VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Quốc Ân

Chùa Vĩnh Ân, Sắc tứ Quốc Ân tự

Ngôi tổ đình ở kinh đô Phú Xuân của Thiền sư Nguyên Thiều, người đưa dòng Lâm Tế vào Đàng Trong, được chúa Nguyễn ban biển Sắc tứ năm 1689.

Khai sơn
1682 tới 1684
tên đầu là Vĩnh Ân
Ban biển
1689
chúa Nguyễn Phúc Thái đổi hiệu Quốc Ân
Trùng tu
2019 tới 2022
hạ giải toàn bộ, dựng lại bằng gỗ

Từ đàn Nam Giao đi xuống một quãng ngắn về phía Kinh thành, quý vị sẽ gặp một cổng tam quan bốn trụ, sau cổng là một mái chánh điện gỗ còn thơm mùi mộc mới. Ngôi chùa trông như vừa dựng, vì đúng là phần lớn khung gỗ vừa được hạ giải và lắp lại từ năm 2019 tới năm 2022. Nhưng tấm biển trên chánh điện thì đã có từ năm 1689, và cái tên trên tấm biển ấy là do một vị chúa Nguyễn ban.

Đây là chùa Quốc Ân, ngôi chùa mà Thiền sư Hoán Bích Nguyên Thiều, một vị tăng người Quảng Đông, dựng ở kinh đô Phú Xuân vào cuối thế kỷ 17. Tổ Nguyên Thiều là một trong những người đầu tiên đưa Thiền phái Lâm Tế vào Đàng Trong. Từ các đệ tử của ngài, dòng Lâm Tế bén rễ ở Thuận Hóa và lan dần vào phương Nam. Người trong dòng tìm về Quốc Ân là tìm về một trong những điểm khởi đầu ấy.

ITổ Nguyên Thiều Và Dòng Lâm Tế

Thiền sư Nguyên Thiều, hiệu Hoán Bích, pháp danh Siêu Bạch, sinh năm 1648 ở phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông. Ngài là đời 33 của Thiền phái Lâm Tế, thầy là Hòa thượng Bổn Quả Khoáng Viên. Ngài theo thuyền buôn sang Đàng Trong, dựng chùa trước ở vùng Quy Ninh, tức ngôi chùa Thập Tháp Di Đà nay ở Gia Lai, rồi ra Phú Xuân dựng thêm một thảo am mang tên Vĩnh Ân. Ngài viên tịch ngày 19 tháng 10 năm 1728, thọ 81 tuổi, được ban thụy Hạnh Đoan thiền sư.

Giới nghiên cứu gọi dòng do ngài truyền vào Đàng Trong là Lâm Tế Chánh Tông, để phân biệt với những dòng Lâm Tế mang tên các vị tổ người Việt ra đời sau, như dòng Liễu Quán ở Thuận Hóa hay dòng Chúc Thánh ở Hội An. Hai dòng ấy có bài kệ riêng. Còn ở Quốc Ân, các đời kế thế vẫn đặt pháp danh theo bài kệ cũ của Tổ Vạn Phong Thời Ủy bên Trung Hoa.

Theo sử liệu

Năm Tổ Nguyên Thiều sang Đàng Trong là chỗ các nguồn vênh nhau. Giác Ngộ và Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm 1665, có nguồn khác ghi năm 1677. Chúng tôi ghi cả hai. Năm khai sơn Quốc Ân cũng chỉ ghi được theo khoảng: Thanh Niên và Chốn Thiêng ghi khoảng 1682 tới 1684, Giác Ngộ ghi khoảng 1683 tới 1684.

Một chỗ nữa đáng biết. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi Tổ Nguyên Thiều dùng cả bài kệ của Tổ Vạn Phong lẫn bài kệ của Tổ Đạo Mân, mở đầu bằng câu Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên. Vì vậy trong hàng đệ tử của ngài có vị mang chữ Minh theo kệ Vạn Phong, có vị mang chữ Thành theo kệ Đạo Mân. Hai nhánh ấy đi hai hướng: nhánh chữ Minh ở lại Thuận Hóa và Quảng Nam, nhánh chữ Thành, với các vị như Thành Nhạc và Thành Đẳng, đi vào vùng Đồng Nai.

Bài kệ của Tổ Vạn Phong

Bài kệ dùng ở Quốc Ân gồm tám câu, mỗi câu năm chữ, phiên âm theo phatgiao.org.vn:

Tổ đạo giới định tông, Phương quảng chứng viên thông,
Hạnh siêu minh thật tế, Liễu đạt ngộ chơn không,
Như nhật quang thường chiếu, Phổ châu lợi nhơn thiên,
Tín hương sanh phước huệ, Tương kế chấn từ phong.

