ITrước Khi Đọc
Sáng ngày rằm, trong rất nhiều ngôi nhà người Việt, có một người đứng trước bàn thờ ông bà, cầm ba nén hương, lầm rầm một bài dài chừng hai phút. Người trẻ trong nhà nghe bài ấy từ nhỏ, thuộc được câu đầu và câu cuối, còn khúc giữa thì mơ hồ. Trang này chép bài ấy ra, đặt bên cạnh nghĩa bằng lời thường, và giải từng chữ khó.
Điều cần nói ngay từ đầu: bài văn khấn gia tiên ngày rằm và mùng một không có một bản chuẩn duy nhất. Không có giáo hội nào ban hành nó, không có vị tổ nào soạn ra nó. Mỗi nhà khấn một kiểu, mỗi vùng khấn một kiểu, mỗi cuốn sách văn khấn in một kiểu. Có nhà khấn dài như trên trang này, có nhà chỉ nói vài câu mộc mạc bằng lời của mình, có người khấn thầm không thành tiếng.
Thư viện chép theo lối thường gặp nhất, tức lối được in trong cuốn Văn khấn cổ truyền Việt Nam của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin và được các báo chép lại nhiều lần, rồi đối chiếu với ba bản khác. Chỗ các bản khác nhau được ghi ra trong phần giải nghĩa. Những chỗ để trống cho người khấn điền tên, địa chỉ, ngày tháng được giữ trong ngoặc đơn.
Bố cục bài khấn đi theo một trật tự rất rõ, giống như một lá thư trình lên bề trên. Mở đầu là câu niệm Phật. Tiếp theo là lời lạy trời đất, chư Phật, các vị thần từ lớn tới nhỏ, từ trời xuống làng xuống tới bếp nhà, rồi mới tới tổ tiên. Sau đó người khấn xưng tên, xưng chỗ ở, nói hôm nay là ngày gì, đã sửa lễ gì. Rồi tới lời mời các vị về, lời xin che chở, câu khiêm tốn về lễ mọn, và câu niệm Phật khép lại.
Trang này tả và giải nghĩa như một người quan sát văn hóa. Thư viện không bàn khấn thế nào thì được, khấn thế nào thì không, cũng không chỉ dẫn quý vị phải cúng ra sao. Việc nhà nào nhà ấy giữ theo nếp của mình.
Về lai lịch văn bản, cần phân biệt hai lớp. Lớp cũ là văn tế, chúc văn viết bằng chữ Hán, dùng trong các lễ lớn của dòng họ như giỗ và tế tổ, theo khuôn của sách gia lễ. Sách gia lễ quen thuộc nhất ở Việt Nam là Thọ Mai Gia Lễ, lưu truyền dưới tên một nhà nho họ Hồ hiệu Thọ Mai thời Lê, có nguồn ghi là Hồ Sĩ Dương, có nguồn ghi là Hồ Sĩ Tân. Các bài chúc văn theo khuôn ấy thường kể thế thứ tổ tiên bằng những chữ như cao tằng tổ khảo 高曾祖考 và kết bằng công thức thượng hưởng 尚饗.
Lớp mới hơn là văn khấn Nôm, tức lời khấn bằng tiếng Việt, mà bài trên trang này là một ví dụ. Nó mượn nhiều chữ Hán Việt của lớp cũ như tín chủ, hương linh, hiển khảo, hâm hưởng, nhưng câu văn là câu tiếng Việt, người khấn tự đọc được không cần thầy đồ. Lời khấn này không có bản gốc có tên người soạn và năm soạn. Các bản lưu hành rộng hiện nay chủ yếu đến từ các sách văn khấn in phổ thông và các trang báo chép lại từ đó. Ngay những cuốn cùng mang tên Văn khấn cổ truyền Việt Nam cũng do những người khác nhau soạn, ở những nhà xuất bản khác nhau.
Một ví dụ về độ chênh giữa các bản: bài của Phạm Tuấn Minh trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học năm 2024 dẫn một bản cũng ghi là theo sách của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, nhưng dài hơn hẳn. Bản ấy kể thêm quan Thần linh, bà Chúa đất cai quản xứ này, kể thêm bà Cô ông Mãnh trong họ, và có thêm một câu xin lỗi rằng con cháu trẻ người non dại, việc âm chưa tường, việc dương chưa tỏ. Bản trên trang này thì gọn hơn. Cả hai đều là văn khấn thật đang được dùng.
