VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Kinh Khởi Đầu Của Chính Thống Giáo: Lạy Vua Thiên Quốc, Ba Lần Thánh Và Kinh Lạy Cha

Τρισάγιον · Các kinh Tam Thánh, Trisagion Prayers, Lạy Vua Thiên Quốc, Ba Lần Thánh, phần khởi đầu thường lệ của các giờ kinh

Toàn văn Hy Lạp theo sách Horologion, phiên âm theo lối đọc Hy Lạp hiện nay, dịch nghĩa tiếng Việt và tiếng Anh của thư viện, giải nghĩa từng lời

Thuộc đạo
Chính Thống Giáo
Niên đại
Lạy Cha thế kỷ 1, Ba Lần Thánh thế kỷ 5, cả chuỗi thành nếp trong sách giờ kinh Byzantine
Các lời kinh trong chuỗi có tuổi khác nhau. Kinh Lạy Cha có trong Tin Mừng Mátthêu và Luca, thế kỷ thứ nhất. Thánh ca Ba Lần Thánh Ἅγιος ὁ Θεός được thánh Gioan Đamascênô kể là có từ thời tổng giám mục Proclus ở Constantinople, thế kỷ thứ năm, và được hát tại Công đồng Chalcedon. Bài Βασιλεῦ οὐράνιε vốn là một bài thánh ca của lễ Ngũ Tuần, không rõ tác giả. Việc ghép các lời ấy thành một chuỗi mở đầu mọi giờ kinh là nếp của các sách giờ kinh Byzantine, và sử liệu không cho định được một năm cụ thể.
Độ dài
28 câu, 209 chữ Hy Lạp
Thư viện chia toàn văn thành 28 câu theo từng lời kinh, lời dài tách mảnh. Đếm theo khoảng trắng trên chính bản in ở mục Toàn Văn, kể cả hai lần lặp lời Vinh Danh, ba lần Kyrie eleison viết đủ và lời vinh tụng của linh mục, không kể chữ chỉ dẫn đọc ba lần, được 209 chữ. Khi đọc thật thì Ba Lần Thánh được lặp ba lần nên số chữ phát âm nhiều hơn.
Thường tụng khi
Mở đầu kinh sáng, kinh tối ở nhà trước góc ikon và mở đầu các giờ kinh ở nhà thờ, tu viện, hằng ngày

ITrước Khi Đọc

Người Chính Thống không bước thẳng vào một giờ kinh. Dù là kinh sáng của một bà mẹ đứng trước góc ikon trong căn bếp, hay giờ kinh nửa đêm của các đan sĩ trên đỉnh đá Meteora, lời đầu tiên cất lên hầu như luôn là cùng một chuỗi ngắn: một lời gọi Thánh Thần, ba lần tung hô Thiên Chúa là Đấng Thánh, một lời xin Ba Ngôi thương xót, rồi kinh Lạy Cha. Đọc chậm chừng hai phút. Người trong đạo thuộc chuỗi này trước cả khi biết đọc chữ.

Trong sách kinh tiếng Anh, chuỗi này quen được gọi là Trisagion Prayers, tức các kinh Ba Lần Thánh, lấy tên theo lời kinh đứng giữa, Ἅγιος ὁ Θεός, Ἅγιος Ἰσχυρός, Ἅγιος Ἀθάνατος. Sách kinh tiếng Slav gọi là phần khởi đầu thường lệ, обычное начало. Thư viện gọi chung là kinh khởi đầu, vì đó đúng là vai trò của nó: cánh cửa mở vào mọi giờ kinh trong ngày.

Chuỗi gồm các phần sau, theo thứ tự in trong sách Horologion Hy Lạp. Mở đầu là lời Vinh danh Chúa, rồi bài Lạy Vua Thiên Quốc Βασιλεῦ οὐράνιε gọi Thánh Thần, rồi Ba Lần Thánh đọc ba lần, lời Vinh Danh Ba Ngôi, lời xin Ba Ngôi Chí Thánh Παναγία Τριάς, ba lần Kyrie eleison, lời Vinh Danh thêm một lần, và cuối cùng là kinh Lạy Cha Πάτερ ἡμῶν. Khi có linh mục, kinh Lạy Cha được khép bằng một lời vinh tụng dâng Ba Ngôi do chính linh mục đọc.

Trang này trình bày trọn nguyên văn Hy Lạp theo sách Horologion, phiên âm Latinh theo lối người Hy Lạp đọc ngày nay, bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh của thư viện, phần giải nghĩa từng lời, rồi hai mục riêng: Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu cùng chuỗi komboskini, và chỗ kinh Lạy Cha kết bằng lời vinh tụng. Thư viện giải nghĩa và tả lại, không hướng dẫn quý vị làm theo.

Theo sử liệu

Horologion, tiếng Hy Lạp Ὡρολόγιον, nghĩa đen là sách giờ, là cuốn sách phụng vụ chứa các phần cố định của những giờ kinh trong ngày theo lệ Byzantine: kinh chiều, kinh tối, kinh nửa đêm, kinh sáng và bốn giờ kinh ban ngày gọi là Giờ Thứ Nhất, Thứ Ba, Thứ Sáu và Thứ Chín. Cuốn sách lớn lên dần trong các tu viện ở Palestine và Constantinople suốt thời trung đại, và các phần của nó có tuổi rất khác nhau.

Chuỗi kinh khởi đầu là ví dụ rõ nhất về sự chồng lớp ấy. Kinh Lạy Cha có trong Tin Mừng Mátthêu chương 6 và Luca chương 11, thế kỷ thứ nhất. Thánh ca Ba Lần Thánh được thánh Gioan Đamascênô, trong sách Trình Bày Chính Xác Đức Tin Chính Thống quyển 3 chương 10, kể là có từ thời tổng giám mục Proclus ở Constantinople, thế kỷ thứ năm, và được Công đồng Chalcedon năm 451 hát lên. Bài Lạy Vua Thiên Quốc là một bài thánh ca của kinh chiều lễ Ngũ Tuần, chưa ai định được tác giả. Lời xin Ba Ngôi Chí Thánh cũng không rõ gốc.

Điều chắc chắn là trong các sách Horologion in bằng tiếng Hy Lạp mà giáo hội Hy Lạp dùng hôm nay, chuỗi này đứng ở đầu hầu hết các giờ kinh, và các bản dịch sang tiếng Slav, tiếng Rumani, tiếng Ả Rập giữ đúng thứ tự ấy.

