ITrước Khi Đọc
Vào ngày cuối cùng của tháng Sáu và ngày cuối cùng của tháng Mười Hai hằng năm, tại hàng vạn thần xã khắp quần đảo Nhật Bản, người dân bước qua một vòng tròn lớn bện bằng cỏ tranh xanh biếc dựng trước sân đền, tay cầm hình nhân giấy trắng khẽ hà hơi lên đó rồi đứng lặng nghe vị thần chức cất giọng ngân trầm hùng: Takama no hara ni kamu-tsumarimasu... Bài văn cổ kính dài hàng trăm âm tiết vang lên giữa tiếng gió chiều ấy chính là Ōharae no Kotoba (Đại Phất Từ), áng văn tế trọng đại và thiêng liêng bậc nhất của Thần Đạo Nhật Bản suốt hơn một thiên niên kỷ qua.
Nếu bài Haraekotoba tám dòng là lời tẩy uế ngắn gọn mở đầu trước mỗi nghi thức thường lệ, và bài Amatsu Norito là lời khấn tịnh hóa sáu căn trong truyền thống tu hành núi thiêng, thì Ōharae no Kotoba là bản giao hưởng thần thoại quy mô lớn nhất của thể loại văn khấn norito (Chúc Từ). Tên gọi Ōharae no Kotoba gồm ba thành tố: Ō (đại, lớn lao, toàn thể), harae (phất, phép thanh tẩy và giải trừ uế trược), và kotoba (từ, lời nói trang trọng). Ghép lại, Đại Phất Từ là lời văn cử hành trong lễ thanh tẩy lớn cho toàn thể quốc gia, cộng đồng và muôn dân dưới gầm trời.
Điểm làm nên sức nặng học thuật và tâm linh đặc biệt của Ōharae no Kotoba nằm ở cấu trúc ba tầng liền mạch như một bộ sử thi thu nhỏ. Tầng thứ nhất mở ra trên cánh đồng Takama-no-hara (Cao Thiên Nguyên), nơi tám trăm vạn chư thần hội họp theo lệnh hai đấng thần tổ Kamu-rogi và Kamu-romi để trao quyền cai trị xứ sở đồng bằng lau sậy trù phú cho Hoàng tôn, thu phục các thần linh hung dữ và khiến cả đá tảng, gốc cây, lá cỏ vốn biết nói chuyện cũng phải lặng im nhường chỗ cho trật tự thái bình. Tầng thứ hai đi thẳng vào đời sống thực tại của con người trên mặt đất: dù đất nước đã an định, con người sinh sôi ngày một đông khó tránh khỏi những lầm lỗi vô tình hay hữu ý, được phân loại rành mạch thành các lỗi thuộc phần trời (Amatsu-tsumi, gắn với nông nghiệp lúa nước và không gian tế lễ) và các lỗi thuộc phần đất (Kunitsu-tsumi, gắn với máu me, tật bệnh, loạn luân, tai ương chim thú và bùa ngải). Tầng thứ ba, cũng là đoạn thơ nổi tiếng nhất văn học nghi lễ Nhật Bản, miêu tả cơ chế vận hành của sự thanh tẩy: khi quan tư tế họ Nakatomi cắt gỗ thiêng kanagi, chẻ cỏ sugaso và tuyên đọc lời Amatsu-norito, chư thần trên trời mở cửa đá lắng nghe, chư thần dưới đất vén mây đỉnh núi chứng giám, rồi Tứ Trụ Thần Thanh Tẩy (Harai-do no Ōkami) lần lượt chuyền tay nhau cuốn phăng mọi tội lỗi và uế trược từ đỉnh núi cao theo dòng thác đổ ra biển khơi, nuốt vào xoáy nước đại dương, thổi bạt xuống tận Căn Quốc (Ne-no-kuni) dưới lòng đất và làm cho tan biến vĩnh viễn không còn dấu vết.
Trang này trình bày trọn vẹn hai mươi câu đoạn cốt lõi của bản văn theo phiên tự Hepburn chuẩn quốc tế, đặt song song cấu trúc gốc trong Quyển 8 bộ Engishiki năm 927 với bản tụng chuẩn của Hiệp hội Thần xã Bản sảnh (Jinja Honchō), kèm hướng dẫn ngắt nhịp tụng Senmyō-gaki, giải nghĩa từ vựng Yamato cổ và hai bản dịch tiếng Việt, tiếng Anh do thư viện biên soạn độc lập.
Theo giáo nghĩa Thần Đạo truyền thống, sức mạnh thanh tẩy của Ōharae no Kotoba dựa trên hai trụ cột tư tưởng là Kotodama (Ngôn Linh, linh hồn và năng lượng sống nằm trong lời nói chân chính) và Naka-ima (Trung Kim, khoảnh khắc hiện tại sáng trong đứng giữa dòng thời gian). Người Nhật cổ tin rằng khi những lời norito cổ xưa được xướng lên bằng âm điệu chuẩn xác với tấm lòng Makoto (chân thành, trong sáng như gương), chính âm thanh ấy tạo ra sự chấn động làm rụng rời những lớp bụi bặm tsumi (lỗi lầm) và kegare (ô uế) đang bám quanh sinh khí (ki) của con người. Khác với quan niệm tội nguyên tổ hay bản án chung thẩm nơi tòa phán xét cuối cùng, Thần Đạo nhìn nhận bản tính nguyên sơ của con người vốn thanh tịnh như dòng nước suối trên đỉnh núi; mọi lỗi lầm phát sinh trong năm tháng sống giữa đời đều có thể được gột rửa sạch sẽ qua nghi thức Ōharae để con người trở về trạng thái tươi mới ban đầu (Yomigaeri, sự hồi sinh của sinh lực).
Xét theo lịch sử văn bản và khảo cổ học chữ viết Nhật Bản, Ōharae no Kotoba là một trong những di sản ngôn ngữ cổ xưa nhất còn được sử dụng sống động tới thế kỷ 21. Trong bộ luật lễ Engishiki (Diên Hỷ Thức, gồm 50 quyển hoàn thành năm 927 thời Heian), Quyển 8 chép trọn vẹn 27 bài văn tế Norito của triều đình, trong đó bài số 10 mang nhan đề Minazuki no Tsugomori no Ōharae (Đại Phất ngày cuối tháng Sáu, kèm ghi chú áp dụng tương tự cho lễ cuối tháng Mười Hai). Trong nguyên bản năm 927, đây chưa phải là lời cầu nguyện của tín đồ hướng lên thần linh, mà là lời tuyên chỉ thanh tẩy (Senmyō) do quan đại thần dòng họ Nakatomi thay mặt Thiên hoàng đọc lớn trước các thân vương, công khanh và bách quan văn võ tụ họp trước cổng Chu Tước (Suzakumon) của hoàng thành vào chiều ngày 30 tháng 6 và 30 tháng 12 âm lịch, mở đầu bằng câu Ugomoyawaru miko-tachi, ōkimi-tachi, maetsukimi-tachi, momo no tsukasa no hito-domo, moromoro kikoshimese to noru (Hỡi các thân vương, chư vương, đại thần và trăm quan hiện diện nơi đây, hãy cùng lắng nghe lời tuyên này).
Bước ngoặt lớn của văn bản diễn ra từ cuối thời Heian sang thời Kamakura (thế kỷ 12 tới thế kỷ 14). Khi nghi lễ cung đình suy giảm nhưng nhu cầu thanh tẩy của giới võ sĩ và dân chúng tăng cao, các dòng tư tế họ Nakatomi (và nhánh Fujii, Urabe) cùng các nhà thần học Thần Đạo trung đại đã cắt bỏ phần mở đầu gọi trăm quan và phần kết nói về ngựa thiêng cùng bốn đoàn quan bói Urabe, biến bài tuyên chỉ hành chính thành một bài kinh cầu nguyện trực tiếp dâng lên chư thần, gọi là Nakatomi no Harae (Trung Thần Phất) hay Nakatomi no Harae Kunge (Trung Thần Phất Huấn Giải). Thậm chí trong giai đoạn Shinbutsu shūgō (Thần Phật tập hợp), các tu sĩ Phật giáo và hành giả Shugendō còn trì tụng bài này hàng nghìn biến như một bản đà la ni bản địa để cầu tiêu tai giải nạn. Sau cuộc Duy tân Minh Trị (1868) và đặc biệt từ khi Hiệp hội Thần xã Bản sảnh (Jinja Honchō) thành lập năm 1946, văn bản được chuẩn hóa trên toàn quốc dưới tên gọi Ōharae no Kotoba.