IIToàn Văn Lời Khấn Rằm Và Mùng Một
| Câu | Lời khấn | Nghĩa bằng lời thường | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|
| 1 | Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) | Con xin quy kính Đức Phật A Di Đà. (Niệm ba lần.) | Namo Amitabha Buddha! (three times) |
| 2 | Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương. | Con xin lạy trời ở khắp mọi phương, lạy chư Phật ở khắp mười phương. | I bow to Heaven in all nine directions, to the Buddhas of the ten directions, the Buddhas of the ten directions. |
| 3 | Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị Tôn thần. | Con kính lạy Trời cao, Đất dày, cùng các vị thần đáng kính. | I respectfully bow to August Heaven, to Sovereign Earth, and to all the venerable deities. |
| 4 | Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần. | Con kính lạy vị thần giữ làng này, vị thần coi đất vùng này, vị thần giữ bếp giữ nhà con, cùng các vị thần khác. | I respectfully bow to the Tutelary God of this village, the Earth God of this locality, the Hearth Lord of this household, together with all the venerable deities. |
| 5 | Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển tỷ, chư vị Hương linh. | Con kính lạy ông bà tổ tiên, lạy cha và mẹ con đã khuất, cùng hương hồn những người thân đã mất. | I respectfully bow to our ancestors, to my late father and my late mother, and to all the departed souls honoured with incense. |
| 6 | Tín chủ (chúng) con là (họ và tên), ngụ tại (địa chỉ). | Con (hoặc cả nhà con), người đứng ra cúng lễ, tên là (họ và tên), đang ở tại (địa chỉ). | I (we), the one who offers this worship, am called (full name), residing at (address). |
| 7 | Hôm nay là ngày Rằm (hoặc mùng Một) tháng (…) năm (…). | Hôm nay là ngày rằm (hoặc ngày mùng một) tháng (…) năm (…) theo âm lịch. | Today is the fifteenth day (or the first day) of the (…) month of the year (…). |
| 8 | Tín chủ con nhờ ơn đức Trời Đất, chư vị Tôn thần, cù lao tiên tổ, thành tâm sắm lễ, hương, hoa, trà, quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. | Nhờ ơn trời đất, ơn các vị thần và công khó nhọc của ông bà tổ tiên, con thật lòng sửa soạn chút lễ gồm hương, hoa, trà, trái cây, thắp nén hương gửi tấm lòng, dâng lên trước bàn thờ. | Owing to the grace of Heaven and Earth, of the venerable deities, and to the toil of our forebears, I have sincerely prepared offerings of incense, flowers, tea and fruit, and I light an incense stick of the heart before the altar. |
| 9 | Chúng con kính mời: ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. | Chúng con kính mời thần giữ làng cùng các vị Đại vương, thần coi đất vùng này, thần giữ bếp của nhà, các vị thần năm phương, thần mạch đất và thần giữ của cải. | We respectfully invite the Tutelary God of this village and the Great Lords, the Earth God and spirits of this locality, the Hearth Lord of this household, the gods of the Five Directions, the spirit of the earth's veins, and the God of Wealth. |
| 10 | Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật. | Cúi xin các ngài xuống trước bàn thờ, thấu cho tấm lòng thật của chúng con và nhận lễ. | We humbly pray that you descend before the altar, bear witness to our sincerity, and receive these offerings. |
| 11 | Chúng con kính mời các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ (…), cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật. | Chúng con kính mời các cụ ông cụ bà, hương hồn tổ tiên bên nội bên ngoại của họ (…), xin thương con cháu mà về, thấu cho tấm lòng thật và nhận lễ. | We respectfully invite our departed grandfathers and grandmothers and all the ancestral souls of the paternal and maternal lines of the (…) family, humbly praying that you take pity on your descendants, return in spirit, bear witness to our sincere hearts, and receive these offerings. |
| 12 | Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, | Con cũng kính mời những người chủ cũ đã khuất từng ở nhà này, đất này, cùng tới trước bàn thờ, cùng về hưởng lễ, | I also respectfully invite the former and later masters who dwelt in this house to come together before the altar and to partake together of these offerings, |
| 13 | phù hộ cho gia đình chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận. | và xin che chở cho cả nhà con luôn khỏe mạnh, mọi việc yên ổn, việc gì cũng tốt, làm ăn khá lên, trong nhà thuận hòa. | and to protect our family, that we may always be in good health, that all may be at peace, that all things go well, that our livelihood prosper, and that our household live in harmony. |
| 14 | Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. | Lễ của chúng con mỏng nhưng lòng thật, chúng con kính lạy trước bàn thờ, cúi xin được che chở và giúp đỡ. | Our offerings are humble but our hearts are sincere. We bow before the altar and humbly pray to be protected and upheld. |
| 15 | Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) | Con xin quy kính Đức Phật A Di Đà. (Niệm ba lần, rồi vái lạy.) | Namo Amitabha Buddha! (three times) |
IIIGiải Nghĩa Từng Câu
Bài khấn viết bằng tiếng Việt nhưng dày đặc chữ Hán Việt, phần lớn mượn từ lối văn tế cũ. Người lớn tuổi đọc thuộc nhưng nhiều khi cũng không giải được từng chữ. Phần dưới đi theo thứ tự bài khấn, giải mười hai chỗ then chốt, ghi luôn chỗ các bản chép khác nhau và chỗ người ta hiểu khác nhau.
