VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Diệu Đế

Diệu Đế tự 妙諦寺, Quốc tự Diệu Đế

Ngôi quốc tự triều Nguyễn bên bờ sông Đông Ba, dựng năm 1844 trên nền phủ đệ nơi vua Thiệu Trị chào đời, trụ trì xưa do triều đình bổ nhiệm.

Dựng chùa
1844
vua Thiệu Trị cải phủ đệ thành chùa
Chuông lớn
1846
đúc bằng vàng bạc nội đình và phần hoàng thân cúng
Danh vị
Quốc tự
cùng Thiên Mụ và Thánh Duyên

Đi dọc đường Bạch Đằng ở khu Gia Hội, men theo bờ đông sông Đông Ba, quý vị sẽ gặp một tam quan hai tầng quay mặt thẳng ra dòng sông, tầng trên đặt tượng Hộ Pháp. Qua cổng là khoảng sân, rồi mái chánh điện thấp, hai bên còn lầu chuông và lầu bia đứng lặng. Cảnh ấy không rộng, nhưng khi biết mảnh đất dưới chân mình từng là gì thì quý vị sẽ nhìn nó khác.

Đây là chùa Diệu Đế, ngôi chùa vua Thiệu Trị cho dựng năm 1844 trên chính phủ đệ nơi ông sinh ra năm 1807. Cùng với chùa Thiên Mụ và chùa Thánh Duyên, Diệu Đế là một trong ba ngôi quốc tự của triều Nguyễn ở Huế, tức chùa do triều đình lập và trông coi, trụ trì do triều đình bổ nhiệm chứ không truyền theo dòng tổ.

ITên Diệu Đế Và Hàng Quốc Tự

Hai chữ Diệu Đế lấy từ kinh Phật. Diệu là nhiệm mầu, sâu kín. Đế ở đây là chân lý, là điều thật chắc chắn. Ghép lại, Diệu Đế là chân lý nhiệm mầu, và người từng đọc kinh sẽ nghe ngay âm vang của Tứ Diệu Đế, bốn chân lý Đức Phật giảng trong bài pháp đầu tiên. Tên chữ của chùa là Diệu Đế tự, người Huế cũng gọi là Quốc tự Diệu Đế. Chữ Hán ở đầu trang chép theo tên ghi trong bảng dữ kiện của thư viện, chúng tôi chưa đối chiếu với tấm biển trên cổng chùa.

Đạo Phật Ngày Nay chép rằng vua lập chùa với ý thức tỉnh người mê danh lợi, lấy điều thiện làm gốc. Lấy một cái tên nói về chân lý đặt cho đúng nơi mình sinh ra có thể đọc như một lời định rằng mảnh đất ấy từ nay dành cho việc đạo. Đó là cách hiểu của chúng tôi, văn bản chúng tôi đọc được không nói thêm.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Phật Giáo, Tứ Diệu Đế gồm bốn điều. Khổ đế nói đời sống có khổ. Tập đế nói khổ có nguyên nhân, gốc ở lòng tham ái và vô minh. Diệt đế nói khổ có thể dứt. Đạo đế nói con đường dứt khổ là Bát Chánh Đạo, tám nẻo chánh từ chánh kiến tới chánh định. Đây là giáo lý nền mà mọi tông phái Phật Giáo, Nam Tông hay Bắc Tông, đều giữ. Người Việt quen đọc Tứ Diệu Đế thay cho Tứ Đế, chữ Diệu thêm vào để tỏ lòng tôn kính giáo pháp.

Theo sử liệu

Về tông phái, Diệu Đế là chùa Phật Giáo Bắc Tông, nhưng khác các tổ đình ở Huế ở chỗ không có tổ khai sơn và không truyền theo bài kệ của một dòng tổ. Theo Vnanet, trụ trì chùa thời Nguyễn do triều đình cử. Người lập chùa là vua Thiệu Trị, tức Nguyễn Phúc Miên Tông, vị vua thứ ba của triều Nguyễn.

Vì thế câu hỏi ai khai sơn ở đây có câu trả lời khác thường: người lập là một vị vua, và chùa ra đời từ một quyết định của triều đình chứ không từ am tu của một vị thiền sư. Nếu muốn xem một tổ đình có Phật học viện và truyền thừa dòng tổ ở Huế, quý vị có thể đọc bài chùa Báo Quốc, cách đây chừng hai cây số.

Chỗ hay hiểu lầm

Vì chùa do vua lập, nhiều người đoán chữ Đế trong tên là chữ đế của đế vương, rồi hiểu Diệu Đế như một lời tôn vua. Không phải. Hai chữ đế ấy viết khác nhau trong chữ Hán và nghĩa khác nhau. Chữ trong tên chùa là chữ đế của Tứ Diệu Đế, nghĩa là chân lý. Sự nhầm lẫn này dễ hiểu, vì ngôi chùa quả thật gắn với một ông vua từ nơi sinh cho tới ban thờ trong chánh điện, nhưng cái tên thì nói về giáo pháp chứ không nói về ngai vàng.

