Quý vị bước qua cổng, đi hết khoảng sân rợp cây, rồi tới một khuôn viên nhỏ có ba ngôi mộ nằm cạnh nhau. Ngôi ở giữa là của Nguyễn Đình Chiểu, hai ngôi bên là của phu nhân Lê Thị Điền và của con gái ông, bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê, hiệu Sương Nguyệt Anh. Ba nấm mộ đặt gần nhau như ba chỗ nằm trong một nếp nhà, không có tường ngăn, không có lối đi tách bạch.
Đó là phần cổ của nơi này. Còn những công trình cao ráo quanh đó thì mới: đền thờ cũ dựng năm 1972, nhà bia và đền thờ mới xây trong những năm đầu thế kỷ này. Người Nam Bộ quen gọi ông là cụ Đồ Chiểu, hai chữ của học trò gọi thầy, và cái tên ấy nói đúng thứ được giữ ở đây: không phải một vị thần, mà một ông thầy.
INgười Được Thờ Và Đạo Thầy Trò
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 trên đất Gia Định. Ông bị mù từ tuổi ngoài hai mươi, giữa lúc đang đi thi, và từ đó cả đời sống trong bóng tối. Từ năm 1862 ông về ở đất Ba Tri và ở đó cho tới khi mất ngày 3 tháng 7 năm 1888, tức hai mươi sáu năm cuối đời.
Trong hai mươi sáu năm ấy ông làm ba việc cùng lúc và cả ba đều là việc cho người khác: dạy chữ cho trẻ trong vùng, bốc thuốc cho người bệnh, và làm thơ. Ba việc ấy trong mắt người đương thời không phải ba nghề khác nhau mà là ba mặt của cùng một việc. Ông không đứng lớp để kiếm sống, không mở hiệu thuốc để buôn bán, và thơ của ông thì học trò chép tay truyền nhau chứ không in bán.
Lối thờ ở đây cần gọi cho đúng tên. Người nằm dưới ba nấm mộ kia không phải thần, không có thần tích, không có sắc phong, không có hệ thần đi kèm. Nếu phải xếp vào một lối thờ quen thuộc của người Việt thì đây gần nhất với đạo thầy trò, tức nếp nhớ thầy của học trò, cộng thêm một phần của lối thờ tổ nghề, vì ông vừa dạy chữ vừa làm thuốc.
Đạo thầy trò trong cách nghĩ cổ truyền không cần đền đài. Học trò cũ về nhà thầy ngày giỗ, thắp nén hương, ngồi lại kể chuyện thầy cho lớp sau nghe, thế là đủ. Chính vì vậy mà nơi này trong gần một trăm năm đầu chỉ có mấy nấm mộ, và dân Ba Tri vẫn về đều đặn. Khi hiểu như thế thì quý vị sẽ thấy phần mộ mới là phần có sức nặng ở đây, còn các công trình về sau chỉ là chỗ che mưa nắng cho một nếp đã có sẵn.
Về đạo làm người, thứ ông để lại rõ nhất nằm trong truyện thơ Lục Vân Tiên. Ở miền Nam, truyện ấy được kể, được nói, được hát bằng miệng nhiều hơn là đọc bằng mắt, và người thuộc nó phần lớn chưa từng cầm sách. Cái được truyền đi không phải cốt truyện mà là một bảng giá trị rất gọn: ở hiền, giữ lời, trọng nghĩa, không bỏ người trong cơn hoạn nạn. Một tác phẩm đi vào lời ăn tiếng nói của cả một vùng như vậy thì đã thôi là văn chương mà thành ra một nếp dạy dỗ.
Còn về nghề thuốc, ông để lại Ngư Tiều y thuật vấn đáp, một cuốn sách thuốc viết bằng thơ dưới dạng hỏi đáp giữa người đánh cá và người đốn củi. Viết sách thuốc bằng thơ là một cách làm rất riêng: sách thuốc chữ Hán thì người thường không đọc nổi, nhưng thơ lục bát thì nghe một lần là nhớ. Đó là cùng một cách nghĩ với việc ông dạy chữ, tức là đưa cái mình biết tới chỗ người ta với tay được.
Xin nói thẳng một chỗ hay bị hiểu lệch, bằng giọng sử liệu và không trách ai. Nhiều người tới đây thấy đền thờ cao lớn rồi cho rằng đây là một ngôi đền cổ có hàng trăm năm hương khói. Không phải. Phần cổ ở đây là ba ngôi mộ. Đền thờ cũ dựng năm 1972, còn nhà bia và đền thờ mới được xây trong khoảng những năm 2000 tới 2002 bằng bê tông cốt thép. Các công trình ấy có giá trị của chúng, nhưng chúng là công trình tưởng niệm của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, không phải di vật kiến trúc cổ. Phân biệt được hai lớp ấy thì mới đọc đúng nơi này.