Nam mô 南無 là phiên âm qua chữ Hán của tiếng Phạn namo, nghĩa là cúi mình quy kính. A Di Đà 阿彌陀 là phiên âm danh hiệu Phạn Amitābha, Đức Phật của ánh sáng vô lượng, vị Phật trung tâm của pháp môn Tịnh Độ. Cả câu nghĩa là con xin quy kính Đức Phật A Di Đà.
Chỗ đáng chú ý là câu này mở và đóng một bài khấn gia tiên, vốn không phải nghi lễ nhà Phật. Mục riêng phía dưới giải kỹ vì sao như vậy. Ở đây chỉ ghi rằng số ba lần là số được ghi trong mọi bản thư viện đối chiếu, và bản VOH ghi thêm ba lạy.
Mười phương 十方 là cách nói của nhà Phật: tám hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, cộng thêm phương trên và phương dưới, tức là khắp mọi nơi. Chư Phật mười phương là tất cả các vị Phật ở khắp mọi nơi, theo quan niệm Đại Thừa rằng không chỉ có một Đức Phật.
Chín phương Trời thì có nhiều cách giải cùng tồn tại. Cách thứ nhất đọc là tám hướng cộng trung ương. Cách thứ hai nối với chữ cửu thiên 九天 trong sách cổ Trung Hoa, tức chín tầng trời hay chín vùng trời. Cách thứ ba xem đây chỉ là lối nói cho đối với vế mười phương, chín và mười đi liền nhau cho tròn câu. Thư viện ghi cả ba, không chọn thay quý vị.
Vế cuối chư Phật mười phương lặp đảo vế trước. Lối lặp này hay gặp trong văn khấn Nôm, làm câu chắc và có nhịp khi đọc thành tiếng. Một số bản bỏ vế lặp này.
Hoàng thiên 皇天 là trời lớn, Hậu thổ 后土 là đất dày. Cặp chữ này có từ rất sớm trong văn tự Trung Hoa, dùng để gọi trời và đất như hai đấng chủ tể của mọi sự sống. Người Việt quen nói gọn là trời đất, và câu thề dân gian có trời có đất chính là cùng một ý.
Chư vị Tôn thần là các vị thần đáng kính nói chung. Tới đây bài khấn đã đi từ chư Phật xuống trời đất, rồi xuống các vị thần. Trật tự này không phải ngẫu nhiên, nó đi từ lớn tới nhỏ, từ xa tới gần, rồi mới tới chuyện trong nhà.
Ba vị này là ba tầng che chở gần nhất. Chữ bản 本 nghĩa là của chính chỗ này. Bản cảnh Thành hoàng là vị thần giữ làng, thường được thờ ở đình làng. Bản xứ Thổ địa là vị thần coi đất của vùng. Bản gia Táo quân là vị thần bếp của chính nhà này, người Việt quen gọi là ông Táo.
Ở đây cần nói tới chữ Thổ Công. Bài khấn không gọi tên Thổ Công, nhưng người miền Bắc quen gọi vị thần coi đất trong nhà là Thổ Công, và trong lời nói hằng ngày nhiều người dùng lẫn Thổ Công với Táo quân, với ông Công ông Táo. Theo một lối giải phổ biến, Táo quân gồm ba vị, hai ông một bà, mang tên Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ, và các lối giải chia việc cho từng vị không giống nhau, cho nên việc thờ Thổ Công và việc thờ Táo quân chồng lên nhau. Có nhà giữ lệ khấn Thổ Công bằng một bài riêng trước khi khấn gia tiên, vì quan niệm rằng thần đất là chủ nhà, phải trình thần đất trước rồi tổ tiên mới về được. Các cách hiểu này cùng tồn tại, và mỗi vùng giữ một lối.
Khảo 考 là cha đã mất, tỷ 妣 là mẹ đã mất. Hai chữ này chỉ dùng cho người đã khuất, không dùng cho cha mẹ còn sống. Hiển 顯 là chữ tôn xưng đặt trước, nghĩa là sáng rõ, vẻ vang, cũng là chữ quen thấy trên bài vị. Vậy Hiển khảo, Hiển tỷ là người cha và người mẹ đã khuất của người khấn.
Bản VOH có ghi chú rõ: nếu cha mẹ còn sống thì không gọi hiển khảo hiển tỷ, mà thay bằng tổ khảo, tổ tỷ, tức là ông bà. Đây là chỗ người khấn phải tự chỉnh theo hoàn cảnh nhà mình.
Hương linh 香靈 là linh hồn người đã khuất được thờ bằng hương khói. Chữ này mang sắc thái nhà Phật, hay gặp trong lễ cầu siêu. Nói cho gần, đó là cách gọi kính cẩn những người thân đã mất.
Tín chủ 信主 là người chủ lễ có lòng tin, tức người đứng ra cúng. Chữ tín ở đây là lòng tin, lòng thành, không phải tín đồ của một đạo có tổ chức. Chữ (chúng) trong ngoặc để người khấn chọn: khấn một mình thì nói tín chủ con, khấn thay cả nhà thì nói tín chủ chúng con.
