dựng bia đầu tiên
    Bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của ông, đứng ra nhận thi hài ông về an táng trên phần đất họ Trần ở Gò Công, dựng mộ bằng đá ong và hợp chất ô dước theo lối mộ cổ Nam Bộ và dựng tấm bia đầu tiên.
  • Sau khi dựng biaBia bị đục chữ và phạt tiền
    Tấm bia đầu khắc dòng chữ Đại Nam An Hà Lãnh binh kiêm Bình Tây Đại tướng quân Trương Công húy Định chi mộ. Nhà chức trách Pháp tại Gò Công ra lệnh đục bỏ hàng chữ Bình Tây Đại tướng quân và phạt bà Trần Thị Sanh 10.000 quan tiền.
  • 02/03/1874Xin phép xây lại mộ bằng đá hoa cương
    Bà Trần Thị Sanh đứng đơn (nay còn lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II) xin phép xây lại mộ chồng bằng đá hoa cương trên diện tích 67 mét vuông cùng ba bức hoành phi và sáu trụ đá, nhưng đến năm 1875 các hoành phi và trụ đá lại bị đục bỏ.
  • Khoảng 1930 tới 1931Trùng tu lớn khu mộ và dựng bia mới
    Theo Cục Di sản văn hóa, gia đình Đốc phủ sứ Nguyễn Văn Hải và bà Huỳnh Thị Điệu (cháu ngoại bà Trần Thị Sanh) đứng ra trùng tu lớn khu mộ, xây vòng thành đá và thay tấm bia đá cẩm thạch mới ghi theo tước Quận công được triều đình truy tặng (có nguồn khác ghi đợt dựng lại bia cẩm thạch vào năm 1945 hoặc 1949, và tu bổ năm 1964).
  • 1972 - 1973Dựng đền thờ cạnh khu mộ
    Khởi công năm 1972 và hoàn thành năm 1973 theo bản vẽ của kỹ sư Nguyễn Ngọc Thiệt (do ông Cung Tất Mai làm Trưởng ban xây dựng), mặt bằng khoảng 16,5 mét nhân 13,2 mét, cao chừng 10 mét, bên trong đặt pho tượng đồng Trương Định.
  • 1989 và 2016Di tích quốc gia và Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Khu lăng mộ và đền thờ được công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 6 tháng 12 năm 1989 (có nguồn ghi ngày 30 tháng 8 năm 1987). Năm 2016, Lễ hội Trương Định được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • 18/07/2024Di tích quốc gia đặc biệt
    Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 694/QĐ-TTg xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt cho cụm Di tích lịch sử Các địa điểm Khởi nghĩa Trương Định gồm 5 điểm là Mộ và Đền thờ Trương Định ở phường Gò Công, Đền thờ Trương Định ở xã Gia Thuận, Đám Lá Tối Trời, Ao Dinh và Lũy Pháo Đài.
Theo sử liệu

Về chữ khắc trên tấm bia trước mộ hiện nay thì các nguồn ghi vênh nhau, thư viện nêu thẳng ra đây chứ không chọn bừa một cách. Hồ sơ của Cục Di sản văn hóa chép bia ghi Đại Nam, Phấn Dũng Đại tướng quân, truy tặng Ngũ quân Quận công, Trương Công Định chi mộ. Bài khảo cứu của nhà nghiên cứu Lê Công Lý và Wikipedia lại chép là Đại Nam, Thần Dõng Đại tướng quân, truy tặng Ngũ quân, Ngũ Quận công, Trương Công Định chi mộ (bên phải ghi dòng chữ nhỏ Tốt ư Giáp Tý, Thất nguyệt thập bát nhật, bên trái đề Trần Thị Sanh lập thạch). Chỗ khác nhau nằm ở hai chữ Phấn Dũng hay Thần Dõng và ở cách ghi tước. Về năm trùng tu dựng tấm bia cẩm thạch này, Cục Di sản văn hóa ghi khoảng năm 1930 tới 1931, trong khi nhà nghiên cứu Lê Công Lý ghi năm 1949 do con cháu bà Dương Thị Hương (con gái bà Trần Thị Sanh, thân mẫu bà Huỳnh Thị Điệu) thực hiện.

