VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ đình Tường Vân

Chùa Tường Vân, thảo am Tường Vân

Một thảo am trên đồi Dương Xuân giữa thế kỷ 19 đã thành tổ đình của cả một sơn môn thuộc dòng Liễu Quán, giữ nguyên lối chùa chữ khẩu của xứ Huế.

Tổ khai sơn
Huệ Cảnh
Thiền sư Tánh Hoạt, 1798 tới 1866
Khai sơn
1843, 1850 hoặc 1869
ba nguồn ghi ba năm
Văn bia
1892
bia trùng tu lần thứ nhất

Rẽ khỏi đường Điện Biên Phủ đi về phía tây chừng hai cây số, con đường lên dần vào vùng đồi thông của làng Dương Xuân cũ. Quý vị đi qua mấy ngôi chùa nằm sát nhau trên cùng một vùng gò, rồi dừng trước một cổng chùa mở vào một khoảng sân, bảy bậc cấp dẫn lên tiền đường. Bốn dãy nhà vây quanh một sân trong. Người ở đây nói nhỏ, và tiếng thông trên đồi nghe rõ hơn tiếng xe.

Đây là Tổ đình Tường Vân. Chùa không phải chốn tổ gốc của một dòng thiền, mà là chốn tổ của một sơn môn, tức một hệ chùa cùng chung thầy tổ, thuộc dòng Lâm Tế Liễu Quán. Khởi đầu của nó rất nhỏ: một thảo am do Thiền sư Tánh Hoạt Huệ Cảnh dựng giữa thế kỷ 19. Từ thảo am ấy mà có một tổ đình, và các chùa trong sơn môn tìm về Tường Vân là tìm về căn am đầu tiên.

ISơn Môn Tường Vân Trong Dòng Liễu Quán

Dòng Liễu Quán khởi từ Tổ đình Thiền Tôn, nơi Tổ Liễu Quán đặt bài kệ bốn mươi tám chữ. Qua hơn một trăm năm, dòng ấy chia thành nhiều chi, mỗi chi gắn với một ngôi chùa mà các đời sau coi là tổ đình của mình. Tường Vân là một chi như thế. Người khai sơn là Thiền sư Tánh Hoạt Huệ Cảnh, hiệu Đức Giai, họ Lê, người làng La Chữ, sinh năm 1798. Theo trang Gia Đình Phật Tử, ngài xuất gia với Hòa thượng Phổ Tịnh ở chùa Báo Quốc. Ngài viên tịch năm 1866.

Pháp danh của ngài mang chữ Tánh, chữ thứ năm trong kệ Liễu Quán Thật tế đại đạo, Tánh hải thanh trừng. Đếm từ chữ Thật của Tổ Liễu Quán là đời 35 Lâm Tế, chữ Tánh rơi vào đời 39. Các vị kế thế ở Tường Vân sau ngài mang tiếp các chữ Hải, Thanh, Trừng, đi đúng thứ tự trong câu kệ thứ hai.

Theo sử liệu

Về đời truyền thừa của Tổ khai sơn, các nguồn vênh nhau. Tính theo chữ trong kệ thì chữ Tánh là đời 39 Lâm Tế. Cổng du lịch Huế lại ghi ngài là đời 38. Chúng tôi ghi cả hai và để quý vị thấy chỗ lệch. Phép đếm theo kệ là phép người trong dòng vẫn dùng, nhưng chúng tôi không có văn bản gốc của chùa để đối chiếu thêm.