Các bản chép khác nhau ở chữ này. Bản VOH viết gia chủ, bản phatgiao.org.vn viết hương chủ và ghi chỗ ở theo xã, huyện, tỉnh. Nghĩa không đổi. Ngụ tại nghĩa là đang ở tại.
Câu xưng tên và chỗ ở cho thấy rõ tính chất của bài khấn: nó giống một lá đơn trình lên bề trên, phải nói rõ ai trình, ở đâu, hôm nay là ngày nào.
Ngày mùng một gọi là ngày sóc 朔, khi mặt trăng không thấy trên trời. Ngày rằm, tức ngày mười lăm, gọi là ngày vọng 望, khi trăng tròn. Vì thế lễ cúng hai ngày này còn gọi là lễ sóc vọng. Tháng và năm ở đây tính theo âm lịch, năm thường gọi theo can chi như năm Bính Ngọ.
Bản VOH và bản Tạp chí Nghiên cứu Phật học còn có chữ gặp tiết, ví dụ gặp tiết rằm tháng Giêng, dùng khi ngày rằm trùng một lễ tiết.
Cù lao 劬勞 ở đây không phải hòn cù lao giữa sông. Hai chữ này nghĩa là khó nhọc vất vả, lấy từ câu trong Kinh Thi 哀哀父母,生我劬勞, thương thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc. Người Việt quen nói chín chữ cù lao để chỉ công sinh thành nuôi dưỡng. Vậy cù lao tiên tổ là công khó nhọc của tổ tiên.
Tâm hương là hương của lòng. Cụm thắp nén tâm hương nói rằng nén hương thật đang cháy trên tay là để gửi tấm lòng. Án 案 là cái bàn dài, ở đây chỉ bàn thờ, nên trước án là trước bàn thờ.
Danh sách lễ vật trong câu chỉ gồm hương, hoa, trà, quả. Đó là một mâm lễ chay đơn giản. Trên thực tế nhà nào có lễ gì thì kể lễ ấy, có nhà thêm trầu cau, có nhà thêm mâm cơm.
Trong lời mời, bài khấn kể thêm ba vị không có trong lời lạy mở đầu. Ngũ phương 五方 là năm phương Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương, ở đây chỉ các vị thần năm phương. Long mạch 龍脈 là mạch đất theo quan niệm phong thủy, ở đây chỉ vị thần của mạch đất nơi nhà đứng. Tài thần 財神 là thần giữ của cải.
Chỗ này cho thấy bài khấn gom nhiều lớp tín ngưỡng vào một: Phật Giáo ở câu niệm Phật, quan niệm trời đất và thần làng ở phần lạy, phong thủy ở chữ long mạch. Các bản chép khác nhau nhiều nhất ở danh sách này, có bản bỏ Tài thần, có bản thêm quan Thần linh, bà Chúa đất.
Tổ khảo, Tổ tỷ là ông và bà đã khuất. Chữ tổ 祖 ở đây là đời ông bà. Khi khấn trong các lễ lớn, nhiều bản kể đủ thế thứ bằng cụm cao tằng tổ khảo 高曾祖考, đọc từ xa về gần: cao là đời thứ tư tính ngược lên, tức kỵ, tằng là đời thứ ba, tức cụ, tổ là đời ông bà, khảo là đời cha. Phía các bà thì thay chữ khảo bằng chữ tỷ thành cao tằng tổ tỷ. Bài rằm và mùng một trên trang này gọi gọn là tổ khảo, tổ tỷ, còn các bản văn khấn dùng cho Tết, cho giỗ thường kể đủ cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ.
Nội ngoại là bên nội và bên ngoại, và chỗ trống họ (…) để điền tên dòng họ. Linh thiêng hiện về là lời mời vong linh tổ tiên về với con cháu. Chữ chứng giám nghĩa là soi xét và làm chứng. Ở câu này bản VietNamNet viết chứng giám tâm thành, bản VOH viết chứng giám lòng thành. Thư viện giữ theo bản VietNamNet.
Tiền chủ 前主 là những người chủ trước đã từng ở trên đất này. Hậu chủ 後主 thì cách hiểu khác nhau. Có người giải là những người chủ về sau, tức các lớp chủ nối nhau ở mảnh đất ấy mà nay đã khuất. Có người giải là những vong linh gắn với đất này mà không còn ai thờ. Cả hai cách đều nói tới một ý chung: nhà này, đất này có người ở trước mình, và bữa lễ mời cả họ.
Đồng lâm án tiền 同臨案前 là cùng tới trước bàn thờ. Đồng lai hâm hưởng 同來歆享 là cùng về hưởng lễ. Chữ hâm 歆 vốn chỉ việc thần linh hưởng hơi, hưởng khí của lễ vật, không phải ăn như người sống.