Chữ Siêu trong câu thứ ba là chữ của Tổ Nguyên Thiều. Đọc tiếp câu ấy thì thấy Minh, Thật, Tế. Đó cũng chính là chữ đầu trong pháp danh của hai vị tổ Việt sau này: Tổ Liễu Quán mang chữ Thật và mở bài kệ riêng bằng hai chữ Thật tế, Tổ Minh Hải ở Hội An mang chữ Minh và mở bài kệ riêng bằng hai chữ Minh thật. Hai dòng mới đều nối tiếp đúng từ chỗ mà bài kệ cũ đã đi tới.

Bốn đời đầu tại Quốc Ân, pháp danh đi đúng thứ tự chữ trong kệ Vạn Phong. Nguồn: Danh sách theo Chốn Thiêng, kệ theo phatgiao.org.vn..
Chữ trong kệĐời Lâm TếVị kế thế ở Quốc Ân
Siêu33Tổ khai sơn Siêu Bạch Hoán Bích Nguyên Thiều, 1648 tới 1728
Minh34Minh Hằng Định Nhiên, viên tịch năm 1793
Thật35Thiệt Tánh Trí Hải, viên tịch năm 1805
Tế36Tế Chánh Bổn Giác, 1761 tới 1851
Chỗ hay hiểu lầm

Chữ Quốc trong tên chùa khiến nhiều người tưởng đây là một quốc tự, tức chùa do triều đình dựng và cấp tăng quan trông coi như chùa Thiên Mụ. Không phải. Quốc Ân là chùa do một vị thiền sư tự dựng, sau đó được chúa ban biển. Hai chữ Quốc Ân nghĩa là ơn nước, và biển Sắc tứ là biển do chúa ban cho một ngôi chùa để ghi nhận công hoằng pháp của vị trụ trì, không biến ngôi chùa ấy thành chùa của nhà nước.

IITừ Vĩnh Ân Đến Quốc Ân

Chuyện đổi tên là mốc dễ nhớ nhất của chùa. Am ban đầu mang tên Vĩnh Ân. Năm 1689, chúa Nguyễn Phúc Thái ban biển Sắc tứ Quốc Ân tự, ghi nhận công của Tổ Nguyên Thiều trong việc truyền giới và giảng pháp ở Phú Xuân. Từ đó tên Quốc Ân được giữ tới nay, tên Vĩnh Ân chỉ còn trong sử chùa.

  • 1665 hoặc 1677Tổ Nguyên Thiều sang Đàng Trong
    Giác Ngộ và Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi năm 1665, có nguồn ghi năm 1677. Ngài dựng chùa trước ở Quy Ninh, tức chùa Thập Tháp Di Đà.
  • 1682 tới 1684Dựng am Vĩnh Ân
    Tổ ra Phú Xuân dựng thảo am Vĩnh Ân ở phía nam kinh đô, tiền thân của chùa Quốc Ân.
  • 1689Ban biển Sắc tứ Quốc Ân tự
    Chúa Nguyễn Phúc Thái đổi hiệu am thành Quốc Ân và ban biển Sắc tứ.
  • 1728Tổ viên tịch
    Tổ Nguyên Thiều viên tịch ngày 19 tháng 10, thọ 81 tuổi, được ban thụy Hạnh Đoan thiền sư.
  • 1731Khắc ván kinh Pháp Hoa
    Bộ ván khắc in kinh Pháp Hoa năm Vĩnh Khánh thứ 3 được làm ra, hiện còn nguyên vẹn tại chùa.
  • 1805Tái thiết
    Chùa hư hoại nặng vào cuối thế kỷ 18 và được dựng lại đầu đời Gia Long. Giác Ngộ ghi thêm các lần trùng tu lớn năm 1822 và năm 1851.
  • 1993Vào danh mục bảo vệ
    Chùa có tên trong danh mục 153 công trình và địa điểm được bảo vệ theo Quyết định 1046 ngày 8 tháng 10 năm 1993 của tỉnh Thừa Thiên Huế cũ.
  • 2019 tới 2022Hạ giải đại trùng tu
    Đợt trùng tu được cấp phép năm 2019, hạ giải toàn bộ và dựng lại bằng gỗ, khánh thành ngày 11 tháng 11 năm 2022.