IITừ Phủ Đệ Tới Quốc Tự

Theo Huế Tourism, mảnh đất bên bờ sông Đông Ba vốn là phủ đệ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi. Đạo Phật Ngày Nay ghi ông sinh tại đây ngày 16 tháng 6 năm 1807. Năm 1844, ba năm sau khi lên ngôi, vua cho cải phủ thành chùa trên quy mô rộng, ban tên Diệu Đế tự và xếp vào hàng quốc tự. Đạo Phật Ngày Nay ghi việc dựng chùa vào tháng 3 năm ấy. Hai năm sau, vua cho đúc chuông lớn bằng vàng bạc của nội đình cùng phần cúng của các hoàng thân.

  • 1807Vua Thiệu Trị sinh tại phủ đệ
    Theo Đạo Phật Ngày Nay, Nguyễn Phúc Miên Tông sinh ngày 16 tháng 6 năm 1807 tại phủ đệ bên sông Đông Ba, nơi về sau thành chùa.
  • 1844Cải phủ thành chùa
    Vua Thiệu Trị cho cải phủ đệ thành chùa, ban tên Diệu Đế tự, xếp vào hàng quốc tự. Điện chính khi ấy mang tên Đại Giác điện.
  • 1846Đúc chuông lớn
    Chuông đồng lớn được đúc bằng vàng bạc của nội đình và phần cúng của các hoàng thân.
  • 1885 tới 1887Khuôn viên bị dùng vào việc khác
    Theo Vnanet và Huế Tourism, từ năm 1885 khuôn viên bị dùng làm công sở, kho và nơi đúc tiền. Tới năm 1887 phần lớn công trình bị triệt hạ.
  • 1889Trùng tu
    Hòa thượng Tâm Truyền đứng ra trùng tu, dựng lại phần thờ tự trên nền chùa cũ.
  • 1904 tới 1917Bão và tu sửa
    Trận bão năm 1904 làm sập thêm nhiều công trình. Chùa được tu sửa năm 1909 và năm 1917.
  • 1953Dựng lại chánh điện
    Chánh điện được dựng lại với quy mô nhỏ hơn điện cũ, là tòa chánh điện quý vị thấy hôm nay.
  • 2018Đợt trùng tu lớn gần đây
    Theo VnExpress, chùa bước vào một đợt trùng tu lớn từ năm 2018.

Nhìn chuỗi mốc ấy, quý vị sẽ hiểu vì sao chùa hôm nay nhỏ hơn nhiều so với lúc mới dựng. Bố cục ban đầu mà Đạo Phật Ngày Nay tả gồm tường bao có nhiều cổng, điện chính là Đại Giác điện, lầu chuông, lầu bia, gác Đạo Nguyên, một đình lục giác và một bến sông có bậc xuống nước. Phần lớn những hạng mục ấy không còn. Cái còn lại là lầu chuông, lầu bia, quả chuông, các pho tượng, và cái tên.

Từ nền cũ ấy, các đợt trùng tu năm 1889, 1909 và 1917 dựng lại dần phần thờ tự. Chánh điện dựng năm 1953 là lớp công trình gần nhất trước đợt trùng tu bắt đầu năm 2018.

Theo sử liệu

Ba nguồn chính của bài này không trùng nhau hoàn toàn về quy mô ban đầu. Đạo Phật Ngày Nay kê tường bao, Đại Giác điện, lầu chuông, lầu bia, gác Đạo Nguyên, đình lục giác và bến sông. Tri Thức VN ghi chùa từng có bốn lầu, trong đó có lầu chuông, lầu trống và lầu bia, còn lầu thứ tư nguồn không nêu tên. VnExpress ghi hôm nay lầu bia và lầu chuông còn giữ nguyên trạng. Chúng tôi chép cả ba cách ghi và không đoán thêm tên lầu còn thiếu.

IIITam Quan, Chánh Điện Và Quả Chuông

Chùa quay mặt ra sông Đông Ba. Lối vào là tam quan hai tầng, tầng trên đặt tượng Hộ Pháp, nhìn thẳng xuống mặt nước. Sau sân là chánh điện dựng lại năm 1953. Theo Vnanet, trong chánh điện ngoài ban thờ Phật còn có ban thờ Quan Thánh, ban thờ vua Thiệu Trị và các công chúa. Ban thờ Quan Thánh trong chùa là lệ quen ở nhiều chùa Bắc Tông miền Trung và miền Nam, nơi Quan Công được tôn làm vị hộ pháp giữ chùa. Ban thờ vua thì là nét riêng của Diệu Đế, vì người lập chùa cũng là người sinh ra trên đất này.