IITừ Ba Nấm Mộ Đến Khu Lưu Niệm
Nơi này lớn dần theo từng lớp, bắt đầu bằng một nấm mộ đất năm 1888, rồi tới hai ngôi mộ kề bên, rồi tới các công trình tưởng niệm xây thêm trong hơn nửa thế kỷ gần đây.
- 1822Nguyễn Đình Chiểu sinhSinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 trên đất Gia Định. Ông bị mù từ tuổi ngoài hai mươi.
- 1862Về ở Ba TriÔng về sống trên đất Ba Tri và ở đó hai mươi sáu năm cuối đời, dạy chữ, bốc thuốc và làm thơ.
- 1888Ông mất và được táng tại chỗMất ngày 3 tháng 7 năm 1888. Học trò và dân trong vùng đưa ông về nằm trên chính mảnh đất ông sống, đây là gốc của khu mộ hôm nay.
- 1958Khu mộ được xây lạiTư liệu của cơ quan quản lý di sản ghi khu mộ được xây dựng năm 1958, gồm ba ngôi mộ của ông, cụ bà Lê Thị Điền và con gái Nguyễn Thị Ngọc Khuê.
- 1972Dựng đền thờ cũNgôi đền thờ đầu tiên được dựng cạnh khu mộ, diện tích khoảng 84 mét vuông, hai tầng mái lợp ngói âm dương màu nâu theo lối truyền thống.
- 1990Xếp hạng di tích quốc giaKhu mộ và nơi tưởng niệm được công nhận là di tích cấp quốc gia.
- 2000 tới 2002Xây nhà bia và đền thờ mớiNhà bia cao 12 mét với tấm bia đá xanh nguyên khối, và đền thờ mới cao 21 mét dựng bằng bê tông cốt thép theo mặt bằng hình tròn, bên trong đặt pho tượng đồng cao 1,6 mét nặng khoảng 1,2 tấn.
- 2016Di tích quốc gia đặc biệtThủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho di tích lịch sử Mộ và Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu.
Về năm xây khu mộ thì các nguồn ghi vênh nhau và thư viện nêu thẳng ra đây. Tư liệu của cơ quan quản lý di sản ghi khu mộ được xây năm 1958. Một số bài báo lại lấy mốc 1972 làm năm dựng khu di tích, tức gộp cả phần mộ và phần đền thờ cũ vào một mốc. Điều không nguồn nào ghi khác là ông được táng tại chỗ ngay từ năm 1888, nghĩa là bản thân chỗ nằm có tuổi hơn trăm năm, còn phần xây lát trên mặt đất thì thuộc các lớp về sau.
Tổng diện tích khu di tích hiện nay được các nguồn ghi vào khoảng hơn mười bốn nghìn mét vuông sau lần mở rộng đầu những năm 2000.
IIIBa Lớp Công Trình Trong Một Khuôn Viên
Đi trong khu di tích, quý vị gặp ba lớp công trình thuộc ba thời khác nhau, đặt cạnh nhau trong cùng một khuôn viên nhiều cây xanh. Đọc được ba lớp ấy thì hiểu được cách một nếp nhớ thầy dần dần được dựng thành di tích.
Ba ngôi mộ đặt cạnh nhau trong một khuôn viên: Nguyễn Đình Chiểu ở giữa, phu nhân Lê Thị Điền và con gái Nguyễn Thị Ngọc Khuê hai bên. Đây là phần gốc và là phần có tuổi thật của di tích.
Dựng năm 1972, diện tích chừng 84 mét vuông, hai tầng mái lợp ngói âm dương màu nâu. Quy mô nhỏ, lối dựng theo kiểu nhà thờ truyền thống Nam Bộ, hợp với việc thờ một ông thầy hơn là thờ một vị thần.
Xây trong khoảng 2000 tới 2002, cao 12 mét, hai tầng mái dán ngói, bên trong đặt tấm bia đá xanh nguyên khối kích thước khoảng 2,65 mét nhân 2,7 mét nhân 1,8 mét.
Xây cùng đợt với nhà bia, cao 21 mét, kết cấu bê tông cốt thép trên mặt bằng hình tròn. Bên trong đặt pho tượng đồng chân dung ông cao 1,6 mét, nặng khoảng 1,2 tấn.