Bốn đời đầu tại Tường Vân, pháp danh đi đúng thứ tự chữ trong kệ Liễu Quán. Nguồn: Danh sách và năm theo trang Gia Đình Phật Tử, chữ trong kệ theo bài kệ Liễu Quán..
Chữ trong kệĐời Lâm TếVị kế thế ở Tường Vân
Tánh39Tổ khai sơn Tánh Hoạt Huệ Cảnh, 1798 tới 1866
Hải40Hải Toàn Linh Cơ, trụ trì từ năm 1866
Thanh41Thanh Thái Phước Chỉ, 1858 tới 1926, trụ trì từ năm 1894
Trừng42Hòa thượng Tịnh Khiết, 1891 tới 1973, đời 8 dòng Liễu Quán, trụ trì từ năm 1935
Chỗ hay hiểu lầm

Chữ tổ đình dễ khiến người ta tưởng Tường Vân là nơi khởi đầu của một dòng thiền. Không phải. Ở Huế, chữ tổ đình được dùng cho ngôi chùa đứng đầu một sơn môn, nơi đặt bàn thờ và tháp các đời tổ của sơn môn ấy. Gốc của cả dòng Liễu Quán là Thiền Tôn. Tường Vân là tổ đình của sơn môn Tường Vân, một chi trong dòng, nẩy ra từ mạch thầy trò ở chùa Báo Quốc. Hai chữ tổ đình ở hai nơi chỉ hai tầng khác nhau của cùng một cây phả hệ.

IITừ Thảo Am Đến Tổ Đình

Năm khai sơn Tường Vân là chỗ các nguồn vênh nhau rõ nhất. Cổng du lịch Huế ghi năm 1843, đời Thiệu Trị. Trang phatgiao.org.vn ghi năm 1850, và bài khảo văn bia chùa đăng trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển cũng ghi Tổ Huệ Cảnh lập thảo am cạnh núi Dẫn Khiêm năm 1850. Trang Gia Đình Phật Tử ghi năm 1869, đời Tự Đức, là năm am được hợp nhất và thành chùa. Có thể các con số ấy ứng với những bước khác nhau của cùng một quá trình, nhưng chúng tôi không đủ tư liệu để khẳng định nên ghi cả ba.

  • 1843 hoặc 1850Dựng thảo am Tường Vân
    Tổ Tánh Hoạt Huệ Cảnh dựng am tu trên vùng đồi Dương Xuân. Cổng du lịch Huế ghi năm 1843 và gọi am là Đông Am, văn bia và phatgiao.org.vn ghi năm 1850.
  • 1866Tổ khai sơn viên tịch
    Tổ Huệ Cảnh viên tịch. Đệ tử là Hòa thượng Hải Toàn Linh Cơ kế thế trụ trì.
  • 1869 hoặc 1881Hợp nhất với chùa Từ Quang
    Hòa thượng Linh Cơ hợp nhất am Tường Vân với chùa Từ Quang. Một bài trên trang Gia Đình Phật Tử ghi năm 1869, một bài khác trên cùng trang ghi năm 1881 và nói chùa dời về chỗ hiện nay.
  • 1881Lợp ngói
    Chùa được chuyển từ mái tranh sang mái ngói.
  • 1890 tới 1891Trùng tu lớn
    Trùng tu lần nữa và làm thêm điện phía sau, theo văn bia.
  • 1892Dựng bia trùng tu
    Bia năm Thành Thái thứ 4 do Tuy Lý Vương Miên Trinh, pháp danh Hải Tường, soạn văn, ghi lại việc khai sơn và các lần trùng tu.
  • 1972Đại trùng tu
    Đợt đại trùng tu định hình phần lớn quy mô chùa như hiện nay.
  • 2013 tới 2015Trùng tu gần nhất
    Khởi công ngày 31 tháng 5 năm 2013, khánh thành ngày 12 tháng 3 năm 2015. Đợt này đúc mới 21 pho tượng thếp vàng và tạc 18 pho tượng La Hán bằng đá.

Hai tấm bia xưa còn ở chùa ghi các lần trùng tu cuối thế kỷ 19. Tấm bia năm 1892 có giá trị riêng vì người soạn là Tuy Lý Vương Miên Trinh, một nhà thơ lớn trong hoàng tộc Nguyễn đồng thời là một cư sĩ quy y, pháp danh Hải Tường. Chữ Hải trong pháp danh ấy trùng với chữ đời 40 trong kệ Liễu Quán, cùng chữ đầu với pháp danh Hải Toàn của Hòa thượng Linh Cơ.