Tam quan hai tầng

Cổng chính mở ra phía sông, tầng trên đặt tượng Hộ Pháp. Đây là hình ảnh đầu tiên người đi trên đường Bạch Đằng nhìn thấy.

Tranh Long vân khế hội

Trên trần chánh điện có bức tranh chín con rồng giữa mây, rộng chừng 11 mét nhân 10 mét. Vnanet ghi tranh của họa sĩ Phan Văn Tánh.

Lầu chuông và chuông năm 1846

Chuông đồng lớn đúc năm 1846 theo lệnh vua Thiệu Trị. VnExpress ghi lầu chuông còn giữ nguyên trạng.

Lầu bia

Một trong những công trình VnExpress ghi còn giữ nguyên trạng, cùng lầu chuông đứng hai bên khoảng sân trước chánh điện.

Hệ tượng thờ

Đạo Phật Ngày Nay ghi có tượng Bát Bộ Kim Cương và Thập Bát La Hán. Tri Thức VN ghi có tượng Quán Âm nghìn mắt nghìn tay bằng đồng. Chùa còn giữ tượng Phật thế kỷ 19.

Bức tranh trên trần đáng dừng lại. Long vân khế hội là thành ngữ cũ chỉ cuộc gặp gỡ đúng thời, như rồng gặp mây. Chín con rồng uốn giữa mây, vẽ kín một mặt trần rộng, là thứ quý vị phải ngửa đầu mới thấy hết. Nguồn chúng tôi đọc được không ghi năm vẽ, nên chúng tôi không đặt bức tranh vào một mốc nào.

Hệ tượng cũng cần đọc theo đúng vai. Bát Bộ Kim Cương là tám vị thần hộ pháp đứng giữ đạo tràng, thường đặt hai bên lối vào chánh điện. Thập Bát La Hán là mười tám vị đệ tử đã chứng quả, được thờ như những tấm gương tu hành. Tượng Quán Âm nghìn mắt nghìn tay diễn tả lòng từ của Bồ Tát thấy khắp và cứu khắp, mỗi bàn tay có một con mắt. Ba lớp tượng ấy cùng đứng trong một điện là cách chùa Bắc Tông dựng nên một thế giới thu nhỏ quanh Đức Phật.

Chỗ hay hiểu lầm

Về trọng lượng quả chuông năm 1846, nguồn ghi không khớp. VnExpress ghi chuông nặng gần 4 tấn. Đạo Phật Ngày Nay ghi một con số khác mà chúng tôi chưa đối chiếu được đơn vị đo, vì cân xưa và cân nay khác nhau. Nhiều bài du lịch chép lại con số gần 4 tấn như chuyện đã rõ. Chúng tôi chỉ ghi đây là một chuông đồng lớn, cho tới khi có văn bản đo đạc đối chiếu được.

IVThế Đất Và Hướng

Những gì dưới đây là cách thư viện đọc thế đất theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản hay văn bia của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc không ghi triều đình chọn đất theo phép nào. Lại nữa, đất này vốn là phủ đệ trước khi thành chùa, nên thế đất trước hết là thế đất của một dinh thự, rồi mới là của một ngôi chùa.

Thế đất và hướng

Chùa ở khu Gia Hội, trên bờ đông sông Đông Ba, một nhánh nước của sông Hương chảy dọc mặt đông Kinh thành. Tam quan quay thẳng ra sông, tức là mặt chùa có nước trước. Trong phép xem đất, nước trước mặt là minh đường có thủy, nơi khí được giữ lại và tụ trước cửa. Bến sông có bậc xuống nước trong bố cục ban đầu cho thấy người xưa coi dòng sông là một phần của ngôi chùa, không phải một thứ nằm ngoài tường.

Bên kia sông là khu Kinh thành. Một phủ đệ của hoàng tử đặt ngay bên ngoài Kinh thành, mặt nhìn về phía ấy, là vị trí quen của nhà ở hoàng thân thời Nguyễn: gần chốn triều đình mà vẫn có riêng một khoảng đất và một dòng nước. Khi phủ thành chùa, cái thế nhìn về phía Kinh thành ấy được giữ nguyên.

Gia Hội là đất bằng, không có núi làm chỗ tựa sau lưng như các chùa trên đồi phía nam Huế. Ở đây, sự vững chãi không đến từ núi mà đến từ tường bao và các lớp nhà nối nhau theo trục. Đó là lối xử lý của đất đồng bằng ven sông: không có sơn thì lấy công trình làm chỗ dựa, lấy nước làm chỗ mở.