Cụm này gần với công thức kết của văn tế chữ Hán là phục duy thượng hưởng 伏惟尚饗. Phục duy là cúi mình mà mong, thượng hưởng là xin về hưởng. Bài rằm và mùng một không có câu này. Nó thường gặp ở cuối các bài chúc văn, văn tế đọc trong ngày giỗ, ngày tế tổ, và người ta quen gọi tắt là câu thượng hưởng.
Lễ bạc tâm thành là lễ mỏng mà lòng thật. Đây là lối nói khiêm tốn quen thuộc của người Việt, giống câu có chút quà mọn khi đi thăm ai. Câu ấy đặt trọng tâm vào tấm lòng chứ không vào mâm lễ.
Phù hộ 扶護 là nâng đỡ và che chở. Độ trì 度持 là cứu giúp và giữ gìn. Cặp chữ phù hộ độ trì là lời xin quen thuộc nhất trong văn khấn Việt. Câu trước đó liệt kê những điều xin: sức khỏe, bình an, việc làm ăn, sự hòa thuận trong nhà. Đó là những điều rất đời thường, không có điều gì vượt ra ngoài chuyện một mái nhà.
IVVì Sao Mở Đầu Bằng Câu Niệm Phật
Người trẻ nghe bài khấn lần đầu thường thắc mắc một chỗ: nhà mình không đi chùa, không quy y, vì sao bài khấn ông bà lại bắt đầu và kết thúc bằng Nam mô A Di Đà Phật? Câu hỏi này đưa thẳng tới chỗ tín ngưỡng dân gian và Phật Giáo hòa vào nhau trong đời sống người Việt.
Thờ tổ tiên có trước, câu niệm Phật tới sau
Như trang trụ Thờ Cúng Tổ Tiên đã nói, việc thờ ông bà ở đất Việt có trước khi các đạo lớn vào. Phật Giáo khi vào không đòi bỏ bàn thờ tổ tiên, mà nối vào đó. Lễ Vu Lan rằm tháng Bảy là chỗ gặp nhau rõ nhất: một lễ nhà Phật mà nội dung là báo hiếu cha mẹ. Trong nhiều nhà, bàn thờ Phật đặt cao hơn bàn thờ gia tiên, hai bàn cùng có mặt mà không vướng nhau.
Câu niệm Phật trong văn khấn là một dấu vết của sự nối kết ấy ở tầng lời nói. Bài khấn không phải kinh Phật, nhưng nó mượn câu niệm quen thuộc nhất của nhà Phật để mở và đóng lời thưa với ông bà.
Theo giáo nghĩa Tịnh Độ, Đức Phật A Di Đà đã phát nguyện tiếp dẫn chúng sinh niệm danh hiệu ngài về cõi Cực Lạc. Vì thế câu Nam mô A Di Đà Phật là câu niệm phổ biến nhất trong Phật Giáo Bắc Tông ở Việt Nam, có mặt trong lời chào nhau của nhà chùa, trong tang lễ, trong lễ cầu siêu. Với người đã khuất, câu niệm gắn với ước mong người thân được siêu thoát, được về nơi an lành. Đặt câu ấy ở đầu bài khấn tổ tiên, theo cách hiểu của người theo Phật, là đặt lời thưa với ông bà dưới sự chứng giám của Phật và cầu cho hương linh ông bà được an.
Ở góc nhìn nghiên cứu, bài của Phạm Tuấn Minh trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học ngày 15 tháng 11 năm 2024 phân tích chính mẫu văn khấn gia tiên mùng một ngày rằm và chỉ ra mấy chỗ dung hòa. Thứ nhất là câu Nam mô A Di Đà Phật lấy từ Tịnh Độ, gắn với ý cầu được che chở. Thứ hai là lối dùng số lẻ trong lễ vật và số nén hương, mà người ta giải theo nhiều cách, có cách nối với Tam Bảo của nhà Phật. Thứ ba là tinh thần sám hối và từ bi trong những câu xin tha lỗi, xin ban phước, mà tác giả xem là chỗ tín ngưỡng dân gian gặp tinh thần Phật Giáo.
Cần nói thêm một điều thực tế về văn bản. Cuốn Văn khấn cổ truyền Việt Nam của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, nguồn của nhiều bản lưu hành hiện nay, ghi Thượng tọa Thích Thanh Duệ, một vị tăng, là người hiệu đính. Nói cách khác, chính các bản văn khấn in phổ thông cũng đã đi qua tay người nhà Phật. Điều đó giải thích một phần vì sao lớp chữ Phật như hương linh, chư Phật mười phương đậm như vậy trong bài.
Một bài, ba lớp tín ngưỡng
Đọc lại toàn bài theo con mắt người quan sát, có thể thấy ít nhất ba lớp đan vào nhau. Lớp Phật Giáo nằm ở câu niệm Phật, chữ chư Phật mười phương, chữ hương linh. Lớp tín ngưỡng trời đất và thần linh bản địa nằm ở Hoàng thiên Hậu thổ, Thành hoàng làng, Thổ địa, Táo quân. Lớp Nho giáo và gia lễ nằm ở những chữ khảo, tỷ, hiển, tín chủ, ở lối kể thế thứ tổ tiên và ở chính trật tự trên dưới của bài. Thêm vào đó là một chút phong thủy ở chữ long mạch.