IIToàn Văn Chuỗi Kinh Khởi Đầu

Nguyên văn theo sách Horologion Hy Lạp, đối chiếu bản trên glt.goarch.org và bản của Đại Tu viện Panagia ở Samos, phiên âm theo lối đọc Hy Lạp hiện nay, cột Việt và cột Anh do thư viện dịch.
CâuNguyên văn Hy LạpPhiên âm theo lối đọc Hy Lạp hiện nayTiếng ViệtTiếng Anh
1Δόξα σοι, ὁ Θεὸς ἡμῶν, δόξα σοι.Dhóxa si, o Theós imón, dhóxa si.Vinh quang dâng Chúa, lạy Thiên Chúa của chúng con, vinh quang dâng Chúa.Glory to you, our God, glory to you.
2Βασιλεῦ οὐράνιε, Παράκλητε, τὸ Πνεῦμα τῆς ἀληθείας,Vasiléf uránie, Paráklite, to Pnévma tis alithías,Lạy Vua Thiên Quốc, Đấng An Ủi, Thần Khí của sự thật,King of heaven, Paraclete, the Spirit of truth,
3ὁ πανταχοῦ παρὼν καὶ τὰ πάντα πληρῶν,o pandakhú parón ke ta pánda plirón,Đấng có mặt ở mọi nơi và làm đầy mọi sự,who are present in every place and fill all things,
4ὁ θησαυρὸς τῶν ἀγαθῶν καὶ ζωῆς χορηγός,o thisavrós ton aghathón ke zoís khorighós,kho tàng của mọi điều tốt lành và Đấng ban sự sống,the treasury of good things and the giver of life,
5ἐλθὲ καὶ σκήνωσον ἐν ἡμῖν, καὶ καθάρισον ἡμᾶς ἀπὸ πάσης κηλῖδος,elthé ke skínoson en imín, ke kathárison imás apó pásis kilídhos,xin hãy đến và ngự trong chúng con, xin tẩy sạch chúng con khỏi mọi vết nhơ,come and make your dwelling in us, and cleanse us from every stain,
6καὶ σῶσον, Ἀγαθέ, τὰς ψυχὰς ἡμῶν.ke sóson, Aghathé, tas psikhás imón.và xin cứu linh hồn chúng con, lạy Đấng Nhân Lành.and save our souls, O Good One.
7Ἅγιος ὁ Θεός, Ἅγιος Ἰσχυρός, Ἅγιος Ἀθάνατος, ἐλέησον ἡμᾶς. (ἐκ τρίτου)Áyios o Theós, Áyios Iskhirós, Áyios Athánatos, eléison imás. (ek trítu)Thánh thay Thiên Chúa, Thánh thay Đấng Quyền Năng, Thánh thay Đấng Bất Tử, xin thương xót chúng con. (đọc ba lần)Holy God, Holy Strong One, Holy Deathless One, have mercy on us. (three times)
8Δόξα Πατρὶ καὶ Υἱῷ καὶ Ἁγίῳ Πνεύματι.Dhóxa Patrí ke Ió ke Ayío Pnévmati.Vinh quang dâng Cha và Con và Thánh Thần.Glory to the Father and to the Son and to the Holy Spirit.
9Καὶ νῦν καὶ ἀεὶ καὶ εἰς τοὺς αἰῶνας τῶν αἰώνων. Ἀμήν.Ke nin ke aeí ke is tus eónas ton eónon. Amín.Cả bây giờ, mãi mãi và cho tới muôn muôn đời. Amen.Now and always and to the ages of ages. Amen.
10Παναγία Τριάς, ἐλέησον ἡμᾶς.Panayía Triás, eléison imás.Lạy Ba Ngôi Chí Thánh, xin thương xót chúng con.All-holy Trinity, have mercy on us.
11Κύριε, ἱλάσθητι ταῖς ἁμαρτίαις ἡμῶν.Kírie, ilásthiti tes amartíes imón.Lạy Chúa, xin rộng lòng khoan thứ tội lỗi chúng con.Lord, be gracious toward our sins.
12Δέσποτα, συγχώρησον τὰς ἀνομίας ἡμῖν.Dhéspota, sinkhórison tas anomías imín.Lạy Chủ Tể, xin tha cho chúng con những điều trái luật chúng con đã làm.Master, pardon us our lawless deeds.
13Ἅγιε, ἐπίσκεψαι καὶ ἴασαι τὰς ἀσθενείας ἡμῶν, ἕνεκεν τοῦ ὀνόματός σου.Áyie, epískepse ke íase tas asthenías imón, éneken tu onomátos su.Lạy Đấng Thánh, xin đến thăm và chữa lành những yếu đuối của chúng con, vì danh Ngài.Holy One, visit and heal our weaknesses, for the sake of your name.
14Κύριε, ἐλέησον. Κύριε, ἐλέησον. Κύριε, ἐλέησον.Kírie, eléison. Kírie, eléison. Kírie, eléison.Lạy Chúa, xin thương xót. Lạy Chúa, xin thương xót. Lạy Chúa, xin thương xót.Lord, have mercy. Lord, have mercy. Lord, have mercy.
15Δόξα Πατρὶ καὶ Υἱῷ καὶ Ἁγίῳ Πνεύματι.Dhóxa Patrí ke Ió ke Ayío Pnévmati.Vinh quang dâng Cha và Con và Thánh Thần.Glory to the Father and to the Son and to the Holy Spirit.
16Καὶ νῦν καὶ ἀεὶ καὶ εἰς τοὺς αἰῶνας τῶν αἰώνων. Ἀμήν.Ke nin ke aeí ke is tus eónas ton eónon. Amín.Cả bây giờ, mãi mãi và cho tới muôn muôn đời. Amen.Now and always and to the ages of ages. Amen.
17Πάτερ ἡμῶν ὁ ἐν τοῖς οὐρανοῖς, ἁγιασθήτω τὸ ὄνομά σου,Páter imón o en tis uranís, ayiasthíto to ónomá su,Lạy Cha chúng con, Đấng ngự trên các tầng trời, nguyện danh Cha được tôn thánh,Our Father, who are in the heavens, let your name be made holy,
18ἐλθέτω ἡ βασιλεία σου,elthéto i vasilía su,nguyện Nước Cha đến,let your kingdom come,
19γενηθήτω τὸ θέλημά σου, ὡς ἐν οὐρανῷ, καὶ ἐπὶ τῆς γῆς.yenithíto to thélimá su, os en uranó, ke epí tis yis.nguyện ý Cha được nên, như ở trên trời, cũng vậy ở dưới đất.let your will come to pass, as in heaven, so also upon the earth.
20Τὸν ἄρτον ἡμῶν τὸν ἐπιούσιον δὸς ἡμῖν σήμερον,Ton árton imón ton epiúsion dhos imín símeron,Xin cho chúng con hôm nay bánh nuôi sống chúng con,Give us today the bread that sustains us,
21καὶ ἄφες ἡμῖν τὰ ὀφειλήματα ἡμῶν,ke áfes imín ta ofilímata imón,và tha cho chúng con những món nợ của chúng con,and forgive us our debts,
22ὡς καὶ ἡμεῖς ἀφίεμεν τοῖς ὀφειλέταις ἡμῶν,os ke imís afíemen tis ofilétes imón,như chúng con cũng tha cho những người mắc nợ chúng con,as we also forgive those who are in debt to us,
23καὶ μὴ εἰσενέγκῃς ἡμᾶς εἰς πειρασμόν,ke mi isenéngis imás is pirasmón,và xin đừng đưa chúng con vào cơn thử thách,and do not bring us into temptation,
24ἀλλὰ ῥῦσαι ἡμᾶς ἀπὸ τοῦ πονηροῦ.allá ríse imás apó tu poniró.nhưng xin giải thoát chúng con khỏi sự dữ.but rescue us from evil.
25Ὅτι σοῦ ἐστιν ἡ βασιλεία καὶ ἡ δύναμις καὶ ἡ δόξα,Óti su estin i vasilía ke i dhínamis ke i dhóxa,(Linh mục đọc) Vì Nước, quyền năng và vinh quang đều thuộc về Ngài,(The priest) For yours is the kingdom and the power and the glory,
26τοῦ Πατρὸς καὶ τοῦ Υἱοῦ καὶ τοῦ Ἁγίου Πνεύματος,tu Patrós ke tu Iú ke tu Ayíu Pnévmatos,là Cha và Con và Thánh Thần,of the Father and of the Son and of the Holy Spirit,
27νῦν καὶ ἀεὶ καὶ εἰς τοὺς αἰῶνας τῶν αἰώνων.nin ke aeí ke is tus eónas ton eónon.bây giờ, mãi mãi và cho tới muôn muôn đời.now and always and to the ages of ages.
28Ἀμήν.Amín.Amen.Amen.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới lấy mười một chỗ then chốt của chuỗi kinh ra giảng kỹ hơn, theo đúng thứ tự đọc. Trước khi vào, xin nói gọn về cột phiên âm. Tiếng Hy Lạp trong sách kinh là tiếng Hy Lạp Koine và Byzantine, viết theo lối nhiều dấu, nhưng người Hy Lạp hôm nay đọc bằng giọng hiện đại. Thư viện ghi theo lối đọc ấy, không theo lối phục dựng cổ điển của trường học phương Tây. Cụ thể: β đọc là v, δ ghi là dh, đọc như th trong chữ the của tiếng Anh, γ ghi là gh trước a, o, u và ghi là y trước các âm i, e, χ ghi là kh, η, ι, υ, ει, οι đều đọc là i, αι đọc là e, ου đọc là u, αυ, ευ đọc là av, ev hay af, ef tùy âm đứng sau. Dấu hơi thở trên nguyên âm đầu chữ không còn được phát âm. Dấu sắc trong cột phiên âm đánh vào âm tiết mang trọng âm, để quý vị đọc cho đúng nhịp.