Về tháp của Tổ, các nguồn nhắc tên tháp Phổ Đồng nhưng tả vị trí khác nhau, và Giác Ngộ ghi tháp nguyên thủy do chính Tổ cho dựng đã không còn giữ được từ cuối thế kỷ 18. Chúng tôi không đủ tư liệu để khẳng định tháp hiện ở chỗ nào nên chỉ ghi lại như vậy. Phía sau chùa hiện có một vườn tháp với mười bốn ngôi tháp của các đời trụ trì, theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

IIINgôi Chùa Gỗ Phía Nam Kinh Thành

Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia, khuôn viên chùa rộng chừng 5.000 mét vuông, phần xây dựng chừng 550 mét vuông, bố cục theo lối chữ khẩu truyền thống của chùa vùng Thuận Hóa: chánh điện ở trước, nhà tổ ở sau, nhà Đông và nhà Tây hai bên khép một sân trong. Cổng tam quan có bốn trụ chia ba lối vào. Chánh điện gồm tiền đường và chánh điện nối liền dưới một hệ mái. Bờ mái khảm sành sứ theo lối trang trí Huế, đắp rồng, phượng, dơi và các biểu tượng cát tường.

Đợt trùng tu 2019 tới 2022 hạ giải toàn bộ rồi dựng lại bằng gỗ, giữ đúng kiểu dáng cũ, không thay khung gỗ bằng bê tông. Báo Thanh Niên gọi Quốc Ân sau đợt trùng tu này là ngôi chùa có kiến trúc gỗ đẹp nhất xứ Huế.

Ván kinh Pháp Hoa năm 1731

Bộ ván khắc in kinh Pháp Hoa năm Vĩnh Khánh thứ 3, còn nguyên vẹn. Đây là hiện vật cho thấy Quốc Ân không chỉ là nơi tu thiền mà còn là nơi in kinh cho tăng chúng.

Tượng Tam Thế và chuông

Thanh Niên ghi chùa giữ bộ tượng Tam Thế Phật và chuông đồng thời Minh Mạng cùng nhiều pháp khí cổ.

Tượng Thập Điện

Bảo tàng Lịch sử quốc gia ghi chánh điện có bộ tượng mười vị Minh Vương cai quản mười cửa điện theo tín ngưỡng Bắc Tông.

Vườn tháp

Mười bốn ngôi tháp của các đời trụ trì ở phía sau khuôn viên, làm chứng cho mạch kế thế không đứt suốt hơn ba trăm năm.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thấy khung gỗ mới rồi nghĩ Quốc Ân là chùa mới xây. Tuổi của một ngôi chùa Huế không nằm ở từng cây cột. Chùa gỗ vùng này vẫn được hạ giải và dựng lại theo chu kỳ, vì gỗ trong khí hậu ẩm và mưa bão không đứng được mãi. Cái được giữ qua các lần dựng lại là bố cục, kiểu mái, vị trí các lớp nhà, cùng tấm biển, bộ ván kinh, các pho tượng và mạch trụ trì. Ở Quốc Ân, những thứ ấy còn đủ.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong văn bản của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc được không ghi Tổ Nguyên Thiều chọn đất theo phép nào. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Chùa nằm ở vùng đất gò phía nam Kinh thành, nơi mặt đất bắt đầu nhô lên từ đồng bằng sông Hương để nối vào dải đồi phía nam Huế. Cách chùa chừng 770 mét là đàn Nam Giao, nhắc ở đây chỉ như một mốc định vị. Vùng gò này cao ráo, thoát nước tốt, thích hợp cho những công trình cần đứng lâu.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia ghi chùa quay mặt về hướng tây bắc. Đây là hướng hiếm gặp với chùa đồng bằng Bắc Bộ, nhưng ở Huế thì không lạ: nhiều chùa vùng đồi phía nam quay mặt về phía sông và phía Kinh thành, lưng tựa vào dải đồi cao dần về phía nam. Đọc theo lối cổ truyền, đó là thế lấy đồi làm chỗ dựa phía sau và lấy vùng đất thấp có sông làm phía trước để đón khí.

Bố cục chữ khẩu cũng mang một ý về khí. Bốn dãy nhà vây một sân trong, khí đi vào qua tam quan, dừng lại ở sân, không xổ thẳng ra sau. Với một tổ đình mà việc chính là tăng chúng ở lâu dài để tu học, một khoảng sân khép kín như thế là chỗ tụ.

Sau cùng là vườn tháp ở phía sau chùa. Các đời tổ nằm ở sau lưng người đang tu, tức ở phía chỗ dựa. Trong lối nghĩ cổ truyền, đặt tổ tiên ở chỗ dựa là đặt nền cho người đời sau đứng.