IIToàn Văn Ōharae No Kotoba (20 Đoạn Cốt Lõi) Và Khảo Dị Ba Bản Văn
Bảng dưới đây trình bày trọn vẹn hai mươi câu đoạn của Ōharae no Kotoba. Cột nguyên bản chép tiếng Nhật cổ điển bằng hệ phiên tự Hepburn chuẩn quốc tế có dấu trường âm. Cột thứ hai ghi cách ngắt nhịp lấy hơi khi tụng Norito (truyền thống viết lối Senmyō-gaki dùng chữ lớn cho gốc từ và chữ nhỏ cho trợ từ ngữ pháp) kèm giải thích các từ khóa Yamato cổ. Hai cột dịch nghĩa tiếng Việt và tiếng Anh giữ sát từng hình ảnh ẩn dụ của nguyên tác.
| Câu | Nguyên bản Nhật cổ (Hepburn) | Nhịp tụng Norito và từ cổ | Bản dịch tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Takama no hara ni kamu-tsumarimasu, sumera ga mutsu Kamu-rogi Kamu-romi no mikoto mochite, yaoyorozu no kami-tachi wo kamu-tsudoe ni tsudoe-tamai, kamu-hakari ni hakari-tamaite, | Nhịp tụng: Takama no hara ni / kamu-tsumarimasu / sumera ga mutsu / Kamu-rogi Kamu-romi no mikoto mochite / yaoyorozu no kami-tachi wo / kamu-tsudoe ni tsudoe-tamai / kamu-hakari ni hakari-tamaite | Từ cổ: kamu-tsumarimasu (ngự tụ linh thiêng), Kamu-rogi Kamu-romi (Thần Tổ Nam và Thần Tổ Nữ). | Trên cánh đồng Cao Thiên Nguyên nơi chư thần ngự tụ, vâng theo thánh mệnh của hai đấng Thần Tổ chí thân của Hoàng gia là Kamu-rogi và Kamu-romi, tám trăm vạn vị thần đã được triệu tập về trong đại hội thần linh và cùng nhau bàn định trong cuộc nghị sự thiêng liêng, | By the august command of the Sovereign's beloved ancestral deities Kamu-rogi and Kamu-romi, who dwell in divine assembly upon the Plain of High Heaven, the eight million kami were gathered together in a sacred convocation and took counsel in a divine deliberation, |
| 2 | Aga sumeragi no mikoto wa, Toyo-ashihara no mizuho no kuni wo, yasu-kuni to tairakeku shiroshimese to, koto-yosashi-matsuriki. | Nhịp tụng: Aga sumeragi no mikoto wa / Toyo-ashihara no mizuho no kuni wo / yasu-kuni to / tairakeku shiroshimese to / koto-yosashi-matsuriki | Từ cổ: sumeragi no mikoto (Hoàng tôn Ninigi), Toyo-ashihara no mizuho no kuni (Xứ sở đồng bằng lau sậy trù phú những bông lúa tươi tốt), koto-yosashi (ủy thác mệnh lệnh). | rồi trao lời ủy thác cho đấng Hoàng Tôn tôn quý của chúng ta rằng: Hãy cai trị xứ sở Đồng Bằng Lau Sậy Trù Phú Những Bông Lúa Tươi Tốt này trong cảnh thái bình như một quốc độ an ổn. | and they reverently entrusted their mandate to our august Heavenly Grandchild, declaring: Rule over this Land of Luxuriant Reed Plains and Fresh Rice Ears in peace and tranquility as a land at rest. |
| 3 | Kaku yosashi-matsurishi kunuchi ni, araburu kami-domo wo ba, kamu-towashi ni towashi-tamai, kamu-harai ni harai-tamaite, koto-toishi iwa-ne ki-ne tachi, kusa no kakiha wo mo koto-yamete, | Nhịp tụng: Kaku yosashi-matsurishi kunuchi ni / araburu kami-domo wo ba / kamu-towashi ni towashi-tamai / kamu-harai ni harai-tamaite / koto-toishi iwa-ne ki-ne tachi / kusa no kakiha wo mo koto-yamete | Từ cổ: araburu kami (các vị thần hung bạo bất phục), kusa no kakiha (từng phiến lá ngọn cỏ biết nói tiếng ồn ào). | Trong cõi đất đã được ủy thác như thế, phàm những vị thần hung bạo ngang ngược thì được chư thần tra hỏi nghiêm minh và trục xuất thanh tẩy; ngay cả những tảng đá lớn, gốc cây cổ thụ và từng phiến lá ngọn cỏ vốn cất tiếng huyên náo cũng đều phải lặng im, | Within the land thus entrusted to him, whatever unruly and turbulent deities there were, the gods questioned with divine questioning and swept away with divine expulsion, silencing even the rocks, the tree stumps and the single blades of grass that had formerly spoken aloud, |
| 4 | Ame no iwakura hanachi, ame no yaegumo wo izu no chiwaki ni chiwakite, amakudashi-yosashi-matsuriki. | Nhịp tụng: Ame no iwakura hanachi / ame no yaegumo wo / izu no chiwaki ni chiwakite / amakudashi-yosashi-matsuriki | Từ cổ: ame no iwakura (tòa bảo tọa bằng đá vững chãi trên trời), izu no chiwaki (vén mở uy dũng rẽ lối ngàn tầng). | để đấng Hoàng Tôn rời khỏi bảo tọa đá trên trời, uy dũng rẽ lối xuyên qua tám tầng mây dày mà giáng lâm xuống trần gian nhận lãnh sứ mệnh. | and causing him to leave his heavenly rock-throne and cleave a mighty path through the eightfold clouds of heaven, they sent him down from heaven with his sovereign charge. |
| 5 | Kaku yosashi-matsurishi yomo no kuni naka to, Ōyamato Hidakami no kuni wo yasu-kuni to sadame-matsurite, shitatsu iwa-ne ni miya-bashira futo-shiki-tate, | Nhịp tụng: Kaku yosashi-matsurishi / yomo no kuni naka to / Ōyamato Hidakami no kuni wo / yasu-kuni to sadame-matsurite / shitatsu iwa-ne ni / miya-bashira futo-shiki-tate | Từ cổ: yomo no kuni naka (trung tâm của bốn phương đất nước), shitatsu iwa-ne (tảng đá gốc sâu dưới lòng đất). | Giữa bốn phương bờ cõi đã được giao phó ấy, vùng đất Ōyamato Hidakami tràn ngập ánh mặt trời được chọn làm trung tâm quốc độ an lành; trên nền tảng đá sâu dưới lòng đất, những cây cột cung điện lớn được dựng lên vững chãi, | At the center of the four quarters of the realm thus entrusted to him, the sun-blessed land of Ōyamato Hidakami was established as a peaceful heartland; firmly planting stout palace pillars down upon the deepest bedrock below, |
| 6 | Takama no hara ni chigi takashirite, sumeragi no mikoto no mizu no mi-araka tsukae-matsurite, ame no mikage hi no mikage to kakurimashite, yasu-kuni to tairakeku shiroshimesamu kunuchi ni, | Nhịp tụng: Takama no hara ni / chigi takashirite / sumeragi no mikoto no / mizu no mi-araka tsukae-matsurite / ame no mikage hi no mikage to kakurimashite / yasu-kuni to tairakeku shiroshimesamu kunuchi ni | Từ cổ: chigi (đầu kèo gỗ bắt chéo trên nóc đền), mizu no mi-araka (điện ngự uy nghi tươi mới). | với những đầu kèo chigi vươn cao chạm tới cánh đồng Cao Thiên Nguyên, kiến tạo nên tòa cung điện rạng ngời của đấng Hoàng Tôn, để Ngài ngự dưới bóng che của vòm trời và ánh mặt trời mà trị vì đất nước trong cảnh thái bình thịnh trị. | and raising the crossed roof-beams high toward the Plain of High Heaven, they built the fresh and noble palace of the august Sovereign, where dwelling beneath the shelter of heaven and the shade of the sun he rules the realm in peace and tranquility. |
| 7 | Nari-idemu ame no masuhito-ra ga, ayamachi-okashikemu kusagusa no tsumi-koto wa, | Nhịp tụng: Nari-idemu / ame no masuhito-ra ga / ayamachi-okashikemu / kusagusa no tsumi-koto wa | Từ cổ: ame no masuhito (muôn dân trăm họ ngày một sinh sôi nảy nở dưới gầm trời), ayamachi-okashikemu (trót lầm lỡ phạm phải). | Thế nhưng trong cõi đất ấy, muôn dân trăm họ ngày một sinh sôi nảy nở khó tránh khỏi có lúc vô tình hay lầm lỡ phạm phải đủ thứ lỗi lầm và điều uế tạp; | Yet within this land, among the ever-multiplying people born beneath heaven, manifold offenses and transgressions will inevitably be committed through error or fault: |