Βασιλεῦ οὐράνιε, Παράκλητε, τὸ Πνεῦμα τῆς ἀληθείας
Vasiléf uránie, Paráklite, to Pnévma tis alithías

Bài Lạy Vua Thiên Quốc là lời duy nhất trong chuỗi hướng riêng tới Thánh Thần. Nó vốn là một bài thánh ca của kinh chiều lễ Ngũ Tuần, về sau được kéo lên đứng đầu mọi giờ kinh. Theo giáo nghĩa, đặt nó ở đầu có nghĩa là không ai tự mình cầu nguyện được nếu Thánh Thần không đến trước.

Chữ Παράκλητος, Paráklitos, lấy từ Tin Mừng Gioan chương 14 tới 16, nơi Chúa Giêsu hứa sai một Đấng Paraclete đến. Nghĩa gốc là người được gọi đến bên cạnh, dùng trong tòa án để chỉ người đứng bên bênh vực. Các bản dịch hiểu khác nhau: có bản dịch là Đấng An Ủi, có bản dịch là Đấng Bào Chữa, có bản dịch là Đấng Trợ Giúp, và nhiều bản giữ nguyên chữ Paraclete. Thư viện chọn Đấng An Ủi theo cách hiểu phổ biến trong các bài giảng Hy Lạp, và ghi rõ rằng chữ gốc rộng hơn.

ὁ πανταχοῦ παρὼν καὶ τὰ πάντα πληρῶν, ὁ θησαυρὸς τῶν ἀγαθῶν καὶ ζωῆς χορηγός
o pandakhú parón ke ta pánda plirón, o thisavrós ton aghathón ke zoís khorighós

Bốn danh xưng xếp thành hai cặp. Cặp đầu nói Thánh Thần ở khắp nơi và làm đầy mọi sự, gần với câu của sách Khôn Ngoan chương 1 câu 7 trong bản Bảy Mươi, rằng thần khí của Chúa đầy khắp mặt đất. Cặp sau nói Ngài là kho tàng của các điều lành và là Đấng ban sự sống.

Chữ χορηγός, khorighós, có một lai lịch thú vị. Ở Athens cổ, khorēgos là người giàu đứng ra chịu tiền cho một đội hợp xướng trong các hội diễn kịch. Về sau chữ này mang nghĩa rộng là người cấp phát, người chu cấp đầy đủ. Gọi Thánh Thần là khorighós của sự sống tức là nói sự sống là món được ban cho, không phải món con người tự có. Chỗ này ăn khớp với Kinh Tin Kính, nơi Thánh Thần được gọi là τὸ Ζωοποιόν, Đấng ban sự sống.