VLễ Giỗ Tổ Và Các Lễ Trong Năm

Lễ lớn nhất trong năm của chùa là lễ giỗ Tổ Nguyên Thiều, tính theo ngày ngài viên tịch là ngày 19 tháng 10 âm lịch. Lễ khánh thành đợt đại trùng tu được chọn đúng vào dịp này: ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo dương lịch, theo Thanh Niên là trùng với lễ giỗ Tổ năm ấy.

Các lễ chính trong năm tại chùa, tính theo âm lịch. Nguồn: Ngày giỗ Tổ theo Chốn Thiêng và Thanh Niên, các lễ còn lại theo nếp chung của chùa Bắc Tông..
Ngày âm lịchLễNội dung
19 tháng 10Giỗ Tổ Nguyên ThiềuLễ tưởng niệm Tổ khai sơn, tăng ni các chùa cùng mạch Lâm Tế về dâng hương.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Phật đản sinh theo nếp chung của chùa Bắc Tông.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học theo luật.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu, cũng là ngày tự tứ khép lại mùa an cư.

Ở Quốc Ân, lễ giỗ Tổ có một lớp nghĩa riêng. Tổ Nguyên Thiều không chỉ là tổ của một ngôi chùa mà là một trong những người mở đường cho dòng Lâm Tế ở Đàng Trong. Nhiều sơn môn không trực tiếp thuộc Quốc Ân, nhưng khi kể ngược lên gốc Lâm Tế ở miền Trung, đều phải đi qua tên ngài.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Phía nam Kinh thành, gần đàn Nam Giao, phường Thuận Hóa (phường Trường An cũ), thành phố Huế
Đường tới
Chùa ở phía nam Kinh thành Huế, gần đàn Nam Giao, thuộc phường Thuận Hóa, phường Trường An cũ. Từ trung tâm thành phố đi theo hướng đàn Nam Giao, chùa nằm cách đàn chừng 770 mét.
Toạ độ
16.4429, 107.5876
Khi tới nơi

Quốc Ân là tổ đình đang có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà tổ, đi nhẹ nói khẽ ở khu nhà Đông và nhà Tây vốn là chỗ ở của chư tăng. Khung gỗ và bờ mái khảm sành vừa trùng tu, xin đừng dựa hay chạm tay. Ván kinh và pháp khí cổ không bày để tham quan, nếu muốn xem xin hỏi nhà chùa trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Quốc Ân

Contribute photos, information or video for Quoc An Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Quốc Ân Huế do ai xây

Do Thiền sư Hoán Bích Nguyên Thiều, người phủ Triều Châu tỉnh Quảng Đông, đời 33 Thiền phái Lâm Tế, khai sơn khoảng năm 1682 tới 1684. Ngài là một trong những người đầu tiên đưa dòng Lâm Tế vào Đàng Trong, trước đó đã dựng chùa Thập Tháp Di Đà ở Quy Ninh.

Vì sao chùa tên là Quốc Ân

Am ban đầu tên là Vĩnh Ân. Năm 1689 chúa Nguyễn Phúc Thái ban biển Sắc tứ Quốc Ân tự, ghi nhận công hoằng pháp của Tổ Nguyên Thiều. Quốc Ân nghĩa là ơn nước. Chùa không phải quốc tự do triều đình lập.

Chùa Quốc Ân thuộc dòng thiền nào

Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng do Tổ Nguyên Thiều truyền vào, giới nghiên cứu gọi là Lâm Tế Chánh Tông. Các đời kế thế đặt pháp danh theo kệ Tổ Vạn Phong Thời Ủy, chữ Siêu của Tổ rồi chữ Minh, Thật, Tế.

Chùa Quốc Ân với chùa Thập Tháp khác nhau thế nào

Cả hai cùng do Tổ Nguyên Thiều khai sơn. Thập Tháp Di Đà ở Quy Ninh, nay thuộc Gia Lai, là ngôi ngài dựng trước ở vùng đất mới. Quốc Ân là ngôi ở kinh đô Phú Xuân, được chúa ban biển Sắc tứ năm 1689.

Chùa Quốc Ân trùng tu năm nào

Chùa tái thiết năm 1805, trùng tu lớn năm 1822 và 1851 theo Giác Ngộ. Đợt gần nhất được cấp phép năm 2019, hạ giải toàn bộ rồi dựng lại bằng gỗ, khánh thành ngày 11 tháng 11 năm 2022, trùng dịp giỗ Tổ Nguyên Thiều.

Đọc Tiếp