| 8 | Amatsu-tsumi to wa, ahanachi, mizoume, hihanachi, shikimaki, kushisashi, ikihagi, sakahagi, kusohe, kokodaku no tsumi wo Amatsu-tsumi to nori-wakete, | Nhịp tụng (Engishiki): Amatsu-tsumi to wa / ahanachi, mizoume, hihanachi / shikimaki, kushisashi / ikihagi, sakahagi, kusohe / kokodaku no tsumi wo / Amatsu-tsumi to nori-wakete | Từ cổ: ahanachi (phá bờ ruộng), mizoume (lấp mương nước), ikihagi sakahagi (lột da sống, lột ngược da thú), kusohe (bôi bẩn nơi tế lễ). | phân định ra các Lỗi Thuộc Phần Trời (Amatsu-tsumi) gồm: phá bờ ruộng, lấp mương dẫn nước, tháo cống máng, gieo hạt chồng lên ruộng người khác, cắm cọc chiếm ruộng, lột da sống thú vật, lột ngược da thú và phóng uế làm bẩn chốn thanh tịnh; bấy nhiêu điều được tuyên phân là Lỗi Thuộc Phần Trời; | setting apart the Heavenly Offenses (Amatsu-tsumi), namely breaking down rice-field ridges, filling in irrigation channels, opening sluice-gates, sowing seed over another's planted field, driving stakes into rice paddies, flaying animals alive, flaying animals backward, and scattering excrement in sacred places; all these are proclaimed and distinguished as Heavenly Offenses; |
| 9 | Kunitsu-tsumi to wa, ikihadadachi, shini-hadadachi, shirohito, kokumi, onogaha okaseru tsumi, onogako okaseru tsumi, hahakomi okaseru tsumi, kokomi okaseru tsumi, kemono okaseru tsumi, hau mushi no wazawai, takatsu-kami no wazawai, takatsu-tori no wazawai, kemono-taoshi, majimono seru tsumi, kokodaku no tsumi idemu. | Nhịp tụng (Engishiki): Kunitsu-tsumi to wa / ikihadadachi, shini-hadadachi / shirohito, kokumi / ... / hau mushi no wazawai / takatsu-kami no wazawai / takatsu-tori no wazawai / kemono-taoshi, majimono seru tsumi / kokodaku no tsumi idemu (Bản Jinja Honchō gộp câu 8 và 9 thành: Amatsu-tsumi Kunitsu-tsumi, kokodaku no tsumi idemu). | còn các Lỗi Và Tai Ương Thuộc Phần Đất (Kunitsu-tsumi) gồm: làm rách da chảy máu người sống, phạm vào da xác người chết, tật bạch tạng, tật u bướu, các tội loạn luân với mẹ, với con, với mẹ con cùng lúc, tội giao cấu với súc vật, tai họa do rắn rết côn trùng bò cắn, tai họa sét đánh từ thần trên cao, tai họa do chim dữ trên không, cùng tội dùng tà thuật giết hại gia súc và yểm bùa rủa hại người; biết bao lỗi lầm và tai ương như thế sẽ phát sinh. | and the Earthly Offenses and Calamities (Kunitsu-tsumi), namely cutting the skin of the living, cutting the skin of the dead, skin-whitening affliction, excrescences, the offense of violating one's own mother, violating one's own child, violating a mother and her daughter, violating a daughter and her mother, violating beasts, calamities from creeping serpents and insects, calamities from lightning of the gods on high, calamities from birds on high, killing another's livestock by curses, and practicing black sorcery; a multitude of such offenses will arise. |
| 10 | Kaku idaba, amatsu-miya-goto mochite, Ōnakatomi, amatsu-kanagi wo moto uchi-kiri sue uchi-tachite, chikura no oki-kura ni oki-tarawashite, amatsu-sugaso wo moto kari-tachi sue kari-kirite, yahari ni tori-sakite, | Nhịp tụng: Kaku idaba / amatsu-miya-goto mochite / Ōnakatomi / amatsu-kanagi wo / moto uchi-kiri sue uchi-tachite / chikura no oki-kura ni oki-tarawashite / amatsu-sugaso wo / moto kari-tachi sue kari-kirite / yahari ni tori-sakite | Từ cổ: amatsu-kanagi (gỗ thiêng làm thẻ lễ), chikura no oki-kura (ngàn bàn lễ vật), amatsu-sugaso (cỏ cói thanh tịnh), yahari (tước nhỏ bằng tám mũi kim). | Một khi những lỗi lầm ấy xuất hiện, chiếu theo nghi quỹ của thiên cung, quan đại tư tế dòng họ Ōnakatomi liền chặt gốc và cắt ngọn các nhành gỗ thiêng amatsu-kanagi, bày biện đầy đủ trên hàng ngàn bàn lễ chikura no oki-kura, rồi cắt gốc và phạt ngọn những bó cỏ cói thanh tịnh amatsu-sugaso, tước nhỏ ra thành muôn sợi mảnh, | Whenever such offenses arise, in accordance with the rites of the heavenly court, let the Great Nakatomi cut the bases and trim the tips of heavenly ritual saplings, setting them in abundance upon a thousand offering tables, and let him reap the bases and trim the tips of pure heavenly sedge reeds, splitting them fine with eightfold needles, |
| 11 | Amatsu-norito no futo-norito-goto wo nore. | Nhịp tụng: Amatsu-norito no / futo-norito-goto wo / nore | Từ cổ: futo-norito-goto (lời chúc từ vĩ đại, trang trọng và linh ứng của cõi trời). Đây là đỉnh điểm mật truyền của toàn bài. | và trang nghiêm tuyên đọc những lời chúc từ vĩ đại của Thiên Cung Chúc Từ (Amatsu-norito no futo-norito-goto). | and let him pronounce the mighty ritual words of the Heavenly Norito (Amatsu-norito no futo-norito-goto). |
| 12 | Kaku noraba, amatsu-kami wa ame no iwa-to wo oshi-hirakite, ame no yaegumo wo izu no chiwaki ni chiwakite kikoshimesamu. Kunitsu-kami wa takayama no sue, hikuyama no sue ni nobori-mashite, takayama no ihori, hikuyama no ihori wo kaki-wakete kikoshimesamu. | Nhịp tụng: Kaku noraba / amatsu-kami wa / ame no iwa-to wo oshi-hirakite / ame no yaegumo wo / izu no chiwaki ni chiwakite kikoshimesamu / Kunitsu-kami wa / takayama no sue, hikuyama no sue ni nobori-mashite / takayama no ihori, hikuyama no ihori wo / kaki-wakete kikoshimesamu | Từ cổ: ihori (lớp sương mù mây khói phủ quanh đỉnh núi). | Khi lời chúc từ ấy được tuyên đọc như vậy, chư vị Thiên Thần sẽ đẩy mở cánh cửa đá trên trời, rẽ lối xuyên qua tám tầng mây dày mà cúi xuống lắng nghe; còn chư vị Địa Thần sẽ ngự lên đỉnh những ngọn núi cao và đỉnh những ngọn núi thấp, vén màn sương mù trên núi cao núi thấp mà lắng tai chứng giám. | When he thus pronounces them, the Heavenly Kami will push open the rock door of heaven and, cleaving a path through the eightfold clouds of heaven, will deign to hear; and the Earthly Kami will ascend to the summits of the high mountains and the summits of the low mountains and, parting the mists of the high mountains and the mists of the low mountains, will deign to hear. |
| 13 | Kaku kikoshimeshiteba, tsumi to iu tsumi wa araji to, shinato no kaze no ame no yaegumo wo fuki-harau koto no gotoku, ashita no mi-giri yūbe no mi-giri wo, asakaze yūkaze no fuki-harau koto no gotoku, | Nhịp tụng: Kaku kikoshimeshiteba / tsumi to iu tsumi wa araji to / shinato no kaze no / ame no yaegumo wo fuki-harau koto no gotoku / ashita no mi-giri yūbe no mi-giri wo / asakaze yūkaze no fuki-harau koto no gotoku | Từ cổ: shinato no kaze (ngọn gió mạnh của thần gió Shinatsuhiko). | Một khi chư thần đã lắng nghe chứng giám như thế, thì hết thảy mọi điều gọi là lỗi lầm đều chẳng còn sót lại: tựa như ngọn gió mạnh Shinato thổi tan tám tầng mây dày trên bầu trời, tựa như làn gió sớm và làn gió chiều thổi tan màn sương mai và màn sương chiều, | When they thus deign to hear, no offense whatsoever that is called an offense shall remain: just as the gale wind of Shinato blows away the eightfold clouds of heaven, just as the morning breeze and the evening breeze blow away the morning mist and the evening mist, |