ἐλθὲ καὶ σκήνωσον ἐν ἡμῖν
elthé ke skínoson en imín

Động từ σκηνόω nghĩa đen là dựng lều. Nó là chữ mà Tin Mừng Gioan chương 1 câu 14 dùng để nói Ngôi Lời đã làm người và ἐσκήνωσεν ἐν ἡμῖν, dựng lều giữa chúng ta. Người đọc Hy Lạp nghe ngay tiếng vọng ấy, và cả tiếng vọng xa hơn về chiếc lều hội ngộ của dân Israel trong sa mạc.

Ἅγιος ὁ Θεός, Ἅγιος Ἰσχυρός, Ἅγιος Ἀθάνατος, ἐλέησον ἡμᾶς
Áyios o Theós, Áyios Iskhirós, Áyios Athánatos, eléison imás

Đây là lời đặt tên cho cả chuỗi. Ba chữ Ἅγιος vọng lại lời các thiên thần trong sách Isaia chương 6 câu 3, thánh, thánh, thánh. Hai danh xưng Ἰσχυρός, Đấng mạnh, và Ἀθάνατος, Đấng không chết, có người đem so với Thánh Vịnh 41 theo bản Bảy Mươi, nơi linh hồn khát khao Thiên Chúa là Đấng mạnh, Đấng hằng sống.

Chỗ các nhà giải thích hiểu khác nhau là lời kinh hướng về ai. Thánh Gioan Đamascênô, trong sách đã dẫn, dạy rằng ba chữ Thánh hướng về Ba Ngôi, mỗi lần một ngôi, và lời kết xin thương xót gom cả ba vào một. Ở thế kỷ thứ năm cũng đã có người đọc bài này như lời hướng riêng về Chúa Kitô, và thánh Gioan Đamascênô viết chương sách ấy chính để bác một lời thêm vào theo hướng đó. Người Chính Thống đọc bài này theo cách hiểu Ba Ngôi.

Trong sách kinh, bài được in một lần với chỉ dẫn ἐκ τρίτου, tới lần thứ ba, hay ký hiệu γ΄, tức đọc ba lần. Mỗi lần đọc, người đọc thường làm dấu thánh giá và cúi mình.

Δόξα Πατρὶ καὶ Υἱῷ καὶ Ἁγίῳ Πνεύματι. Καὶ νῦν καὶ ἀεὶ
Dhóxa Patrí ke Ió ke Ayío Pnévmati. Ke nin ke aeí

Lời này quen được gọi là lời Vinh Danh nhỏ. Trong sách Hy Lạp nó hay bị chia làm hai nửa: nửa đầu bắt bằng chữ Δόξα, nửa sau bắt bằng chữ Καὶ νῦν. Vì câu quá quen, các sách in tắt thành Δόξα... Καὶ νῦν..., và cả hai bản đối chiếu đều in tắt như thế. Thư viện viết đủ để quý vị thấy trọn lời.

Việc chia hai nửa có lý do thực tế. Trong các giờ kinh lớn, giữa nửa Δόξα và nửa Καὶ νῦν thường chen một bài thánh ca, và bài chen sau chữ Καὶ νῦν thường là bài kính Đức Mẹ Thiên Chúa. Người quen đi nhà thờ nghe hai chữ Καὶ νῦν là biết sắp tới bài hát về Đức Mẹ.

Chữ εἰς τοὺς αἰῶνας τῶν αἰώνων nghĩa đen là cho tới các thời đại của các thời đại, một lối nói Hebrew đưa vào tiếng Hy Lạp để chỉ điều không có hồi kết. Thư viện dịch là cho tới muôn muôn đời.

Παναγία Τριάς, ἐλέησον ἡμᾶς. Κύριε, ἱλάσθητι... Δέσποτα, συγχώρησον... Ἅγιε, ἐπίσκεψαι...
Panayía Triás, eléison imás. Kírie, ilásthiti... Dhéspota, sinkhórison... Áyie, epískepse...

Lời kinh này có bốn vế. Vế đầu gọi chung Ba Ngôi Chí Thánh. Ba vế sau mỗi vế gọi một danh xưng: Κύριε, lạy Chúa, Δέσποτα, lạy Chủ Tể, Ἅγιε, lạy Đấng Thánh. Và mỗi vế xin một điều: khoan thứ tội lỗi, tha những điều trái luật, thăm và chữa lành những yếu đuối.

Chỗ này các nhà giải thích hiểu khác nhau. Một cách hiểu phổ biến trong sách giáo lý Chính Thống cho rằng ba danh xưng ứng với ba ngôi: Chúa là Chúa Cha, Chủ Tể là Chúa Con, Đấng Thánh là Thánh Thần. Một cách hiểu khác cho rằng cả ba danh xưng đều hướng về trọn Ba Ngôi, và việc lặp ba lần chỉ để nhấn mạnh. Cách thứ ba để ý tới thứ tự các lời xin, đi từ tội lỗi, qua sự trái luật, tới bệnh tật, như ba tầng của một vết thương. Bản văn không tự nói rõ, nên thư viện ghi cả ba.

Có một chi tiết ngữ pháp đáng biết. Vế thứ ba viết τὰς ἀνομίας ἡμῖν với ἡμῖν ở cách tặng, chứ không phải ἡμῶν ở cách sở hữu như hai vế kia. Nghĩa sát chữ là tha cho chúng con các điều trái luật, và cả hai bản đối chiếu đều giữ đúng chữ ἡμῖν.

Κύριε, ἐλέησον
Kírie, eléison

Hai chữ này là lời kinh được lặp nhiều nhất trong toàn bộ phụng vụ Byzantine. Ở đây nó được đọc ba lần. Ở chỗ khác trong cùng sách Horologion, nó được đọc mười hai lần hay bốn mươi lần liền: bản Kinh Tối trên glt.goarch.org ghi rõ các chỉ dẫn ιβ΄ và μ΄, tức mười hai và bốn mươi.

Động từ ἐλεέω nghĩa là thương xót, động lòng trắc ẩn với người đang khốn. Có một cách giải thích dân gian hay được nhắc, cho rằng chữ ἔλεος, lòng thương xót, có họ với chữ ἔλαιον, dầu ô liu, nên xin thương xót là xin được xoa dầu chữa lành. Hai chữ phát âm gần nhau, và các nhà giảng thuyết hay dùng sự gần gũi ấy để giảng, nhưng giới ngữ học không coi đây là cùng một gốc. Thư viện ghi lại để quý vị phân biệt chỗ nào là lời giảng, chỗ nào là từ nguyên.