Trên các hàng cột của đền thờ mới có khắc hai câu thơ lấy từ tác phẩm Dương Từ Hà Mậu của chính ông, đại ý rằng thuyền chở bao nhiêu đạo cũng không đầy, còn ngòi bút thì không nghiêng đi dù phải đâm vào kẻ gian. Hai câu ấy được chọn làm câu nêu của cả khu di tích, và nó nói đúng cách người Nam Bộ nhớ ông: nhớ một người cầm bút và cầm sách, chứ không nhớ một người cầm vật gì khác.
Một điều nên nói rõ về tỷ lệ công trình. Đền thờ mới cao 21 mét, nhà bia cao 12 mét, trong khi ba ngôi mộ và ngôi đền cũ đều thấp. Sự chênh lệch ấy dễ khiến người mới tới tưởng phần cao là phần chính. Thực ra trục của nơi này vẫn là khu mộ, và cách đi hợp với nếp cũ là vào thắp hương ở mộ trước, rồi mới sang các công trình sau.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay hồ sơ di tích. Chúng tôi ghi rõ để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Điều đầu tiên phải nói thẳng là mảnh đất này không được chọn theo phép xem đất. Ông mất ở Ba Tri và được táng ngay trên đất ông ở, theo lệ rất phổ biến của người Nam Bộ thời khẩn hoang là chôn người trong vườn nhà hoặc trên đất của làng, không mời thầy địa lý đi tầm long điểm huyệt. Khi đọc thế đất ở đây, ta đọc thế đất của một xóm đồng bằng chứ không đọc một huyệt được tìm ra rồi mới đưa người về.
Xét về địa hình, Ba Tri nằm ở vùng cù lao cuối sông đầu biển, đất phẳng, mạch nước dày, không có núi. Trong phép xem đất đồng bằng, nơi không có núi thì mạch nước thay chỗ cho mạch núi: dòng chảy dẫn khí, ao và rạch tụ khí. Đây là lối đọc chung cho gần như toàn bộ mộ phần và nơi thờ ở châu thổ phía nam, và nó dẫn tới một hệ quả: cái quyết định không phải hình thế núi non mà là cây và nước quanh chỗ nằm.
Vì thế, ở đây điều đáng đọc nhất là khuôn viên cây. Ba ngôi mộ nằm giữa một vườn cây rợp bóng, phía trước có khoảng sân trống. Đọc theo lối cũ, tán cây khép quanh đóng vai tả long hữu hổ, tức hai tay ôm mà đồng bằng vốn không có, còn khoảng sân trước mộ đóng vai minh đường, khoảng sáng để khí tụ. Người Nam Bộ dựng những khuôn viên như vậy theo thói quen sống chứ không theo sách, nhưng kết quả lại trùng với điều sách dạy.
Chỗ riêng nhất của nơi này nằm ở ba ngôi mộ đặt cạnh nhau. Trong phép âm trạch, mộ vợ chồng thường đặt song táng, còn mộ con cái thì tách sang khu khác theo thứ bậc. Ở đây cha, mẹ và con gái nằm chung một khuôn viên, không tường ngăn, không phân cấp bằng độ cao. Đọc theo lối cũ thì đó là thế nếp nhà, tức bày mộ theo cách bày chỗ ngồi trong một gia đình chứ không theo cách bày một lăng. Cách bày ấy hợp với người được thờ: một ông thầy, một người cha, không phải một vị quan có phẩm trật để mà xếp hàng.
Về hướng, cái đáng đọc không phải phương vị la bàn mà là quan hệ giữa chỗ nằm và vùng đất quanh nó. Mộ quay ra phía xóm làng và ruộng vườn Ba Tri, tức quay về phía những người ông dạy chữ và bốc thuốc cho. Theo con mắt cổ truyền, đó là thế của người ở lại với dân, và nó nhất quán với chính việc ông chọn Ba Tri làm chỗ dừng chân cuối cùng thay vì trở về đất Gia Định nơi ông sinh ra.