Về năm dựng đền thì các nguồn ghi khởi công năm 1972 và khánh thành năm 1973 (theo bản vẽ của kỹ sư Nguyễn Ngọc Thiệt). Về năm xếp hạng di tích cấp quốc gia cho khu lăng mộ tại Gò Công, Wikipedia và Thông tấn xã Việt Nam ghi ngày 6 tháng 12 năm 1989, trong khi một số trang du lịch dẫn Quyết định số 188-VH/QĐ ngày 30 tháng 8 năm 1987.

IIIKhu Mộ, Tấm Bia Và Ngôi Đền

Khu di tích ở giữa lòng Gò Công gồm hai phần đứng cạnh nhau, và hai phần ấy thuộc hai thời cách nhau hơn một trăm năm. Đọc được sự chênh lệch ấy thì hiểu được vì sao nơi này lại có dáng như bây giờ.

Nấm mộ

Xây bằng đá ong và hợp chất ô dước trên diện tích khoảng 67 mét vuông, dáng nằm phục xuống như hình voi phục. Đây là phần có tuổi thật, gốc từ năm 1864, trải qua lần xây đá hoa cương năm 1874 và lần trùng tu thập niên 1930 - 1940.

Tường bao và trụ đá

Tường đá thấp chừng bảy tấc quây quanh mộ, bốn góc đặt bốn trụ lớn chạm búp sen, phía trước có cổng tam quan với hai trụ chạm rồng phượng và đôi câu đối Sơn hà thu chính khí / Nhật nguyệt chiếu đan tâm, cuối mộ có bia khắc hai chữ Trung Nghĩa.

Bia đá cẩm thạch

Tấm bia đá cẩm thạch trắng trước mộ, vật mang nhiều lớp chuyện nhất của khu di tích, gắn với việc chữ bị đục bỏ năm 1864 và 1875 rồi bia được thay mới. Trên bia ghi ngày mất 18 tháng Bảy năm Giáp Tý và tên bà Trần Thị Sanh lập thạch.

Đền thờ

Dựng năm 1972 - 1973 bên cạnh khu mộ theo bản vẽ của kỹ sư Nguyễn Ngọc Thiệt, mặt bằng khoảng 16,5 mét nhân 13,2 mét, cao chừng 10 mét, hai tầng mái lợp ngói âm dương. Trong đền có pho tượng đồng Trương Định, các án thờ, khuôn biển sơn son thếp vàng và ban thờ các vị tướng sĩ dưới trướng ông.

Chỗ hay hiểu lầm

Xin nói thẳng một chỗ hay hiểu lệch. Ngôi đền ở đây không phải đền cổ, nó được dựng vào năm 1972 - 1973, tức mới hơn một thế kỷ so với nấm mộ bên cạnh. Người tới đây thường ngỡ đền có từ thế kỷ XIX vì lệ giỗ ở đây đã cũ tới vậy. Cần tách hai thứ ra là nếp thờ thì cũ, còn công trình đền thì mới. Cái được giữ liên tục từ năm 1864 không phải mái đền mà là nấm mộ và cái giỗ, và trong suốt hơn một trăm năm trước khi có đền, người Gò Công vẫn về cúng ở ngay trước mộ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Với mộ phần thì phép xem đất cổ truyền có tên riêng là âm trạch, phân biệt với dương trạch là đất ở của người sống. Nhưng ở đây, điều đầu tiên phải nói là ngôi mộ này không được đặt theo phép chọn huyệt. Nó được đặt trong tình thế gấp gáp của năm 1864, ở chỗ gần nhất có thể chôn cất được, trên phần đất thuộc gia đình họ Trần của người đứng ra lo mộ phần. Đọc thế đất ở đây là đọc thế đất của một khu vườn nhà trong xóm, chứ không đọc một huyệt được thầy địa lý tìm ra.

Xét về địa hình, Gò Công nằm ở vùng cửa sông giáp biển phía đông châu thổ, đất thấp và phẳng, sông rạch dày. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi, dòng chảy dẫn khí còn ao rạch tụ khí. Chính cái tên Gò trong địa danh đã nói lên đặc điểm của vùng, khi cả xứ phẳng, chỗ nào nhô lên một chút thì được gọi là gò, và dân cư tụ lại quanh những chỗ nhô ấy. Theo lối cũ, một điểm cao giữa vùng bằng phẳng gọi là đột, và đột là chỗ khí kết.