Πάτερ ἡμῶν ὁ ἐν τοῖς οὐρανοῖς
Páter imón o en tis uranís

Kinh Lạy Cha trong sách Horologion theo đúng bản Tin Mừng Mátthêu chương 6 câu 9 tới 13, theo dòng văn bản Byzantine mà giáo hội Hy Lạp đọc xưa nay. Chữ trời ở đây là số nhiều, ἐν τοῖς οὐρανοῖς, nghĩa sát chữ là trong các tầng trời, theo lối nói Hebrew vốn chỉ dùng số nhiều cho chữ trời. Thư viện giữ số nhiều trong bản dịch.

So với bản mà nhiều ấn bản Tân Ước hiện đại in, bản trong sách kinh có hai chỗ khác. Câu 10 sách kinh đọc ἐπὶ τῆς γῆς, có mạo từ, trong khi một số bản chép cổ viết ἐπὶ γῆς. Câu 12 sách kinh đọc ἀφίεμεν, chúng con tha, ở thì hiện tại, trong khi một số bản chép cổ viết ἀφήκαμεν, chúng con đã tha. Các khác biệt này không đổi ý chính của lời kinh.

Τὸν ἄρτον ἡμῶν τὸν ἐπιούσιον
Ton árton imón ton epiúsion

Chữ ἐπιούσιος là chữ khó nhất trong kinh Lạy Cha. Nhà thần học Origen ở thế kỷ thứ ba, trong chuyên luận về cầu nguyện, đã ghi rằng ông không tìm thấy chữ này ở đâu khác trong tiếng Hy Lạp, và cho rằng các tác giả Tin Mừng đã đặt ra nó. Vì chỉ gặp ở kinh Lạy Cha nên không có câu nào khác để đối chiếu nghĩa.

Các cách hiểu chính có ba. Cách thứ nhất tách chữ thành ἐπί và οὐσία, hiểu là bánh cần cho sự sống, bánh đủ nuôi thân. Cách thứ hai liên hệ với cụm ἡ ἐπιοῦσα ἡμέρα, ngày tới, hiểu là bánh cho ngày mai. Cách thứ ba, có nhiều giáo phụ Hy Lạp nêu, hiểu là bánh vượt trên mọi bản thể, tức bánh từ trời, và đọc lời xin này gắn với bí tích Thánh Thể. Thư viện dịch theo cách thứ nhất là bánh nuôi sống chúng con, và ghi rõ đây là một lựa chọn giữa nhiều cách đọc.

τὰ ὀφειλήματα ἡμῶν... τοῖς ὀφειλέταις ἡμῶν
ta ofilímata imón... tis ofilétes imón

Mátthêu dùng chữ của sổ sách: ὀφειλήματα, các món nợ, và ὀφειλέται, những người mắc nợ. Luca chương 11 câu 4 nói thẳng là tội, ἁμαρτίας, rồi mới nói tới người mắc nợ. Sách kinh Hy Lạp theo Mátthêu, nên thư viện giữ chữ nợ cho sát nguyên văn.

ἀλλὰ ῥῦσαι ἡμᾶς ἀπὸ τοῦ πονηροῦ
allá ríse imás apó tu poniró

Chữ τοῦ πονηροῦ có mạo từ, và ở cách này ngữ pháp không cho biết đó là giống đực hay giống trung. Đọc là giống trung thì nghĩa là sự dữ, điều ác nói chung. Đọc là giống đực thì nghĩa là kẻ dữ, tức ma quỷ. Nhiều giáo phụ Hy Lạp, trong đó có thánh Gioan Kim Khẩu trong các bài giảng về Tin Mừng Mátthêu, đọc theo nghĩa kẻ dữ. Nhiều bản dịch phương Tây quen đọc là sự dữ.

Thư viện dịch là sự dữ, vì đó là cách hiểu rộng hơn và bao được cả nghĩa kia, và ghi rõ ở đây rằng truyền thống Hy Lạp thường hiểu là kẻ dữ. Động từ ῥῦσαι nghĩa là kéo ra, giật ra khỏi, mạnh hơn chữ giữ gìn.

IVLời Cầu Nguyện Chúa Giêsu Và Chuỗi Komboskini

Chuỗi kinh khởi đầu là lời cầu chung, dùng để mở các giờ kinh. Bên cạnh nó, đời sống cầu nguyện Chính Thống còn có một lời cầu riêng, ngắn hơn nhiều, được đọc không theo giờ nào cả mà theo nhịp thở. Đó là Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu, cũng gọi là Lời Cầu Chúa Giêsu. Bản thường gặp bằng tiếng Hy Lạp là:

Κύριε Ἰησοῦ Χριστέ, Υἱὲ τοῦ Θεοῦ, ἐλέησόν με.

Phiên âm theo lối đọc Hy Lạp hiện nay: Kírie Iisú Khristé, Ié tu Theú, eléisón me. Nghĩa: Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con.

Có bản thêm ba chữ τὸν ἁμαρτωλόν, kẻ tội lỗi, ở cuối. Có bản đổi με, con, thành ἡμᾶς, chúng con, khi nhiều người đọc chung. Có bản rút gọn chỉ còn Κύριε Ἰησοῦ Χριστέ, ἐλέησόν με, hay ngắn hơn nữa. OrthodoxWiki ghi rằng đan sĩ trên Núi Athos thường đọc bản không có chữ kẻ tội lỗi. Không có bản nào được coi là bản duy nhất đúng.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Chính Thống, lời cầu này không phải một câu thần chú và không có hiệu lực tự thân nhờ âm thanh. Nó là lời một người gọi một Đấng có ngôi vị bằng tên và xin lòng thương xót. Các sách thiêng liêng Chính Thống nhấn mạnh rằng danh Giêsu được gọi với lòng tin và sự khiêm nhường, và mục đích là để lời cầu từ môi miệng đi xuống tâm hồn, cho tới khi người cầu nguyện, theo lời thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica chương 5 câu 17, cầu nguyện không ngừng.

Hai lời trong Tin Mừng Luca chương 18 thường được nêu làm gốc. Người thu thuế đứng xa đấm ngực xin Thiên Chúa khoan dung với mình là kẻ tội lỗi. Người mù bên đường Giêricô kêu lên, Giêsu, Con vua Đavít, xin thương xót tôi. Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu gom hai tiếng kêu ấy vào một câu.