Cuối cùng, ba ngôi quốc tự của Huế mỗi ngôi một thế riêng. Thiên Mụ trên đồi bên sông Hương ở phía tây, Thánh Duyên xa hơn về phía đầm phá, còn Diệu Đế nằm sát khu phố buôn bán Gia Hội. Đọc chung, có thể thấy triều Nguyễn không đặt quốc tự theo một khuôn cố định, mà đặt theo lai lịch của từng mảnh đất.

VLễ Trong Năm

Chúng tôi không tra được văn bản ghi lịch lễ riêng của Diệu Đế. Các lễ dưới đây theo nếp chung của chùa Bắc Tông ở Huế, tính theo âm lịch. Riêng việc chùa có ban thờ vua Thiệu Trị cho thấy nhà chùa giữ việc tưởng nhớ người lập chùa, nhưng lễ ấy cử hành vào ngày nào và theo nghi thức nào thì nguồn chúng tôi đọc không ghi, nên chúng tôi không đưa vào bảng.

Các lễ chính theo nếp chung của chùa Bắc Tông, tính theo âm lịch. Nguồn: Theo nếp chung của chùa Bắc Tông Việt Nam, không phải lịch lễ riêng đã tra được của chùa Diệu Đế..
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ đầu năm, Phật tử về chùa lễ Phật, tụng kinh cầu an cho gia đình.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, có nghi thức tắm Phật theo nếp chùa Bắc Tông.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học theo giới luật.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư.
Mùng 8 tháng ChạpPhật thành đạoTưởng niệm ngày Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề.

Về lễ, chùa sinh hoạt như các chùa Bắc Tông khác ở Huế. Cái khác nằm ở không gian: tiếng chuông năm 1846 vẫn vang ra mặt sông Đông Ba, và trong chánh điện vẫn có một ban thờ dành cho người đã sinh ra trên chính mảnh đất ấy.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 110 đường Bạch Đằng, bờ đông sông Đông Ba, phường Phú Xuân (phường Phú Cát cũ), thành phố Huế. Đất khu Gia Hội xưa
Đường tới
Chùa ở số 110 đường Bạch Đằng, bờ đông sông Đông Ba, phường Phú Xuân (phường Phú Cát cũ), thành phố Huế, trong khu Gia Hội xưa. Từ Kinh thành đi qua cầu sang bờ đông là tới.
Toạ độ
16.4779, 107.5875
Khi tới nơi

Diệu Đế là chùa đang có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và cởi giày dép trước khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ khi có khóa lễ. Ban thờ vua Thiệu Trị và các công chúa là nơi thờ tự, không phải hiện vật trưng bày. Chuông năm 1846 là hiện vật cổ, xin đừng tự ý thỉnh chuông. Muốn chụp bức tranh rồng trên trần, xin hỏi người trong chùa trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Diệu Đế

Contribute photos, information or video for Dieu De Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Diệu Đế ở đâu

Chùa ở số 110 đường Bạch Đằng, bờ đông sông Đông Ba, phường Phú Xuân (phường Phú Cát cũ), thành phố Huế. Đây là khu Gia Hội xưa, đối diện Kinh thành qua dòng sông. Tam quan hai tầng của chùa quay thẳng ra sông, nên đi dọc đường Bạch Đằng là thấy.

Chùa Diệu Đế do ai xây dựng

Vua Thiệu Trị, tức Nguyễn Phúc Miên Tông, cho dựng năm 1844 bằng cách cải phủ đệ cũ, nơi ông sinh năm 1807, thành chùa rồi ban tên Diệu Đế tự. Chùa không có tổ khai sơn là một vị thiền sư, trụ trì thời Nguyễn do triều đình bổ nhiệm.

Ba ngôi quốc tự ở Huế là những chùa nào

Ba ngôi quốc tự thời Nguyễn ở Huế là chùa Thiên Mụ, chùa Thánh Duyên và chùa Diệu Đế. Quốc tự là chùa do triều đình lập hoặc bảo trợ, trụ trì do triều đình cử. Mỗi ngôi có lai lịch riêng, Diệu Đế là ngôi duy nhất dựng trên nơi một vị vua chào đời.

Chùa Diệu Đế thuộc tông phái nào

Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông. Khác các tổ đình ở Huế, Diệu Đế không có tổ khai sơn và không truyền theo bài kệ của một dòng tổ, vì đây là chùa của triều đình. Theo Vnanet, trụ trì thời Nguyễn do triều đình cử chứ không truyền theo thầy trò.

Tên Diệu Đế nghĩa là gì

Diệu là nhiệm mầu, đế là chân lý. Diệu Đế là chân lý nhiệm mầu, gợi tới Tứ Diệu Đế, bốn chân lý về khổ, nguyên nhân của khổ, sự dứt khổ và con đường dứt khổ. Chữ đế trong tên chùa không phải chữ đế của đế vương, dù người lập chùa là một vị vua.

Đọc Tiếp