Chỗ đáng đọc nhất ở đây lại là một điều mà phép cũ thường tránh, đó là mộ nằm giữa chỗ đông người ở. Sách xưa dạy rằng đất táng nên chọn nơi tĩnh, xa chỗ ồn ào, để khí không bị khuấy. Ngôi mộ này thì ngược lại, nó nằm trong lòng phố, có nhà cửa vây quanh, có tiếng xe ngoài tường. Nhưng với một nơi thờ mà lớp thờ do dân lập thì cái tĩnh không phải thứ quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn là người phải với tới được. Một nấm mộ nằm giữa xóm là nấm mộ mà ai đi ngang cũng ghé được, và chính vì thế mà nếp giỗ ở đây mới không đứt đoạn suốt hơn một trăm sáu mươi năm.

Về hình mộ, khối mộ xây thấp và trải rộng trên diện tích 67 mét vuông, dáng nằm phục xuống mà người địa phương ví như con voi phục. Trong cách đọc cổ truyền, hình voi phục là hình của sự trấn giữ, con vật lớn hạ mình xuống mà vẫn giữ thế. Bốn trụ chạm hoa sen ở bốn góc thì là cách bày rất Nam Bộ, mượn hình hoa sen của nhà Phật đặt vào một khu mộ theo lối dân gian, một lối pha trộn quen thuộc của vùng đất này.

Sau cùng là quan hệ giữa mộ và đền. Đền dựng bên cạnh chứ không dựng trùm lên mộ, và điều đó đáng chú ý. Theo lối cũ, phần âm và phần thờ nên tách ra, vì mộ là chỗ người nằm còn đền là chỗ người sống tới. Đặt hai thứ cạnh nhau mà không lấn nhau là cách giữ được cả hai chức năng, và đó cũng là lý do người đến đây thường thắp hương ở mộ rồi mới sang đền, giữ đúng thứ tự cũ.

VLệ Giỗ Ba Ngày Tháng Tám

Nếp lễ ở đây là nếp giỗ của một xứ, không phải hội chùa hội đền. Giỗ kéo ba ngày, rơi vào giữa tháng Tám dương lịch, và đây là điểm khiến lễ ở Gò Công khác hẳn phần lớn đền miếu vốn tính theo âm lịch.

Các chặng chính của kỳ giỗ hằng năm. Nguồn: Theo hồ sơ di tích và các bản tin về lễ giỗ tại Gò Công..
NgàyChặng lễNội dung
18 tháng 8 dương lịchMở giỗLễ cáo, dọn ban, bày lễ vật. Các đoàn trong xứ và người trong họ về trước một ngày để lo phần cúng.
19 tháng 8 dương lịchChính lễ và hát bộiCúng và tế theo lối lễ đình Nam Bộ, kèm hát bội diễn trước ban thờ, một nếp mà dân Gò Công giữ lâu đời.
20 tháng 8 dương lịchNgày giỗ chínhDâng hương tại mộ và tại đền, đông người nhất trong ba ngày. Các năm chẵn thì quy mô lớn hơn.
Ngày rằm và mùng mộtLễ thườngNgười trong phố Gò Công giữ lệ ghé thắp hương ở mộ, phần lớn cầu bình an và cầu làm ăn xuôi thuận.

Nét riêng nhất của kỳ giỗ này là hát bội. Ở Nam Bộ, hát bội trong lễ không phải tiết mục giải trí mà là một phần của việc cúng, khi tuồng được diễn quay mặt về ban thờ, tức diễn cho vị được thờ xem trước còn người sống chỉ ngồi xem cùng. Giữ được hát bội trong một kỳ giỗ tức là giữ được cả một lớp nghi thức cũ, và đó là lý do lễ giỗ ở đây được xếp vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Phần cúng thì theo lệ cúng đình của người Nam Bộ, có ban tế, có người xướng, có văn tế đọc trước ban thờ, lễ vật là heo, xôi, trái cây và hương đèn. Người trong xứ mang đồ tới góp chứ không chỉ mua sẵn, và nhiều nhà giữ nếp nấu một món riêng mang tới mỗi năm.

Chỗ hay hiểu lầm

Có một chỗ hay gây thắc mắc về ngày giỗ, xin nói bằng giọng sử liệu và không phê phán ai. Ông mất ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý, và chính tấm bia trước mộ cũng khắc ngày ấy theo lịch ta. Nhưng lệ giỗ ở Gò Công lại tính theo dương lịch, lấy ngày 20 tháng 8 làm ngày chính.