Chuỗi komboskini

Để đếm và giữ nhịp khi lặp lời cầu, người Chính Thống dùng một sợi dây thắt nút, tiếng Hy Lạp gọi là κομποσκοίνι, komboskini, ghép từ kómbos là nút và skiní là dây. Tiếng Nga gọi là вервица, vervitsa, hay chotki. Chuỗi này khác chuỗi Mân Côi của Công Giáo ở chỗ không kết bằng hạt mà bằng những nút len thắt tay, và không gắn với một chuỗi kinh có nhiều phần mà chỉ đi với một lời cầu duy nhất lặp lại.

Chất liệu

Theo lệ cũ, chuỗi được thắt bằng len đen, màu áo đan sĩ. Ngày nay có chuỗi bằng sợi sa tanh và các chất liệu khác. Ở đầu chuỗi thường có một thánh giá thắt bằng chính sợi dây và một túm tua.

Số nút

Theo mục Prayer rope của OrthodoxWiki, chuỗi truyền thống có 100 nút. Ngày nay còn gặp chuỗi 33, 50, 300 nút và cả loại nhỏ đeo tay. Nhiều chuỗi chen một hạt hay một nút lớn sau mỗi 10 hay 25 nút để dễ đếm.

Nút thắt hình thánh giá

Mỗi nút không phải nút thắt thường mà là một nút đan phức tạp, theo lời kể truyền thống gồm bảy thánh giá nhỏ đan chồng lên nhau. Người thắt chuỗi, thường là đan sĩ, vừa thắt vừa đọc Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu.

Truyền thuyết về nguồn gốc

Truyện truyền khẩu gán việc làm ra chuỗi cho thánh Pachomiô ở Ai Cập thế kỷ thứ tư, có bản kể là thánh Antôn Cả. Vị ẩn tu thắt nút để đếm lời cầu, ma quỷ đến tháo nút, ngài bèn thắt nút theo hình thánh giá để không ai tháo được. Đây là truyện đạo đức, không phải sử liệu.

Cách dùng

Người cầu nguyện lần từng nút bằng ngón tay, mỗi nút một lần đọc lời cầu, có khi kèm dấu thánh giá hay một lần cúi mình. Các sách thiêng liêng nhắc rằng chuỗi là để giữ sự chú ý, không phải để chạy cho đủ số.

Lối tĩnh tu, hesychasm

Theo sử liệu

Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu gắn chặt với một dòng tu đức gọi là tĩnh tu, tiếng Anh là hesychasm, theo chữ Hy Lạp ἡσυχία, hesykhía, nghĩa là sự tĩnh lặng. Giới sử học thường truy gốc lối cầu nguyện ngắn và lặp lại về các đan sĩ sa mạc Ai Cập và Palestine thế kỷ thứ tư và thứ năm, những người khuyên đệ tử giữ một câu Kinh Thánh ngắn trong lòng suốt ngày. Ở thế kỷ thứ năm, giám mục Diadochos thành Photiki đã viết về việc giữ danh Chúa Giêsu trong tâm trí. Từ đó lối cầu nguyện ấy đi qua các tu viện ở núi Sinai, rồi tới Núi Athos.

Ở thế kỷ mười ba và mười bốn, một số bản văn viết ở Athos tả kỹ cả cách ngồi, cách cúi đầu, cách giữ hơi thở khi đọc lời cầu. Lối tu ấy bị một học giả tên Barlaam phê phán. Thánh Grêgôriô Palamas, sống từ năm 1296 tới năm 1359 như trang trụ của thư viện đã ghi, viết để bênh vực, và các công đồng họp tại Constantinople giữa thế kỷ mười bốn xác nhận lập trường của ông. Đây là một cuộc tranh luận thần học của thời trung đại, đã khép lại từ lâu.

Theo OrthodoxWiki, các bản văn về cầu nguyện và tĩnh tu được hai vị đan sĩ Nicôđêmô thành Núi Thánh và Macariô thành Côrintô gom thành tuyển tập Philokalia, in lần đầu tại Venezia năm 1782. Bản dịch sang tiếng Slav của Giáo hội do Paisius Velichkovsky làm, in ở Moskva năm 1793 với tên Dobrotolubie.

Nhìn từ bên ngoài, lối tĩnh tu hay bị đem so với thiền định của Phật Giáo hay với việc niệm danh hiệu. Chỗ giống thì dễ thấy: một câu ngắn lặp lại, nhịp thở, sự tĩnh lặng, một sợi chuỗi để đếm. Người Chính Thống thường lưu ý chỗ khác, như trang trụ của thư viện đã thuật lại: đây là lời gọi một Đấng có ngôi vị để xin thương xót, mục đích không phải làm trống tâm, và các kỹ thuật về hơi thở hay tư thế luôn được coi là phụ.

VChỗ Kinh Lạy Cha Kết Bằng Lời Vinh Tụng

Người quen đọc kinh Lạy Cha theo lối Công Giáo Latinh sẽ để ý ngay một chỗ lạ ở cuối bài. Sau câu xin giải thoát khỏi sự dữ, sách kinh Hy Lạp không dừng ở đó, cũng không để người đọc tự thêm câu vì vương quyền như nhiều cộng đoàn Tin Lành. Nó ghi rằng câu kết thuộc về linh mục:

Ὅτι σοῦ ἐστιν ἡ βασιλεία καὶ ἡ δύναμις καὶ ἡ δόξα, τοῦ Πατρὸς καὶ τοῦ Υἱοῦ καὶ τοῦ Ἁγίου Πνεύματος, νῦν καὶ ἀεὶ καὶ εἰς τοὺς αἰῶνας τῶν αἰώνων.

Và người đọc hay ca đoàn đáp Ἀμήν. Trong mục Toàn Văn, thư viện đánh dấu câu ấy bằng chữ Linh mục đọc.

Theo sử liệu

Lời vinh tụng cuối kinh Lạy Cha có một lai lịch văn bản rõ ràng. Các bản chép Tin Mừng Mátthêu cổ nhất còn giữ được, như hai bộ sách chép tay lớn của thế kỷ thứ tư quen gọi là Codex Sinaiticus và Codex Vaticanus, kết kinh Lạy Cha ở chữ ἀπὸ τοῦ πονηροῦ, không có lời vinh tụng. Phần lớn các bản chép về sau theo dòng văn bản Byzantine thì có thêm câu ὅτι σοῦ ἐστιν ἡ βασιλεία καὶ ἡ δύναμις καὶ ἡ δόξα εἰς τοὺς αἰῶνας. ἀμήν.