Người khấn không thấy đó là bốn thứ chồng lên nhau. Họ thấy đó là một bài, một nếp. Chính vì vậy mà ở phần hiểu lầm phía dưới, thư viện ghi lại rằng câu niệm Phật trong bài không có nghĩa là nhà ấy theo Phật Giáo, và nhà không theo Phật Giáo cũng có khi vẫn giữ nguyên câu ấy.
VLễ Vật, Ba Miền Và Những Bài Khấn Khác
Mục này tả những gì thường thấy quanh bài khấn: mâm lễ ngày rằm và mùng một, cách bày, chỗ khác nhau giữa ba miền, và các dịp khác trong năm có bài khấn riêng. Thư viện tả những gì phổ biến, không đặt ra chuẩn nào, vì chính các nhà thờ tự cũng không có chuẩn chung.
Mâm lễ ngày rằm và mùng một
Lễ sóc vọng hằng tháng thường là lễ nhỏ. Bài khấn tự kể lễ vật: hương, hoa, trà, quả. Đó cũng là mâm thường gặp nhất. Người ta thay nước trong chén nước trên bàn thờ, thay hoa trong bình, bày một đĩa hoặc một mâm trái cây, rót chén trà hoặc chén rượu, thắp đèn hoặc nến, rồi thắp hương. Nhiều nhà thêm đĩa trầu cau, nhất là ở miền Bắc.
Về lễ chay hay lễ mặn, các nhà giữ khác nhau. Nhiều nhà ngày rằm và mùng một cúng chay, tức chỉ hương hoa quả, có khi thêm xôi chè, vì hai ngày ấy trùng ngày nhà Phật khuyến khích ăn chay. Có nhà làm mâm cơm có thịt cá để mời ông bà như bữa cơm thường. Có nhà cúng chay ở bàn Phật và cúng mặn ở bàn gia tiên. Không lối nào được xem là chuẩn chung.
Về cách bày, lối thường gặp là bát hương ở chính giữa, phía sau, đèn hoặc nến hai bên, bình hoa và mâm quả bày phía trước bát hương, chén nước và chén rượu đặt trên cùng hàng với bát hương hoặc ngay phía trước. Nhiều nhà giữ lệ đông bình tây quả, tức nhìn từ trong bàn thờ ra thì bình hoa ở bên đông, đĩa quả ở bên tây. Lệ này cũng không nơi nào giống nơi nào.
Khác nhau giữa ba miền
| Miền | Những nét thường gặp |
|---|---|
| Bắc | Bàn thờ thường nhiều đồ thờ, có mâm bồng để quả, có đĩa trầu cau, có ban thờ trên cao ở gian giữa. Nhiều nhà khấn Thổ Công bằng một bài riêng trước khi khấn gia tiên. Lời khấn thường đọc thành bài đầy đủ như trên trang này, có khi chép ra giấy để đọc. |
| Trung | Nếp thờ ở vùng Huế và phụ cận chịu ảnh hưởng lối lễ nghi triều Nguyễn, bàn thờ gọn và trang nghiêm, lễ vật bày có thứ lớp. Nhiều gia đình giữ lệ cúng chay ngày rằm và mùng một. Lời khấn thường vắn hơn, và có nơi khấn bằng lời tự nói. |
| Nam | Người ta quen nói cúng rằm, cúng mùng một, và gọi hoa là bông. Ngoài bàn thờ ông bà trong nhà, nhiều nhà có bàn thờ Thông Thiên, còn gọi là bàn thiên, đặt ngoài hiên để thờ trời, và bàn thờ Ông Địa với Thần Tài đặt sát nền nhà. Lời khấn thường mộc, nhiều người vái và thưa bằng lời của mình thay vì đọc cả bài. |
Cần nói rõ rằng những khác biệt trên là khác biệt về nếp, không phải về đúng sai. Trang trụ Thờ Cúng Tổ Tiên đã ghi điều ấy làm câu mở đầu: tục lệ mỗi vùng mỗi khác, mỗi họ mỗi khác, và không nơi nào sai cả.