| 14 | Ōtsu-be ni oru ōfune wo, he tokihanachi tomo tokihanachite, ō-unabara ni oshi-hanatsu koto no gotoku, ochikata no shigeki ga moto wo, yakigama no tokama mochite, uchi-harau koto no gotoku, nokoru tsumi wa araji to, harae-tamai kiyome-tamau koto wo, | Nhịp tụng: Ōtsu-be ni oru ōfune wo / he tokihanachi tomo tokihanachite / ō-unabara ni oshi-hanatsu koto no gotoku / ochikata no shigeki ga moto wo / yakigama no tokama mochite / uchi-harau koto no gotoku / nokoru tsumi wa araji to / harae-tamai kiyome-tamau koto wo | Từ cổ: he (mũi thuyền), tomo (lái thuyền), yakigama no tokama (lưỡi liềm sắc đã tôi qua lửa đỏ). | tựa như con thuyền lớn neo bên bến cảng rộng được tháo dây mũi và cởi dây lái rồi đẩy ra giữa đại dương mênh mông, và tựa như dùng lưỡi liềm sắc bén đã tôi qua lửa đỏ mà phát quang hết những bụi cây rậm rạp phía đằng xa; chẳng còn một lỗi lầm nào lưu lại khi được chư thần thanh tẩy và làm cho trong sạch: | just as a great ship moored in a spacious harbor has its prow-rope loosed and its stern-rope loosed and is pushed out onto the vast ocean plain, and just as the dense brushwood over yonder is swept clean at the roots with a sharp sickle tempered in fire, so shall no offense remain unpurified, as the kami sweep them away and make all pure: |
| 15 | Takayama no sue, hikuyama no sue yori, sakunadari ni ochi-tagitsu hayakawa no se ni masu Seoritsuhime to iu kami, ō-unabara ni mochi-idenamu. | Nhịp tụng: Takayama no sue, hikuyama no sue yori / sakunadari ni ochi-tagitsu / hayakawa no se ni masu / Seoritsuhime to iu kami / ō-unabara ni mochi-idenamu | Từ cổ: sakunadari ni (đổ nhào sườn dốc dựng đứng), Seoritsuhime (Thần nữ ngự nơi ghềnh nước chảy xiết). | Từ đỉnh những ngọn núi cao và đỉnh những ngọn núi thấp, nơi dòng sông chảy xiết đổ thác ầm ầm xuống sườn dốc, có vị thần mang danh hiệu Seoritsuhime ngự trị sẽ cuốn hết mọi uế trược ấy mang ra tận biển khơi mênh mông. | The kami named Seoritsuhime, who dwells in the rapids of the swift rivers that cascade roaring down from the summits of the high mountains and the summits of the low mountains, shall bear them all out into the vast ocean plain. |
| 16 | Kaku mochi-ide-inaba, arashio no shio no yaomichi no, shio no yao-ai ni masu Hayaakitsuhime to iu kami, mochi-kakami-nomitemu. | Nhịp tụng: Kaku mochi-ide-inaba / arashio no shio no yaomichi no / shio no yao-ai ni masu / Hayaakitsuhime to iu kami / mochi-kakami-nomitemu | Từ cổ: shio no yaomichi (tám trăm luồng hải lưu dữ dội), shio no yao-ai (tâm điểm nơi tám trăm dòng thủy triều xoáy gặp nhau), kakami-nomu (uống chửng, nuốt trọn xuống đáy). | Khi đã được mang ra biển khơi như vậy, tại nơi tám trăm luồng sóng dữ và tám trăm dòng thủy triều giao hội cuộn xoáy vào nhau, có vị thần mang danh hiệu Hayaakitsuhime ngự trị sẽ đón lấy mà uống chửng và nuốt trọn hết thảy. | When she has thus borne them out, the kami named Hayaakitsuhime, who dwells at the confluence of the eight hundred tides along the eight hundred sea-ways of the surging brine, shall take them and swallow them down. |
| 17 | Kaku kakami-nomiteba, Ibukido ni masu Ibukido-nushi to iu kami, Ne-no-kuni Soko-no-kuni ni ibuki-hanachitemu. | Nhịp tụng: Kaku kakami-nomiteba / Ibukido ni masu / Ibukido-nushi to iu kami / Ne-no-kuni Soko-no-kuni ni / ibuki-hanachitemu | Từ cổ: Ibukido (cửa luồng hơi thổi mạnh), Ne-no-kuni Soko-no-kuni (Căn Quốc, Đế Quốc, cõi rễ cây và đáy sâu dưới lòng đất). | Khi đã được nuốt trọn xuống đáy như thế, tại Cửa Luồng Hơi Thổi (Ibukido), có vị thần mang danh hiệu Ibukido-nushi ngự trị sẽ dùng hơi thở dũng mãnh mà thổi bạt tất cả xuống tận Căn Quốc và Đế Quốc nơi đáy sâu dưới lòng đất. | When she has thus swallowed them down, the kami named Ibukido-nushi, who dwells at the Gate of Breath, shall blow them away with a mighty blast of breath into the Root Realm, the Deep Bottom Land. |
| 18 | Kaku ibuki-hanachiteba, Ne-no-kuni Soko-no-kuni ni masu Hayasasurahime to iu kami, sasurai-ushinaitemu. | Nhịp tụng: Kaku ibuki-hanachiteba / Ne-no-kuni Soko-no-kuni ni masu / Hayasasurahime to iu kami / sasurai-ushinaitemu | Từ cổ: sasurai-ushinau (mang đi phiêu bạt khắp nơi rồi làm cho tiêu tán mất hẳn không còn tung tích). | Khi đã được thổi bạt xuống đó rồi, tại Căn Quốc và Đế Quốc nơi đáy sâu ấy, có vị thần mang danh hiệu Hayasasurahime ngự trị sẽ đón lấy, mang đi phiêu tán và làm cho tiêu biến mất hẳn không còn dấu vết. | When he has thus blown them away, the kami named Hayasasurahime, who dwells in the Root Realm, the Deep Bottom Land, shall take them, wander off with them, and cause them to vanish utterly. |
| 19 | Kaku sasurai-ushinaiteba, tsumi to iu tsumi wa araji to, harae-tamai kiyome-tamau koto wo, amatsu-kami kunitsu-kami, yaoyorozu no kami-tachi tomo ni, kikoshimese to mōsu. | Nhịp tụng: Kaku sasurai-ushinaiteba / tsumi to iu tsumi wa araji to / harae-tamai kiyome-tamau koto wo / amatsu-kami kunitsu-kami / yaoyorozu no kami-tachi tomo ni / kikoshimese to mōsu | Đây là câu kết chuẩn hiện hành của bản Ōharae no Kotoba (Jinja Honchō). | Một khi đã được làm cho tiêu biến mất hẳn như vậy, trong thiên hạ sẽ chẳng còn điều gì gọi là lỗi lầm hay ô uế nữa; cúi xin chư vị Thiên Thần, Địa Thần cùng tám trăm vạn chư thần khắp cõi hãy đồng lòng lắng nghe và chứng giám cho sự thanh tẩy trong sạch này. | When she has thus caused them to vanish utterly, no offense whatsoever that is called an offense shall remain; and that all be thus swept away and purified, we humbly pray the Heavenly Kami, the Earthly Kami and all the eight million kami together to deign to hear. |
| 20 | Harai-do no Ōkami-tachi, moromoro no magagoto tsumi kegare aramu wo ba, harae-tamai kiyome-tamae to, mōsu koto wo kikoshimese to, kashikomi kashikomi mo mōsu. | Nhịp tụng: Harai-do no Ōkami-tachi / moromoro no magagoto tsumi kegare aramu wo ba / harae-tamai kiyome-tamae to / mōsu koto wo kikoshimese to / kashikomi kashikomi mo mōsu | Công thức kính cáo khép khóa lễ hướng thẳng tới Tứ Trụ Thần Thanh Tẩy. | Kính lạy chư vị Đại Thần nơi chốn thanh tẩy (Harai-do no Ōkami), phàm có bất kỳ tai ương cong lệch, lỗi lầm hay ô uế nào, cúi xin chư vị hãy trừ bỏ đi cho và làm cho trong sạch trở lại; lời con chí thành tấu trình, xin chư vị đoái nghe, con xin hết lòng kính sợ, kính sợ mà thưa lên. | O Great Kami of the Place of Purification (Harai-do no Ōkami), whatever calamities, wrongs and defilements there may be, we pray you to sweep them away and make all clean; deign to hear these words that we humbly speak, in deepest awe, in deepest awe. |
Bảng khảo dị ba văn bản lịch sử của Đại Phất Từ (Engishiki 927, Nakatomi no Harae Kunge và Jinja Honchō)
Khi tra cứu Ōharae no Kotoba trong các thư tịch Nhật Bản hoặc lắng nghe tại các thần xã khác nhau, người đọc thường gặp ba hệ văn bản có những chỗ thêm bớt đặc thù tùy theo mục đích hành lễ. Bảng dưới đây đối chiếu cụ thể từng vị trí khác biệt để người nghiên cứu không bị bỡ ngỡ.