Một chứng cứ rất sớm cho việc dùng lời vinh tụng là sách Didache, một cẩm nang của các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên mà giới nghiên cứu thường xếp vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất hay đầu thế kỷ thứ hai. Chương 8 của sách chép kinh Lạy Cha kèm câu kết vì quyền năng và vinh quang là của Ngài đến muôn đời, và dặn đọc như thế ba lần mỗi ngày. Giới sử học vì vậy thường cho rằng lời vinh tụng sinh ra trong việc cầu nguyện chung của cộng đoàn, rồi mới đi vào một phần các bản chép Tin Mừng.

Điều làm sách kinh Byzantine khác đi là nó không giữ nguyên câu vinh tụng của Mátthêu mà đổi phần cuối thành lời dâng Ba Ngôi: vì Nước, quyền năng và vinh quang là của Ngài, là Cha, Con và Thánh Thần. Câu ấy được xếp vào loại lời tung hô mà chỉ người có chức thánh xướng lên, tiếng Hy Lạp gọi là ἐκφώνησις, ekfónisis. Trong Phụng Vụ Thánh, sau khi cộng đoàn hát kinh Lạy Cha, linh mục cũng đọc chính câu này.

Khi không có linh mục, như khi một gia đình đọc kinh ở nhà hay một người đọc một mình, các sách hướng dẫn khác nhau. Nhiều sách dặn bỏ lời vinh tụng và thay bằng câu Δι’ εὐχῶν τῶν ἁγίων Πατέρων ἡμῶν, Κύριε Ἰησοῦ Χριστέ, ὁ Θεὸς ἡμῶν, ἐλέησον ἡμᾶς. Ἀμήν., nghĩa là nhờ lời cầu của các thánh tổ phụ chúng con, lạy Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa chúng con, xin thương xót chúng con. Bản Τρισάγιον trên glt.goarch.org chép câu này với hai chữ ἐλέησον καὶ σῶσον, xin thương xót và cứu.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Chính Thống, việc để lời vinh tụng cho linh mục không nhằm tước của người đọc một câu kinh. Nó phản ánh cách Giáo hội hiểu việc cầu nguyện chung: người giáo dân xin, và người đứng đầu cộng đoàn, nhân danh cả cộng đoàn, dâng lời chúc tụng lên Ba Ngôi để khép lời xin ấy lại. Câu Δι’ εὐχῶν mà người không có chức thánh dùng thay cũng cùng một ý: người đọc không tự mình khép kinh mà nhờ lời cầu của các bậc cha ông trong đức tin.

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Chuỗi kinh khởi đầu có mặt ở gần như mọi chỗ trong đời sống cầu nguyện Chính Thống, vì nó không gắn với một ngày lễ hay một mùa nào, mà gắn với chính việc bắt đầu cầu nguyện. Phần dưới tả những nơi thường gặp nhất, theo cách một người quan sát đứng bên nhìn vào.

Kinh sáng và kinh tối ở nhà

Trong nhà người Chính Thống thường có một góc ikon, người Hy Lạp gọi là eikonostási, người Nga gọi là góc đẹp, krasny ugol, đặt ở bức tường phía đông nếu được. Trên đó có ikon Chúa Kitô, Đức Mẹ Thiên Chúa, thánh bổn mạng, và một ngọn đèn dầu nhỏ. Sáng khi thức dậy và tối trước khi ngủ, người trong nhà đứng trước góc ấy, làm dấu thánh giá và bắt đầu bằng chuỗi kinh khởi đầu, rồi mới tới các kinh sáng hay kinh tối trong sách kinh gia đình.

Mở đầu các giờ kinh ở nhà thờ và tu viện

Trong các giờ kinh của sách Horologion như kinh tối, kinh nửa đêm, kinh sáng và bốn giờ kinh ban ngày, chuỗi này đứng ngay sau tiếng chúc tụng mở đầu. Ở tu viện, các đan sĩ đọc chuỗi này nhiều lần trong một ngày, vì mỗi giờ kinh lại mở bằng nó, và có giờ kinh đọc nó thêm một lần ở gần cuối, như bản Kinh Tối trên glt.goarch.org cho thấy.

Buổi cầu cho người đã khuất

Buổi cầu nguyện ngắn cho người qua đời, người Hy Lạp gọi chính là Trisagion, mở đầu bằng chuỗi kinh này rồi mới tới các bài cầu cho linh hồn người đã khuất. Sách Euchologion trên glt.goarch.org in buổi cầu ấy dưới đúng nhan đề Τρισάγιον.

Mùa Phục Sinh

Từ lễ Phục Sinh tới lễ Chúa Lên Trời, phần đông các nhà thờ thay đoạn đầu của chuỗi bằng bài Chúa Kitô đã sống lại, Christos anesti, hát ba lần. Từ lễ Chúa Lên Trời tới lễ Ngũ Tuần, bài Lạy Vua Thiên Quốc chưa được đọc, vì theo nếp phụng vụ nó chờ tới ngày lễ Thánh Thần hiện xuống mới được hát lại. Chi tiết có thể khác đôi chút giữa các nơi.

Dấu thánh giá ba ngón và việc cúi mình

Đi kèm chuỗi kinh là dấu thánh giá, và cách làm dấu là một trong những nét dễ nhận ra nhất của người Chính Thống. Ba ngón đầu, tức ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, chụm lại, tượng trưng Ba Ngôi. Hai ngón còn lại gập vào lòng bàn tay, tượng trưng hai bản tính thần và người của Chúa Kitô. Bàn tay chạm trán, rồi ngực hay bụng, rồi vai phải trước, vai trái sau. Người Công Giáo Latinh chạm vai trái trước, nên người mới nhìn hay tưởng người Chính Thống làm dấu ngược, như trang trụ của thư viện đã nói rõ.