Các dịp khác có bài khấn riêng
Bài trên trang này là bài của lễ nhỏ hằng tháng. Các sách văn khấn in cả một hệ bài khác cho từng dịp, với bố cục gần giống nhưng lời xưng ngày và lời xin khác đi. Bảng dưới liệt kê những dịp thường gặp.
| Dịp | Bài khấn riêng thường gặp |
|---|---|
| Hai mươi ba tháng Chạp | Văn khấn tiễn ông Công ông Táo về trời. |
| Chiều ba mươi Tết | Văn khấn tất niên và văn khấn rước ông bà về ăn Tết. |
| Đêm giao thừa | Hai bài riêng: khấn giao thừa ngoài trời và khấn giao thừa trong nhà. |
| Mùng một Tết và ngày hóa vàng | Văn khấn gia tiên ngày Tết, và văn khấn tiễn ông bà vào mùng ba hay mùng bốn tùy nhà. |
| Rằm tháng Giêng | Văn khấn Tết Nguyên Tiêu, tức rằm Thượng Nguyên. |
| Tiết Thanh Minh | Văn khấn khi tảo mộ, tức đi sửa sang mộ phần ông bà. |
| Ngày giỗ | Hai bài: khấn ngày tiên thường, tức hôm trước ngày giỗ, và khấn ngày chính kỵ. Bài giỗ thường kể đủ cao tằng tổ khảo và gọi đích danh người được giỗ. |
| Rằm tháng Bảy | Văn khấn gia tiên ngày Vu Lan, và một bài riêng cúng chúng sinh, đặt ngoài trời. |
| Việc lớn trong nhà | Các bài khấn báo gia tiên khi cưới hỏi, sinh con, vào nhà mới, đi xa. |
Ngoài hệ văn khấn Nôm, dòng họ lớn còn giữ lối văn tế chữ Hán cho những dịp tế tổ ở nhà thờ họ, và ở tầm quốc gia có ngày giỗ chung là Giỗ Tổ Hùng Vương mùng mười tháng Ba âm lịch, tín ngưỡng được UNESCO ghi danh năm 2012 theo trang Đền Hùng trong thư viện. Tới đó thì bài khấn gia tiên trong nhà và lễ dâng hương ở đền Hùng là cùng một mạch, chỉ khác quy mô.
VINgười Việt Khấn Khi Nào Và Ra Sao
Lễ sóc vọng là lễ đều đặn nhất của bàn thờ gia tiên, mỗi tháng hai lần. Phần dưới tả những gì người quan sát thường thấy ở các gia đình, không phải hướng dẫn quý vị làm theo.
Phổ biến nhất là buổi sáng ngày mùng một và ngày rằm. Có nhà cúng từ tối hôm trước, tức tối ba mươi hoặc tối hai mươi chín với tháng thiếu, và tối mười bốn. Có nhà cúng buổi chiều sau giờ làm. Nhịp sống thành thị làm giờ cúng xê dịch nhiều.
Theo nếp cũ, người khấn là chủ nhà, thường là người đàn ông lớn nhất hay con trưởng. Ngày nay ở rất nhiều nhà, người khấn là người mẹ hay người vợ, là người lo việc thờ cúng hằng ngày. Người khấn xưng tín chủ con thay cho cả nhà.
Người khấn đứng hoặc quỳ trước bàn thờ, thắp hương, thường là ba nén vào ngày rằm và mùng một, hai tay cầm hương đưa ngang trán, vái, rồi khấn. Khấn xong thì cắm hương vào bát hương và vái thêm. Nhiều người niệm câu Nam mô A Di Đà Phật ba lần kèm ba vái ở đầu và cuối.
Phần lớn người ta khấn nhỏ, đủ nghe bên mình, hoặc khấn thầm. Có người thuộc lòng, có người cầm tờ giấy chép sẵn hoặc đọc trên điện thoại. Có người không đọc bài mà thưa mấy câu bằng lời của mình.
Người ta chờ hương cháy gần hết, dân gian gọi là hết một tuần hương, rồi mới hạ lễ. Hoa quả hạ xuống được chia cho cả nhà dùng, gọi là thụ lộc. Có nhà đốt vàng mã sau lễ, có nhà không đốt.
Nhà có bàn thờ Phật thường thắp hương ở đó trước. Nhà có ban thờ Thổ Công, Thần Tài hay bàn thiên thì có lệ riêng về thứ tự, thường là thần trước rồi tới gia tiên, đúng như trật tự trong chính bài khấn.
Khác nhau giữa các nhà
Nhà theo Phật Giáo thuần thành có thể tụng thêm một thời kinh ngắn như Bát Nhã Tâm Kinh hay niệm Phật trước khi khấn gia tiên. Nhà không theo đạo nào vẫn giữ bài khấn với câu niệm Phật, vì đó là bài đã quen. Gia đình theo các đạo khác có bàn thờ ông bà thì thường dùng lời cầu nguyện riêng của đạo mình thay cho bài này. Người trẻ sống xa nhà, thuê trọ, nhiều khi không có bàn thờ, thì chỉ thắp một nén hương hay gọi điện về nhà nhắc hôm nay là ngày rằm.
Thư viện ghi lại những điều trên để quý vị hiểu điều mình thấy trong nhà mình và nhà người khác. Nhà nào giữ nếp nào là việc riêng của nhà ấy, và người biết rõ nhất nếp nhà là người lớn trong nhà.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì bài khấn được chép lại quá nhiều, trên sách, trên báo, trên mạng, và mỗi nơi chép một kiểu, nên quanh nó cũng nảy ra nhiều ý nghĩ lệch. Năm điểm dưới đây là những chỗ gặp thường hơn cả.