| Vị trí văn bản | Bản gốc Engishiki Quyển 8 (năm 927) | Bản Nakatomi no Harae Kunge (trung đại và giáo phái) | Bản chuẩn Jinja Honchō (thần xã hiện hành) |
|---|---|---|---|
| Lời mở đầu trước câu 1 | Mở bằng lời tuyên Ugomoyawaru miko-tachi, ōkimi-tachi, maetsukimi-tachi, momo no tsukasa no hito-domo, moromoro kikoshimese to noru (kêu gọi các thân vương, công khanh và trăm quan lắng nghe) rồi thêm đoạn kể các bậc quan lại hầu cận Thiên hoàng. | Lược bỏ hoàn toàn lời tuyên triệu tập trăm quan triều đình, bắt đầu thẳng bằng câu thần thoại Takama no hara ni kamu-tsumarimasu... để bất kỳ cá nhân hay cộng đồng nào cũng đọc được trước thần điện. | Bắt đầu thẳng bằng câu Takama no hara ni kamu-tsumarimasu... (câu 1 trong bảng trên), giữ đúng nhịp đối xứng với lời mở đầu của các bài norito lớn. |
| Danh mục lỗi lầm (Câu 8 và 9) | Liệt kê đầy đủ tám lỗi thuộc phần trời (Amatsu-tsumi: từ ahanachi tới kusohe) và mười bốn lỗi cùng tai ương thuộc phần đất (Kunitsu-tsumi: từ ikihadadachi tới majimono seru tsumi). | Nhiều dòng truyền thừa và giáo phái Thần Đạo giữ nguyên toàn bộ danh mục Amatsu-tsumi và Kunitsu-tsumi như trong Engishiki vì coi việc gọi đúng tên từng lỗi là điều kiện để giải trừ. | Rút gọn toàn bộ hai câu 8 và 9 thành chín chữ ngắn gọn: Amatsu-tsumi Kunitsu-tsumi, kokodaku no tsumi idemu (các lỗi trên trời và lỗi dưới đất, biết bao lỗi lầm sẽ phát sinh), giúp bài tụng thanh nhã và phù hợp với hội chúng hiện đại. |
| Lời đọc Amatsu-norito (Câu 11) | Viết ở thể mệnh lệnh tuyên chỉ: Amatsu-norito no futo-norito-goto wo nore (Hãy tuyên đọc lời chúc từ vĩ đại của Thiên Cung), và sau đó trong nghi lễ cổ quan tư tế ngừng lại để mật tụng hoặc đọc lời chúc riêng. | Thường đổi sang thể trần thuật hoặc cầu nguyện: Amatsu-norito no futo-norito-goto wo noramu, hoặc chèn thẳng bài ngắn Amatsu Norito vào ngay giữa câu 11 và câu 12. | Giữ nguyên câu cổ điển Amatsu-norito no futo-norito-goto wo nore, khi tụng thần chức ngắt một nhịp trang nghiêm trước khi bước sang câu Kaku noraba. |
| Phần kết bài (Câu 19 và 20) | Sau khi bốn vị thần thanh tẩy cuốn hết lỗi lầm, bản 927 thêm một đoạn dài nói về con ngựa thiêng vểnh tai nghe thấu trời và bốn đoàn quan bói Urabe của bốn xứ mang đồ lễ ra sông lớn tẩy bỏ lúc mặt trời lặn ngày 30 tháng Sáu. | Bỏ đoạn quan bói Urabe và ngựa thiêng của triều đình, thay bằng lời cầu nguyện yaoyorozu no kami-tachi tomo ni kikoshimese to mōsu kèm lời khấn riêng cho gia chủ được tai qua nạn khỏi. | Kết thúc chuẩn mực ở câu 19 (amatsu-kami kunitsu-kami, yaoyorozu no kami-tachi tomo ni, kikoshimese to mōsu), và trong nhiều khóa lễ đọc nối công thức kính cáo Harai-do no Ōkami ở câu 20. |
IIIGiải Nghĩa Từng Đoạn: Từ Cao Thiên Nguyên Tới Tứ Trụ Thần Thanh Tẩy
Để cảm nhận hết vẻ đẹp biền ngẫu của tiếng Nhật cổ thời Nara và đầu thời Heian, mười mục giải nghĩa dưới đây phân tích chi tiết hai mươi câu đoạn của Ōharae no Kotoba theo từng cặp vế, làm rõ ngữ nghĩa từ vựng cổ và bối cảnh lịch sử văn hóa đứng sau mỗi hình ảnh.
Mọi nghi thức trọng đại của Thần Đạo đều bắt đầu bằng việc đặt sự kiện hôm nay vào đúng điểm khởi nguyên của vũ trụ: Takama no hara (Cao Thiên Nguyên), cõi trời cao ngự trị của chư vị Amatsu-kami. Cụm động từ cổ kamu-tsumarimasu ghép tiền tố tôn xưng kamu (thần) với động từ tsumaru (tụ hội dày đặc) và trợ động từ tôn kính masu. Chủ tọa đại hội là cặp thần tổ Kamu-rogi (Thần Hoàng Sản Linh Tôn, nguyên lý sinh thành nam tính) và Kamu-romi (Nữ Thần Tổ, thường đồng nhất với Thái Dương Thần Nữ Amaterasu Ōmikami trong mạch thần thoại Kojiki và Nihon Shoki).
Chữ yaoyorozu no kami-tachi (tám trăm vạn vị thần) không phải một con số toán học cố định mà là cách nói biểu trưng của cổ ngữ Yamato chỉ sự vô lượng vô biên. Chư thần hội họp (kamu-tsudoe ni tsudoe) và bàn định (kamu-hakari ni hakari) theo lối lặp gốc động từ tạo âm vang trang trọng, rồi trao sứ mệnh (koto-yosashi) cho đấng Sumeragi no mikoto (tức Hoàng tôn Ninigi-no-Mikoto, cháu nội của Amaterasu) xuống cai trị Toyo-ashihara no mizuho no kuni, tên mỹ xưng cổ của Nhật Bản có nghĩa là Xứ Sở Đồng Bằng Lau Sậy Trù Phú Những Bông Lúa Nước Tươi Tốt.
Trước khi Hoàng tôn Ninigi có thể đặt chân xuống mặt đất, cõi trần gian trong thần thoại Nhật Bản được miêu tả như một thế giới hỗn mang đầy sinh lực hoang dã: có những vị araburu kami (thần linh hung dữ, bất phục), và ngay cả iwa-ne ki-ne tachi, kusa no kakiha (tảng đá lớn, gốc cây cổ thụ và từng phiến lá ngọn cỏ) cũng biết cất tiếng nói chuyện ầm ĩ (koto-toishi) vào ban đêm và tỏa ánh sáng lập lòe như đom đóm. Trong thế giới quan cổ đại Nhật Bản, việc đá cây cỏ lá biết nói tượng trưng cho trạng thái tự nhiên chưa có trật tự lễ nhạc phân định giữa cõi thần và cõi người.