Trong chuỗi kinh khởi đầu, người đọc thường làm dấu ở mỗi lần đọc Ἅγιος ὁ Θεός, ở mỗi lần đọc lời Vinh Danh, và nhiều người làm dấu cả ở câu đầu tiên. Thường kèm theo là một lần cúi mình, tay phải đưa xuống chạm đất hay gần đất, tiếng Hy Lạp gọi là μετάνοια, metánia. Chữ này cũng là chữ Tân Ước dùng cho sự sám hối, nghĩa đen là đổi hướng tâm trí, và người Chính Thống thấy rõ mối liên hệ ấy trong cử chỉ cúi mình.

Về tư thế, người Chính Thống quen đứng khi cầu nguyện, ở nhà cũng như ở nhà thờ. Người già yếu được ngồi. Đọc kinh ở nhà thì người trong nhà thường đọc to, một người đọc chính, những người khác đọc theo hay nghe.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Vì chuỗi kinh này quá quen với người trong đạo nên ít khi được giải thích, và người ngoài nhìn vào dễ đoán sai. Bốn điểm dưới đây là những chỗ hay gặp hơn cả.

Trisagion là một buổi lễ cầu hồn

Người dự tang lễ Chính Thống hay nghe chữ Trisagion dùng cho buổi cầu ngắn cho người đã khuất, nên tưởng chữ ấy chỉ có nghĩa đó. Thật ra Trisagion trước hết là tên của thánh ca Ba Lần Thánh và của chuỗi kinh khởi đầu đọc mỗi ngày. Buổi cầu cho người đã khuất mượn tên ấy vì nó mở đầu bằng chính chuỗi kinh này.

Kyrie eleison lặp nhiều lần là đọc cho đủ số

Người mới dự phụng vụ Byzantine hay thấy lạ khi nghe Kyrie eleison ba lần, mười hai lần, bốn mươi lần. Theo cách người trong đạo giải thích, con số là để tạo một nhịp, và việc lặp là một cách ở lại trong một lời xin, không phải một phép tính công đức. Các sách thiêng liêng Chính Thống nói điều tương tự về chuỗi komboskini.

Lời vinh tụng cuối kinh Lạy Cha là do Tin Lành thêm vào

Nhiều người Công Giáo nghe câu vì vương quyền là của Cha thì nghĩ đó là nét Tin Lành. Thật ra lời vinh tụng đã có trong sách Didache của Kitô hữu thời đầu và trong các bản chép Mátthêu dòng Byzantine, và phụng vụ Hy Lạp dùng nó hơn một nghìn năm trước cuộc Cải Cách. Chỗ riêng của Chính Thống là câu ấy thêm danh xưng Ba Ngôi và thuộc về linh mục.

Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu là một kỹ thuật thở

Vì một số bản văn trung đại tả cách giữ hơi thở, có người tưởng cốt lõi của lời cầu là kỹ thuật. Theo giáo nghĩa Chính Thống, cốt lõi là việc gọi danh Chúa Giêsu với lòng tin và xin thương xót. Kỹ thuật hơi thở và tư thế được coi là phụ, chỉ dành cho người có linh hướng, và giáo dân phần lớn đọc lời cầu mà không kèm kỹ thuật gì.

?Hỏi Đáp Nhanh

Kinh khởi đầu của Chính Thống Giáo gồm những kinh nào

Theo sách Horologion Hy Lạp, chuỗi gồm lời Vinh danh Chúa, bài Lạy Vua Thiên Quốc gọi Thánh Thần, thánh ca Ba Lần Thánh đọc ba lần, lời Vinh Danh Ba Ngôi, lời xin Ba Ngôi Chí Thánh thương xót, ba lần Kyrie eleison, lời Vinh Danh thêm một lần và kinh Lạy Cha. Khi có linh mục, kinh Lạy Cha kết bằng lời vinh tụng dâng Ba Ngôi do linh mục đọc. Sách kinh tiếng Anh gọi chuỗi này là Trisagion Prayers.

Hagios o Theos nghĩa là gì

Câu Ἅγιος ὁ Θεός, Ἅγιος Ἰσχυρός, Ἅγιος Ἀθάνατος, ἐλέησον ἡμᾶς, người Hy Lạp hôm nay đọc là Áyios o Theós, Áyios Iskhirós, Áyios Athánatos, eléison imás, nghĩa là Thánh thay Thiên Chúa, Thánh thay Đấng Quyền Năng, Thánh thay Đấng Bất Tử, xin thương xót chúng con. Thánh Gioan Đamascênô kể rằng thánh ca này có từ thời tổng giám mục Proclus ở Constantinople, thế kỷ thứ năm, và được hát tại Công đồng Chalcedon năm 451. Người Chính Thống hiểu ba chữ Thánh hướng về Ba Ngôi.

Vì sao cuối kinh Lạy Cha lại do linh mục đọc

Trong sách kinh Hy Lạp, câu kết vì Nước, quyền năng và vinh quang là của Ngài, là Cha, Con và Thánh Thần được xếp vào loại lời tung hô dành cho người có chức thánh, và người đọc đáp Amen. Khi không có linh mục, nhiều sách dặn thay bằng câu nhờ lời cầu của các thánh tổ phụ, lạy Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa chúng con, xin thương xót chúng con. Lời vinh tụng này có gốc rất sớm, đã thấy trong sách Didache và trong các bản chép Tin Mừng Mátthêu dòng Byzantine.

Komboskini là gì

Komboskini là chuỗi dây thắt nút của người Chính Thống, thường bằng len đen, dùng để đếm và giữ nhịp khi đọc Lời Cầu Nguyện Chúa Giêsu, Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con. Theo OrthodoxWiki, chuỗi truyền thống có 100 nút, ngày nay còn có loại 33, 50 hay 300 nút. Mỗi nút được đan theo hình thánh giá. Chuỗi này đi với một lời cầu duy nhất lặp lại, khác chuỗi Mân Côi của Công Giáo.

Người Chính Thống đọc kinh khởi đầu khi nào

Chuỗi kinh này mở đầu kinh sáng và kinh tối ở nhà, thường đọc đứng trước góc ikon có đèn dầu, và mở đầu các giờ kinh trong ngày ở nhà thờ và tu viện như kinh tối, kinh nửa đêm, kinh sáng và các giờ kinh ban ngày. Nó cũng mở đầu buổi cầu ngắn cho người đã khuất. Người đọc làm dấu thánh giá bằng ba ngón chụm lại và cúi mình ở các lần đọc Ba Lần Thánh và lời Vinh Danh.

›Đọc Tiếp