VLệ Giỗ Và Nếp Về Thăm Thầy
Nếp lễ ở đây là nếp giỗ chứ không phải nếp hội. Hai ngày được lấy làm ngày chính là ngày sinh và ngày mất của ông, tính theo dương lịch là mùng Một và mùng Ba tháng Bảy, khác với phần lớn đền miếu vốn lấy ngày âm lịch.
| Ngày | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 1 tháng 7 dương lịch | Ngày sinh | Ngày mở đầu kỳ giỗ, dâng hương tại khu mộ và tại đền thờ, đọc văn tế và ngâm thơ của ông. |
| Mùng 3 tháng 7 dương lịch | Ngày mất | Ngày chính giỗ, lễ dâng hương và cúng theo lối gia tiên tại đền thờ và khu mộ. |
| Trong hai ngày giỗ | Phần hội của vùng | Múa lân, trống hội, hóa trang nhân vật trong Lục Vân Tiên, liên hoan đờn ca tài tử và các trò của dân Ba Tri. |
| Đầu năm học và mùa thi | Lệ của học trò | Học sinh trong vùng giữ nếp tới thắp hương trước khi vào năm học và trước kỳ thi, theo nếp nhớ thầy của người Nam Bộ. |
Điều làm kỳ giỗ này khác các kỳ lễ đền miếu là cách người ta đến. Người Ba Tri nói về việc tới đây bằng chữ về thăm thầy chứ không nói bằng chữ đi lễ. Người đến không mang sớ, không xin quẻ, không vay lộc. Phần lớn chỉ thắp hương, đứng một lát, rồi đi. Nếp ấy giữ đúng khoảng cách của quan hệ thầy trò: kính mà không cầu xin.
Trong phần hội, nét riêng nhất là việc hóa trang nhân vật trong Lục Vân Tiên và các buổi đờn ca tài tử. Đó là cách một vùng đất nhắc lại tác phẩm của thầy mình bằng chính giọng của mình, bằng câu hát và bộ điệu, chứ không bằng việc đọc sách. Người viết truyện thơ ấy vốn cũng không đọc được chữ trong hai mươi sáu năm cuối đời, mà đọc cho học trò chép, nên việc tác phẩm sống bằng miệng là điều rất đúng với gốc của nó.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã An Đức, huyện Ba Tri cũ, nay là xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long
- Đường tới
- Khu di tích nằm ở xã An Đức thuộc huyện Ba Tri cũ, nay là xã Ba Tri, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm Ba Tri một quãng ngắn về phía đông. Đường vào là đường làng, lối đi trong khu rợp bóng cây.
- Toạ độ
- 10.0372, 106.5824
Đây là khu mộ và nơi thờ tự đang hoạt động, nên lệ nhà cần được giữ: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào đền thờ, đi nhẹ nói khẽ trong khu mộ, không ngồi và không đặt đồ lên phần mộ, đặt tiền vào hòm công đức chứ không đặt lên đồ thờ. Theo nếp của người Ba Tri, nên vào thắp hương ở khu mộ trước rồi mới sang đền thờ, vì mộ mới là trục của nơi này. Hai ngày mùng Một và mùng Ba tháng Bảy là lúc đông người nhất trong năm.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Mộ và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu
Contribute photos, information or video for Tomb and Memorial Site of Nguyen Dinh ChieuThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Mộ và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu thờ ai
Thờ Nguyễn Đình Chiểu, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 và mất ngày 3 tháng 7 năm 1888, người dạy chữ và bốc thuốc ở Ba Tri, dân Nam Bộ quen gọi là cụ Đồ Chiểu. Trong khuôn viên còn mộ phu nhân Lê Thị Điền và mộ con gái ông là bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê, hiệu Sương Nguyệt Anh.
Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu ở Ba Tri có phải đền cổ không
Không. Phần cổ ở đây là ba ngôi mộ, còn đền thờ cũ dựng năm 1972 và nhà bia cùng đền thờ mới được xây trong khoảng những năm 2000 tới 2002 bằng bê tông cốt thép. Đó là công trình tưởng niệm của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, không phải di vật kiến trúc cổ.
Lễ giỗ cụ Đồ Chiểu vào ngày nào
Vào ngày mùng Một và mùng Ba tháng Bảy dương lịch, lấy theo ngày sinh và ngày mất của ông, khác với phần lớn đền miếu vốn lấy ngày âm lịch. Kỳ giỗ có lễ dâng hương, đọc văn tế, ngâm thơ, cùng phần hội với đờn ca tài tử và hóa trang nhân vật Lục Vân Tiên.
Vì sao cụ Đồ Chiểu được thờ
Vì trong hai mươi sáu năm cuối đời ở Ba Tri ông dạy chữ, bốc thuốc và làm thơ cho người quanh mình, và học trò cùng dân trong vùng giữ nếp nhớ ông. Đây là lối thờ theo đạo thầy trò cộng với một phần lối thờ tổ nghề, không phải thờ thần và không có sắc phong.
Khu di tích được xếp hạng khi nào
Được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1990, sau đó xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499 ngày 22 tháng 12 năm 2016. Tổng diện tích khu di tích hiện nay được các nguồn ghi vào khoảng hơn mười bốn nghìn mét vuông.