Các sứ giả từ Cao Thiên Nguyên xuống chất vấn (kamu-towashi) và thanh tẩy khuất phục (kamu-harai) những thế lực hỗn loạn ấy, khiến đá cây cỏ lá đều phải lặng im (koto-yamete) trả lại sự tĩnh lặng thanh bình. Khi mặt đất đã sẵn sàng, Hoàng tôn Ninigi rời khỏi ame no iwakura (tòa bảo tọa đá trên trời), rẽ mở tám tầng mây dày (ame no yaegumo wo izu no chiwaki ni chiwakite) mà bước xuống đỉnh núi Takachiho trong sự kiện thần thoại gọi là Tenson Kōrin (Thiên Tôn Giáng Lâm).
Từ cuộc giáng lâm thần thoại ở Kyūshū, mạch văn chuyển thẳng tới vùng đồng bằng trung tâm nơi triều đình Yamato định đô, được tôn xưng là Ōyamato Hidakami no kuni (Xứ Đại Hòa Nhật Cao Kiến, vùng đất cao ráo đón ánh mặt trời rực rỡ ở trung tâm bốn phương). Cách miêu tả kiến trúc cung điện và đền thờ ở đây là mẫu mực của mọi bài norito cổ: phía dưới lòng đất, những cây cột gỗ bách lớn (miya-bashira) được chôn thẳng xuống tận lớp đá tảng sâu thẳm (shitatsu iwa-ne ni miya-bashira futo-shiki-tate); phía trên mái lợp, những đầu kèo gỗ bắt chéo hình chữ X (chigi) vươn thẳng lên bầu trời Cao Thiên Nguyên (Takama no hara ni chigi takashirite).
Hình ảnh cột cắm sâu vào đá gốc dưới đất và kèo chigi vươn chạm tầng trời biến ngôi đền và cung điện thành một trục vũ trụ nối liền Thiên và Địa, đúng với lối kiến trúc cổ Shinmei-zukuri vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn tại Thần Cung Ise. Cụm ame no mikage hi no mikage ca ngợi mái điện vừa là bóng râm che mưa nắng của vòm trời, vừa là nơi đón nhận ân quang của mặt trời.
Câu 7 đánh dấu bước chuyển từ cõi lý tưởng thần thoại sang thực tại nhân sinh: con người được gọi bằng một danh xưng đầy lòng trắc ẩn và hy vọng là ame no masuhito (Thiên Ích Nhân, những con người ngày một sinh sôi thêm nhiều như cỏ cây mùa xuân dưới bầu trời, nhắc lại lời thề của thần Izanagi sẽ cho ra đời một nghìn năm trăm người mỗi ngày để thắng lại một nghìn người chết của Izanami). Nhưng hễ có con người sống và lao động thì tất yếu phát sinh những điều lầm lỡ (ayamachi-okashikemu kusagusa no tsumi-koto).
Câu 8 trong nguyên bản Engishiki liệt kê tám lỗi thuộc phần trời (Amatsu-tsumi), vốn bắt nguồn trực tiếp từ những hành vi ngông cuồng mà thần bão tố Susanoo-no-Mikoto đã gây ra trên cánh đồng Cao Thiên Nguyên trước khi khiến Thái Dương Thần Nữ Amaterasu giận dữ ẩn mình vào hang đá Thiên Nham Hộ: năm lỗi đầu tiên là hành vi phá hoại nông nghiệp lúa nước cộng đồng gồm ahanachi (đập phá bờ ruộng giữ nước), mizoume (lấp mương dẫn thủy), hihanachi (phá cống tháo nước), shikimaki (gieo hạt chồng lên thửa ruộng người khác đã cày cấy) và kushisashi (cắm cọc tre nhận vơ ruộng người hoặc cắm chông hại chân người cày); ba lỗi sau là hành vi xúc phạm sự sống và không gian tế lễ gồm ikihagi (lột da con thú khi còn sống), sakahagi (lột ngược da thú từ đuôi lên đầu) và kusohe (phóng uế làm ô uế điện thờ ngày lễ mừng lúa mới Niiname-sai).
Đặt đối xứng với Amatsu-tsumi là danh mục Kunitsu-tsumi (Quốc Tân Tội, các lỗi và tai ương phát sinh trên mặt đất giữa xã hội loài người). Khi đọc danh mục mười bốn mục này trong bản Engishiki, các học giả tôn giáo học ngay lập tức nhận ra bản chất khác biệt của khái niệm tsumi trong Thần Đạo cổ đại: tsumi bao gồm cả hành vi phạm pháp, vi phạm cấm kỵ huyết thống lẫn những tai họa tự nhiên và bệnh tật ngoài ý muốn.
Cụ thể, mười bốn mục chia làm bốn nhóm: nhóm thứ nhất là sự tiếp xúc với máu và tử khí gồm ikihadadachi (làm rách da chảy máu người đang sống) và shini-hadadachi (cắt phạm vào da thịt thi hài người chết); nhóm thứ hai là các chứng bệnh biến dạng da thể xác gồm shirohito (bạch biến, bạch tạng) và kokumi (khối u bướu thịt thừa); nhóm thứ ba là năm hành vi phá vỡ trật tự huyết thống và loài giống gồm loạn luân với mẹ ruột (onogaha okaseru tsumi), với con ruột (onogako okaseru tsumi), vừa lấy mẹ vừa lấy con gái riêng của vợ (hahakomi okaseru tsumi), vừa lấy con gái vừa lấy mẹ của người ấy (kokomi okaseru tsumi) và giao cấu với súc vật (kemono okaseru tsumi); nhóm thứ tư là các tai ương giáng xuống và tà thuật gồm hau mushi no wazawai (tai họa rắn độc, rết, côn trùng cắn), takatsu-kami no wazawai (tai họa sấm sét giáng từ trên cao), takatsu-tori no wazawai (tai họa chim dữ làm ô uế), cùng kemono-taoshi, majimono seru tsumi (dùng bùa cổ độc giết hại súc vật của người và làm phép trù yểm hại người). Trong bản Jinja Honchō hiện đại, để tránh đọc lên những từ chỉ bệnh tật thân thể trong buổi lễ công cộng, cả câu 8 và câu 9 được gom lại thành cụm trang nhã Amatsu-tsumi Kunitsu-tsumi, kokodaku no tsumi idemu.
Khi lỗi lầm và uế trược đã tích tụ, phương pháp giải trừ được trao cho dòng họ tư tế cha truyền con nối là Ōnakatomi (Đại Trung Thần, hậu duệ của thần Ame-no-Koyane-no-Mikoto, vị thần từng đọc lời chúc từ trước cửa hang đá Thiên Nham Hộ để mời Thái Dương Thần Nữ bước ra). Nghi thức chuẩn bị được tả bằng những động từ đối ngẫu cực kỳ chuẩn xác: lấy các nhành gỗ nhỏ thanh tịnh (amatsu-kanagi) chặt bỏ phần gốc chạm đất và cắt bằng phần ngọn (moto uchi-kiri sue uchi-tachite) để giữ lấy đoạn giữa tinh khiết nhất, đặt lên hàng ngàn bàn lễ vật (chikura no oki-kura); rồi lấy những thân cỏ cói thiêng (amatsu-sugaso) cắt gốc phạt ngọn, dùng kim tước nhỏ ra thành tám dải mảnh (yahari ni tori-sakite, tiền thân của những dải giấy hoặc sợi gai trên cây phất trần ōnusa và vật hình nhân thế mạng).
Sau khi vật lễ đã bày biện chu tất, câu 11 cất lên ngắn gọn mà uy lực như một tiếng chuông: Amatsu-norito no futo-norito-goto wo nore (Hãy tuyên đọc những lời chúc từ vĩ đại của Thiên Cung). Trong lịch sử thần học Thần Đạo từ thời trung đại tới học phái Quốc Học (Kokugaku) thời Edo của Kamo no Mabuchi và Motoori Norinaga, câu 11 này từng tạo nên cuộc thảo luận lớn: có dòng cho rằng futo-norito-goto là một câu mật chú bí truyền được đọc thầm tại vị trí này (từ đó phát sinh các bản văn như Amatsu Norito), trong khi giới ngữ văn học hiện đại xác định chính toàn bộ bài văn đang đọc trên đây là lời futo-norito-goto ấy.
Câu 12 khắc họa sự giao cảm tức thì giữa lời khấn của con người và vũ trụ thiêng: vừa nghe tiếng norito vang lên, các vị thần trên trời (Amatsu-kami) liền đẩy mở cánh cửa đá Ame no iwa-to và vén tám tầng mây nhìn xuống lắng nghe; còn các vị thần dưới đất (Kunitsu-kami) liền bước lên đỉnh núi cao núi thấp, gạt lớp mây mù sương khói (ihori) quanh đỉnh núi mà chứng giám. Không gian giữa trời và đất hoàn toàn thông suốt.