Không có bài chuẩn duy nhất. Bốn bản thư viện đối chiếu, dù cùng ghi dẫn một nhà xuất bản, đã khác nhau ở chữ tín chủ, gia chủ hay hương chủ, ở danh sách các vị thần được mời, ở chữ lòng thành hay tâm thành. Chính bố cục và ý của bài mới là phần ổn định. Các sách văn khấn cũng thường ghi rằng điều cốt lõi là lòng thành.
Câu niệm Phật đi vào bài khấn gia tiên từ sự hòa trộn lâu đời giữa tín ngưỡng dân gian và Phật Giáo. Nhiều nhà không quy y, không đi chùa vẫn giữ nguyên câu ấy vì đó là bài họ đã quen từ ông bà. Ngược lại có nhà đi chùa đều nhưng khấn gia tiên bằng lời mộc không có câu niệm Phật.
Khảo là cha đã mất, tỷ là mẹ đã mất. Người còn cha mẹ mà đọc hiển khảo hiển tỷ là đọc lệch nghĩa. Bản VOH ghi rõ trường hợp này thì thay bằng tổ khảo, tổ tỷ, tức ông bà. Muốn gọi rộng các đời thì dùng cụm cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ.
Cù lao trong câu này là chữ Hán nghĩa là khó nhọc, lấy từ câu Kinh Thi nói về công cha mẹ sinh con vất vả, cùng gốc với chữ chín chữ cù lao. Nó không liên quan tới cù lao là cồn đất giữa sông.
Việc thờ cúng tổ tiên thì rất xưa, nhưng bài văn khấn Nôm như ta đọc ngày nay không có bản gốc có tên người soạn và năm soạn. Các bản lưu hành rộng chủ yếu đến từ sách văn khấn in phổ thông, và mỗi lần in lại có thể thêm bớt. Lối văn tế chữ Hán trong gia lễ mới là lớp văn bản cũ hơn, và nó khác bài này cả về chữ lẫn về câu.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn khấn gia tiên ngày rằm và mùng một có bản chuẩn không
Không có một bản chuẩn duy nhất. Bài khấn là văn dân gian, không có người soạn và không có cơ quan tôn giáo nào ban hành. Lối thường gặp nhất được in trong sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin và được báo chí chép lại, nhưng ngay các bản chép lại cũng khác nhau vài chữ. Trang này chép theo lối ấy và ghi rõ chỗ các bản khác nhau.
Tín chủ nghĩa là gì
Tín chủ 信主 là người chủ lễ có lòng tin, tức người đứng ra cúng thay cho cả nhà. Chữ tín ở đây là lòng tin, lòng thành, không có nghĩa là tín đồ một tôn giáo. Khấn một mình thì xưng tín chủ con, khấn thay cả nhà thì xưng tín chủ chúng con. Có bản văn khấn viết là gia chủ hay hương chủ, nghĩa không đổi.
Hiển khảo, hiển tỷ và cao tằng tổ khảo khác nhau thế nào
Khảo 考 là cha đã mất, tỷ 妣 là mẹ đã mất, và chữ hiển là chữ tôn xưng. Vậy hiển khảo hiển tỷ là cha mẹ đã khuất của người khấn. Cao tằng tổ khảo kể đủ các đời bên nội từ xa tới gần: cao là đời kỵ, tằng là đời cụ, tổ là đời ông, khảo là đời cha. Phía các bà thì gọi cao tằng tổ tỷ. Bài rằm và mùng một thường gọi gọn, còn bài giỗ và bài Tết hay kể đủ các đời.
Vì sao bài khấn ông bà lại bắt đầu bằng Nam mô A Di Đà Phật
Vì trong đời sống người Việt, tín ngưỡng thờ tổ tiên và Phật Giáo đã hòa vào nhau từ lâu. Nam mô A Di Đà Phật là câu niệm quen thuộc nhất của Phật Giáo Tịnh Độ, gắn với ước mong người đã khuất được về nơi an lành. Các bản văn khấn in phổ thông cũng đi qua tay người nhà Phật, như cuốn Văn khấn cổ truyền Việt Nam do Thượng tọa Thích Thanh Duệ hiệu đính. Câu niệm ấy không có nghĩa là nhà người khấn phải theo Phật Giáo.
Phục duy thượng hưởng nghĩa là gì, có trong bài khấn rằm không
Phục duy thượng hưởng 伏惟尚饗 là công thức kết của văn tế chữ Hán, nghĩa là cúi mình mà mong, xin về hưởng lễ. Nó thường gặp ở cuối các bài chúc văn đọc trong ngày giỗ, ngày tế tổ ở nhà thờ họ. Bài khấn Nôm ngày rằm và mùng một không có câu này. Ý gần nhất trong bài là cụm đồng lai hâm hưởng, cùng về hưởng lễ, và cụm thụ hưởng lễ vật.