Nhà nghiên cứu Lê Công Lý đã chỉ ra rằng ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý quy ra dương lịch là ngày 19 tháng 8 năm 1864, chứ không phải ngày 20 (trong khi sử sách Pháp chép ngày 20 tháng 8 năm 1864). Như vậy có hai chỗ lệch chồng lên nhau gồm lệch giữa việc giỗ theo dương lịch hay theo âm lịch, và lệch một ngày trong phép quy đổi lịch. Thư viện ghi lại cả hai cách và không chọn bừa, vì đây là chỗ các nguồn chưa thống nhất. Thực tế thì lễ giỗ hiện nay trải ba ngày từ 18 tới 20 tháng 8 dương lịch, tức bao trùm cả hai mốc đang tranh luận.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Góc đường Phan Đình Phùng - Lý Thường Kiệt, phường Gò Công (phường 1, TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang cũ)
Đường tới
Khu mộ và đền thờ nằm tại góc đường Phan Đình Phùng và Lý Thường Kiệt, phường 1 thị xã Gò Công cũ, nay là phường Gò Công, tỉnh Đồng Tháp, ngay trong khu dân cư. Trong vùng còn đền thờ Trương Định và Đám Lá Tối Trời ở xã Gia Thuận, Ao Dinh ở xã Tân Đông và Lũy Pháo Đài ở xã Phú Tân, cùng thuộc cụm di tích quốc gia đặc biệt.
Toạ độ
10.36, 106.6681
Khi tới nơi

Đây là khu mộ và nơi thờ tự đang hoạt động ngay trong khu dân cư, nên lệ nhà cần được giữ gồm ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào đền, đi nhẹ nói khẽ trong khu mộ, không ngồi và không đặt đồ lên nấm mộ, không chạm tay lên mặt bia đá, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Theo nếp của người Gò Công, nên thắp hương ở mộ trước rồi mới sang đền. Ba ngày giữa tháng Tám dương lịch là lúc đông người nhất, và nếu gặp buổi hát bội thì xin quý vị ngồi phía sau, không đi cắt ngang giữa sân diễn với ban thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ và mộ Trương Định

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền thờ và mộ Trương Định ở đâu

Ở góc đường Phan Đình Phùng và Lý Thường Kiệt, phường 1 thành phố Gò Công cũ, nay là phường Gò Công, tỉnh Đồng Tháp, ngay giữa khu dân cư. Đây là một trong năm điểm thuộc cụm Di tích lịch sử Các địa điểm Khởi nghĩa Trương Định (cùng với Đền thờ Trương Định ở xã Gia Thuận, Đám Lá Tối Trời, Ao Dinh và Lũy Pháo Đài) được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 694/QĐ-TTg ngày 18 tháng 7 năm 2024.

Lễ giỗ Trương Định tổ chức ngày nào

Kéo ba ngày, từ ngày 18 tới ngày 20 tháng 8 dương lịch, ngày 20 là ngày giỗ chính. Lễ gồm phần cúng và tế theo lối lễ đình Nam Bộ cùng hát bội diễn trước ban thờ. Lễ hội được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Vì sao giỗ theo dương lịch mà không theo âm lịch

Bia trước mộ khắc ngày mất theo lịch ta là ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý, nhưng lệ giỗ ở Gò Công lại lấy ngày 20 tháng 8 dương lịch. Nhà nghiên cứu Lê Công Lý cho rằng ngày mười tám tháng Bảy năm Giáp Tý ứng với ngày 19 tháng 8 năm 1864. Đây là chỗ các nguồn chưa thống nhất.

Ai là người lập mộ Trương Định

Bà Trần Thị Sanh, người vợ thứ của ông, đứng ra lo việc mộ phần ngay năm 1864 và xin xây lại bằng đá hoa cương năm 1874. Theo Cục Di sản văn hóa, khoảng những năm 1930 tới 1931, gia đình Đốc phủ sứ Nguyễn Văn Hải và bà Huỳnh Thị Điệu (cháu ngoại bà Trần Thị Sanh) trùng tu lớn khu mộ (có nguồn ghi năm 1945 hoặc 1949), định hình bố cục thấy hôm nay.

Đền thờ ở đây có phải đền cổ không

Không. Đền được khởi công năm 1972 và hoàn thành năm 1973 theo bản vẽ của kỹ sư Nguyễn Ngọc Thiệt. Phần có tuổi thật ở đây là nấm mộ lập năm 1864 và hệ thống thành đá, bia đá trước mộ. Nếp giỗ thì cũ, còn công trình đền thì mới.

›Đọc Tiếp