Câu 13 và 14 nối tiếp nhau bằng bốn hình ảnh so sánh liên hoàn (đều khép bằng cụm koto no gotoku, nghĩa là giống hệt như thể) được đánh giá là đỉnh cao của thi ca cổ điển Nhật Bản: (1) như ngọn gió mạnh của thần gió Shinato no kaze thổi bạt tám tầng mây đen trên bầu trời; (2) như làn gió sớm và làn gió chiều (asakaze yūkaze) thổi tan màn sương mù buổi sáng và buổi chiều (ashita no mi-giri yūbe no mi-giri); (3) như chiếc thuyền lớn (ōfune) đậu nơi bến cảng rộng (Ōtsu-be) được cởi tung dây buộc mũi (he) và dây buộc lái (tomo) rồi đẩy vọt ra khơi xa đại dương (ō-unabara); và (4) như người cầm lưỡi liềm sắc bén đã tôi qua lửa đỏ (yakigama no tokama) vung tay phát sạch những bụi cây gai góc rậm rạp nơi sườn núi xa. Bốn ẩn dụ kết hợp đủ gió trời, sương mù, nước biển và lửa sắt để diễn tả sự giải phóng nhẹ nhõm, dứt khoát khỏi mọi gánh nặng lỗi lầm.
Nếu lỗi lầm đã được gió thổi và lưỡi liềm cắt rời khỏi thân tâm con người, thì những chất uế trược ấy đi về đâu? Bốn câu 15, 16, 17, 18 giải đáp bằng một chuỗi vận chuyển tự nhiên vĩ đại qua tay bốn vị thần của chốn thanh tẩy (Harai-do no Ōkami), đi theo đúng địa hình tự nhiên của quần đảo Nhật Bản núi cao biển sâu.
Vị thứ nhất ở câu 15 là nữ thần Seoritsuhime-no-kami (Thác Chức Tân Cơ Thần, vị thần nữ ngự ngay tại ghềnh nước chảy xiết). Khi nước mưa từ đỉnh núi cao núi thấp đổ ầm ầm xuống sườn dốc dựng đứng (sakunadari ni ochi-tagitsu hayakawa no se), nữ thần Seoritsuhime gom toàn bộ lỗi lầm và uế trược của thế gian cuốn theo dòng sông xiết đẩy thẳng ra biển cả (ō-unabara ni mochi-idenamu). Vị thứ hai ở câu 16 là nữ thần Hayaakitsuhime-no-kami (Tốc Thu Tân Cơ Thần), ngự tại cửa biển và vùng khơi xa nơi tám trăm luồng sóng dữ và tám trăm dòng thủy triều va đập cuộn xoáy vào nhau (arashio no shio no yaomichi no, shio no yao-ai). Nữ thần đón lấy toàn bộ dòng nước uế từ sông đổ ra rồi mochi-kakami-nomitemu: mở miệng uống ừng ực, nuốt trọn tất cả vào lòng xoáy nước đại dương.
Sau khi nữ thần Hayaakitsuhime đã nuốt trọn uế trược xuống đáy biển sâu, câu 17 giới thiệu vị thần thứ ba: Ibukido-nushi-no-kami (Khí Xuy Hộ Chủ Thần, vị thần làm chủ Cửa Luồng Hơi Thổi Ibukido). Động từ ibuku chỉ việc thổn thức phun ra một luồng hơi thở cực mạnh từ lồng ngực. Vị thần này dùng luồng khí lực dũng mãnh dưới đáy biển thổi bạt toàn bộ khối uế trược xuyên qua vỏ trái đất xuống tận Ne-no-kuni Soko-no-kuni (Căn Quốc, Đế Quốc, tức thế giới của rễ cây và đáy sâu dưới lòng đất).
Tại tầng sâu thăm thẳm của Ne-no-kuni Soko-no-kuni ấy, câu 18 xuất hiện vị thần thứ tư và cuối cùng: nữ thần Hayasasurahime-no-kami (Tốc Tá Tu La Cơ Thần). Động từ kép sasurai-ushinaitemu kết hợp sasurau (phiêu bạt, lang thang khắp chốn) với ushinau (làm mất đi, làm tiêu tán hoàn toàn). Nữ thần cầm lấy những tàn dư lỗi lầm cuối cùng, phân tán chúng đi khắp cõi hư vô dưới lòng đất cho tới khi chúng tự phân hủy và tan biến sạch sẽ không còn bất kỳ dấu vết nào. Đáng chú ý là bốn vị thần này không xuất hiện với đúng tên gọi ấy trong Kojiki hay Nihon Shoki mà là sự sáng tạo thần học độc đáo chỉ có mặt trong Ōharae no Kotoba của Engishiki.
Câu 19 khép lại hành trình bốn chặng từ đỉnh núi xuống đáy vực bằng lời xác quyết trang trọng lặp lại lần thứ ba trong toàn bài: tsumi to iu tsumi wa araji (từ nay phàm cái gì gọi là lỗi lầm hay ô uế đều không còn tồn tại nữa). Trong bản chuẩn của Hiệp hội Thần xã Bản sảnh (Jinja Honchō), bài văn kết thúc tại câu amatsu-kami kunitsu-kami, yaoyorozu no kami-tachi tomo ni, kikoshimese to mōsu, mời toàn thể chư thần trên trời dưới đất cùng tám trăm vạn vị thần đồng tâm chứng giám.
Câu 20 là lời kính cáo trực tiếp lên Harai-do no Ōkami-tachi (chính là tôn hiệu chung gọi gộp bốn vị thần Seoritsuhime, Hayaakitsuhime, Ibukido-nushi và Hayasasurahime vừa nêu ở câu 15 tới 18), nối liền mạch văn của Ōharae no Kotoba với nửa sau của bài Haraekotoba và khép lại bằng công thức kinh điển của mọi bài norito: kashikomi kashikomi mo mōsu (với lòng kính sợ, hết sức kính sợ mà cúi đầu tấu trình).
IVCơ Chế Bốn Bước Của Tứ Trụ Thần Harai-do Và Hai Hệ Thống Amatsu-Tsumi, Kunitsu-Tsumi
Nhìn tổng thể, toàn bộ chiều sâu thần học của Ōharae no Kotoba xoay quanh hai câu hỏi lớn: thứ gì làm vẩn đục đời sống con người (phân loại qua Amatsu-tsumi và Kunitsu-tsumi), và vũ trụ tự nhiên vận hành ra sao để thanh lọc sự vẩn đục ấy (hiện thân qua bốn vị thần Harai-do no Ōkami). Đặt bốn vị thần vào một bảng tổng hợp sẽ thấy rõ đây là một mô hình sinh thái học tâm linh hoàn chỉnh của người Nhật cổ đại.
| Thứ tự | Danh hiệu vị thần (Hepburn) | Không gian ngự trị trong tự nhiên | Động từ hành động trong kinh | Tương ứng thần thoại học cổ điển |
|---|---|---|---|---|
| Vị thứ 1 | Seoritsuhime-no-kami (Thác Chức Tân Cơ Thần) | Ghềnh thác dòng sông chảy xiết (hayakawa no se) đổ từ đỉnh núi cao núi thấp xuống sườn dốc | Ō-unabara ni mochi-idenamu (Cuốn trôi và mang thẳng ra biển khơi mênh mông) | Các học giả Kokugaku thường liên hệ với thần Yasomagatsuhi hoặc dòng nước gột rửa đầu tiên của Izanagi |
| Vị thứ 2 | Hayaakitsuhime-no-kami (Tốc Thu Tân Cơ Thần) | Cửa biển và tâm điểm nơi tám trăm luồng sóng dữ, tám trăm dòng thủy triều xoáy gặp nhau (shio no yao-ai) | Mochi-kakami-nomitemu (Đón lấy, uống ừng ực và nuốt trọn xuống đáy biển) | Tương ứng với nữ thần cửa biển Hayaakitsuhiko / Hayaakitsuhime sinh ra các thần nước trong Kojiki |
| Vị thứ 3 | Ibukido-nushi-no-kami (Khí Xuy Hộ Chủ Thần) | Cửa Luồng Hơi Thổi (Ibukido), nơi giao giới giữa đáy đại dương và lòng đất sâu | Ibuki-hanachitemu (Dùng luồng hơi thở mạnh mẽ thổi bạt xuống Căn Quốc, Đế Quốc) | Các nhà chú giải như Motoori Norinaga liên hệ với thần sửa lệch Kamunaobi / Ōnaobi hoặc thần gió Shinatsuhiko |
| Vị thứ 4 | Hayasasurahime-no-kami (Tốc Tá Tu La Cơ Thần) | Căn Quốc và Đế Quốc (Ne-no-kuni Soko-no-kuni), cõi rễ cây và đáy sâu dưới lòng đất | Sasurai-ushinaitemu (Mang đi phiêu tán khắp nơi và làm cho tiêu biến mất hẳn) | Liên hệ với nữ thần Izunome hoặc thần cai quản cõi rễ sâu giúp hoàn tất vòng tuần hoàn tái sinh |
Một chi tiết rất đáng suy ngẫm trong cấu trúc bốn vị thần Harai-do no Ōkami là vị thứ nhất (Seoritsuhime), vị thứ hai (Hayaakitsuhime) và vị thứ tư (Hayasasurahime) đều mang hậu tố -hime (Cơ, bậc thần nữ cao quý), chỉ riêng vị thứ ba (Ibukido-nushi) là thần nam làm chủ luồng hơi thở. Trong tư tưởng Thần Đạo, dòng nước suối trên núi, xoáy nước đại dương và lòng đất sâu nơi rễ cây đều mang tính chất bao dung, tiếp nhận, ôm ấp và chuyển hóa của nguyên lý Mẫu tính; chỉ có bước chuyển tiếp dùng luồng khí dương cương thổi bạt từ đáy nước sang lòng đất là cần đến sức bật của thần nam Ibukido-nushi. Sự phối hợp ba nữ một nam ấy giúp quá trình thanh tẩy không phải là sự trừng phạt hủy diệt người phạm lỗi, mà là quá trình tiếp nhận và hòa tan chất uế trược vào lòng tự nhiên rộng lớn.