IIINgôi Chùa Chữ Khẩu

Tường Vân dựng theo lối chữ khẩu, kiểu bố cục tiêu biểu của chùa Huế truyền thống. Bốn khối nhà là chánh điện ở trước, nhà hậu tổ ở sau, tăng đườngtrai đường ở hai bên, cùng vây quanh một sân trong. Đứng giữa sân nhìn ra bốn phía, quý vị sẽ thấy mọi sinh hoạt của một ngôi chùa đều nằm trong tầm mắt: lễ Phật ở trước, thờ tổ ở sau, ăn ở hai bên.

Lối vào tiền đường có bảy bậc cấp, hai bên đặt linh vật đá. Các nguồn tả khác nhau, cổng du lịch Huế gọi là sư tử đá, trang Gia Đình Phật Tử gọi là voi đá. Mái chánh điện chồng lớp, đầu đao cong, bờ nóc đắp rồng. Chánh điện thờ đức Phật A Di Đà cùng các vị Bồ Tát. Nhà hậu tổ đặt bàn thờ các đời tổ của sơn môn.

Chánh điện

Khối nhà trước của chữ khẩu, lên bằng bảy bậc cấp. Thờ đức Phật A Di Đà ở chính giữa, Quan Thế Âm cùng các vị Bồ Tát hai bên.

Nhà hậu tổ

Khối nhà sau, đặt bàn thờ Tổ khai sơn Huệ Cảnh và các đời kế thế. Văn bia ghi điện phía sau được làm thêm trong đợt trùng tu 1890 tới 1891.

Tăng đường và trai đường

Hai dãy nhà hai bên, là chỗ ở và chỗ thọ trai của chư tăng. Hai dãy này khép sân trong lại thành một khối kín.

Hai tấm bia

Bia ghi các lần trùng tu thế kỷ 19, trong đó có bia năm 1892 do Tuy Lý Vương soạn văn.

Lối chữ khẩu không phải chỉ để đẹp. Nó là hình thức của một đời sống: tăng chúng ở, ăn, tụng kinh, học giới trong một khuôn khép kín, không phải bước ra ngoài. Ở Huế, những ngôi chùa trên đồi thường giữ lối này tốt hơn chùa trong phố, vì có đất rộng và không bị đường sá cắt ngang. Tường Vân là một ví dụ còn nguyên vẹn.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong văn bản của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc được không ghi hướng chính xác của chùa, cũng không ghi Tổ Huệ Cảnh chọn đất theo phép nào. Chúng tôi chỉ đọc thế đất chung quanh.

Thế đất và hướng

Văn bia ghi thảo am được lập cạnh núi Dẫn Khiêm, trong vùng gò đồi của làng Dương Xuân. Đây là dải đồi thấp phía tây nam Huế, nơi đất cao ráo, rừng thông che phủ, và từ thế kỷ 19 đã có nhiều ngôi chùa cùng am thất mọc lên sát nhau. Chùa Từ Hiếu chỉ cách Tường Vân chừng 600 mét trên cùng vùng đồi ấy.

Trong phép xem đất, một vùng đồi thấp liền nhau như Dương Xuân được coi là nơi khí tụ mà không gắt. Núi không cao đến mức che khuất, đất không trũng đến mức đọng nước. Các gò đồi nối nhau làm chỗ dựa phía sau và hai bên, còn khe suối chảy về sông Hương làm mạch dẫn phía trước.

Việc nhiều chùa chọn cùng một vùng đồi cũng có lý của nó. Khi một nơi đã được các bậc tu hành trước chọn làm chỗ tu, người sau dễ tin nơi ấy hợp đạo, và dần dần cả vùng mang tiếng là đất tu. Dương Xuân ở thế kỷ 19 là như thế.

Sau cùng là bố cục chữ khẩu trên nền đồi. Sân trong được vây bốn phía là một vùng khí kín. Với một ngôi chùa sinh ra từ một căn am tu một mình, cái kín ấy giữ được tinh thần ẩn tu của buổi đầu, dù chùa nay đã lớn.

VLễ Trong Năm Và Nếp Sơn Môn

Là tổ đình của một sơn môn, Tường Vân có những ngày lễ mà tăng ni các chùa trong sơn môn cùng về. Các nguồn chúng tôi đọc được không ghi ngày giỗ Tổ khai sơn Huệ Cảnh theo âm lịch, vì vậy chúng tôi không ghi một ngày cụ thể. Các lễ còn lại theo nếp chung của chùa Bắc Tông ở Huế.

Các lễ chính trong năm tại chùa, tính theo âm lịch. Nguồn: Theo nếp chung của chùa Bắc Tông ở Huế. Các nguồn đã tra không ghi ngày giỗ Tổ khai sơn..
Ngày âm lịchLễNội dung
Theo lịch của sơn mônGiỗ các đời TổTăng ni trong sơn môn về nhà hậu tổ dâng hương các đời Tổ, trong đó có Tổ khai sơn Huệ Cảnh.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Phật đản sinh.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học theo luật.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ khép lại mùa an cư.

Nếp của một tổ đình sơn môn khác nếp của một chùa làng. Chùa làng mở ra cho dân quanh vùng, còn tổ đình sơn môn trước hết là chỗ tăng ni trong sơn môn về thọ giáo, về an cư, và về khi thầy tổ có lễ. Tường Vân giữ nếp ấy trong lối kiến trúc khép kín của mình.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Dương Xuân cũ, gần đường Trần Thái Tông, phường Thủy Xuân, thành phố Huế
Đường tới
Chùa ở vùng đồi làng Dương Xuân cũ, gần đường Trần Thái Tông, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Từ đường Điện Biên Phủ đi về phía tây chừng hai cây số, chùa nằm cách chùa Từ Hiếu chừng 600 mét.
Toạ độ
16.4461, 107.5775
Khi tới nơi

Tường Vân là nơi tu học đang hoạt động, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà hậu tổ, đi nhẹ nói khẽ trong sân trong vì bốn phía đều là chỗ ở và chỗ tu của chư tăng. Tăng đường và trai đường không phải chỗ tham quan, xin đừng tự ý bước vào. Hai tấm bia cổ xin đứng ngoài mà đọc, không chạm tay.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Tường Vân

Contribute photos, information or video for Tuong Van Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tổ đình Tường Vân thuộc dòng thiền nào

Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng Liễu Quán. Tường Vân là tổ đình của sơn môn Tường Vân, một chi của dòng Liễu Quán nẩy ra từ mạch thầy trò ở chùa Báo Quốc. Gốc của cả dòng là Tổ đình Thiền Tôn.

Chùa Tường Vân Huế được xây năm nào

Các nguồn ghi khác nhau. Cổng du lịch Huế ghi năm 1843, phatgiao.org.vn và văn bia ghi năm 1850, trang Gia Đình Phật Tử ghi năm 1869. Chùa trùng tu các năm 1881, 1891, 1904, 1972, 1992, gần nhất từ năm 2013 tới năm 2015.

Ai khai sơn chùa Tường Vân

Thiền sư Tánh Hoạt Huệ Cảnh, hiệu Đức Giai, họ Lê, người làng La Chữ, sinh năm 1798, xuất gia ở chùa Báo Quốc, viên tịch năm 1866. Ngài dựng thảo am trên đồi Dương Xuân, về sau thành tổ đình.

Chùa Tường Vân có gì đặc biệt về kiến trúc

Chùa giữ lối chữ khẩu của chùa Huế truyền thống: chánh điện, nhà hậu tổ, tăng đường và trai đường vây quanh một sân trong. Chùa còn hai tấm bia cổ, trong đó có bia năm 1892 do Tuy Lý Vương soạn văn.

Chùa Tường Vân cách chùa Từ Hiếu bao xa

Chừng 600 mét, cùng trên vùng đồi Dương Xuân thuộc phường Thủy Xuân. Hai chùa thuộc hai sơn môn khác nhau, mỗi nơi có mạch thầy tổ và tổ đường riêng. Quý vị có thể đi bộ giữa hai nơi theo đường nhỏ trong vùng đồi thông.

Đọc Tiếp