Dưới góc nhìn nhân học pháp lý và lịch sử xã hội Nhật Bản cổ đại (như các công trình nghiên cứu của Inoue Mitsusada, Ishimoda Shō và Allan Grapard), sự phân chia hai danh mục Amatsu-tsumi (tội phần trời) và Kunitsu-tsumi (tội phần đất) trong Ōharae no Kotoba phản ánh hai lớp lịch sử chồng lên nhau của quần đảo Nhật Bản. Lớp Amatsu-tsumi gắn liền với văn minh trồng lúa nước thời Yayoi và Kofun: trong một xã hội phụ thuộc sống còn vào hệ thống thủy lợi chung, kẻ lén phá bờ ruộng (ahanachi), lấp mương nước (mizoume) hay gieo hạt chồng lên ruộng người khác (shikimaki) là kẻ phá vỡ trật tự cộng đồng nghiêm trọng nhất, nên những tội ấy được đưa thẳng vào huyền thoại của thần Susanoo trên Cao Thiên Nguyên.
Trong khi đó, lớp Kunitsu-tsumi lưu giữ hệ thống luật tục và điều kiêng kỵ (taboo) của các cộng đồng bản địa trước khi bộ luật hình sự kiểu Đường triều (Ritsuryō) du nhập vào Nhật Bản thế kỷ 7 và 8. Ở lớp tư duy cổ sơ ấy, việc chảy máu do thương tích, việc chạm vào xác chết, căn bệnh bạch tạng hay u bướu, sét đánh trúng nhà và hành vi loạn luân đều được nhìn chung dưới một mẫu số là sự rối loạn và vẩn đục sinh khí của cộng đồng cần phải được quan tư tế làm lễ harae thu lễ vật (gọi là harae-tsu-mono) để tẩy sạch cho cả vùng.
VThực Hành Nghi Lễ Đại Phất: Vòng Cỏ Chinowa, Hình Nhân Hitogata Và Cách Đọc Thường Nhật
Ngày nay, Ōharae no Kotoba không chỉ nằm trên trang giấy của bộ Engishiki mà vẫn vang lên đều đặn trong đời sống nghi thức hành lễ Thần Đạo qua hai hình thức chính: đại lễ cộng đồng hai lần mỗi năm tại khắp các thần xã, và khóa tụng cá nhân hằng ngày của các thần chức Thần Đạo cùng người tu tập.
Cử hành đúng vào ngày 30 tháng 6 dương lịch (gọi là Nagoshi no Harae, Hạ Việt Phất, thanh tẩy nửa đầu năm để vượt qua mùa hè nóng bức dịch bệnh) và ngày 31 tháng 12 (gọi là Toshikoshi no Harae, Niên Việt Phất, thanh tẩy nửa cuối năm để bước sang năm mới tinh khôi). Tại Hoàng cung và Thần Cung Ise, nghi lễ vẫn giữ nghiêm ngặt quy thức cổ.
Trước ngày Đại Phất, thần xã phát cho người dân những tờ giấy trắng cắt hình người gọi là hitogata (Nhân Hình) hoặc katashiro (Hình Đại). Người lễ ghi họ tên, tuổi sinh lên hình nhân, cầm giấy xoa nhẹ khắp thân mình (nhất là chỗ đang đau yếu) rồi hà hơi thở của mình lên tờ giấy ba lần để chuyển mọi tsumi và kegare sang hình nhân. Trong buổi lễ, sau khi đọc Ōharae no Kotoba, thần chức đem toàn bộ hình nhân ấy thả trôi sông biển hoặc đốt hóa thanh tịnh.
Trong kỳ Đại Phất cuối tháng Sáu, trước cổng hoặc sân nhà bái của thần xã luôn dựng một vòng tròn lớn đường kính khoảng hai tới ba mét bện bằng cỏ tranh xanh thơm gọi là Chinowa (Mao Luân, bắt nguồn từ tích thần Susanoo dạy chàng nghèo Somin Shōrai đeo vòng cỏ tranh để tránh dịch bệnh trong Bingo no Kuni Fudoki). Người đi lễ bước qua vòng cỏ ba lần theo hình số tám nằm ngang (trái, phải, trái) vừa đi vừa nhẩm bài Ōharae no Kotoba hoặc bài kệ Minazuki no nagoshi no harae suru hito wa...
Ở những đại thần xã giữ cổ lễ từ thời Engishiki, ngay sau khi đọc xong bài Ōharae no Kotoba, các vị thần chức thực hiện nghi thức Kirimusa hoặc xé tấm vải gai trắng (sakununo) làm hai mảnh và bẻ cành gai để tái hiện trực quan câu kinh số 10 (cắt gỗ kanagi, tước cỏ sugaso) và câu 14 (dùng lưỡi liềm cắt đứt bụi rậm lỗi lầm).
Tại các trường đào tạo thần chức (như Đại học Kokugakuin và Đại học Kogakkan) cũng như trong nhiều gia đình kính ngưỡng Thần Đạo sâu sắc, người ta tụng Ōharae no Kotoba mỗi buổi sáng ngay sau bài ngắn Haraekotoba. Giọng đọc yêu cầu giữ hơi bụng đều, trang trọng, kéo ngân âm cuối mỗi vế theo lối Senmyō-gaki khoảng ba tới năm phút cho trọn bài.
VINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Do Ōharae no Kotoba sử dụng hệ thống từ vựng Yamato cổ của thế kỷ 8 và trải qua nhiều biến đổi lịch sử, người đọc nước ngoài cũng như người mới tìm hiểu Thần Đạo rất dễ hiểu lệch năm điểm sau đây.
Trong nguyên bản Engishiki, chữ tsumi bao gồm cả hành vi cố ý phá bờ ruộng lẫn việc không may bị sét đánh, bị rắn cắn hoặc mắc bệnh ngoài da. Đối với Thần Đạo cổ đại, tsumi là mọi trạng thái méo lệch, che lấp và suy giảm sinh khí làm cản trở sự hòa hợp giữa con người với thần linh và cộng đồng, chứ không phải bản án tội lỗi vĩnh viễn trước tòa phán xét.
Hai bản cùng chung trục xương sống, nhưng bản đọc tại các thần xã thuộc hệ thống Jinja Honchō ngày nay đã lược bỏ lời mở đầu triệu tập trăm quan triều đình, rút gọn danh mục chi tiết các tội Amatsu-tsumi và Kunitsu-tsumi thành một câu khái quát, và bỏ đoạn kết nói về các quan bói Urabe bốn xứ.
Ne-no-kuni Soko-no-kuni (Căn Quốc, Đế Quốc) trong vũ trụ quan Thần Đạo cổ là cõi sâu dưới lòng đất nơi rễ cây bám vào và nơi dòng nước ngầm chảy qua, chứ không phải địa ngục tra tấn linh hồn của tôn giáo hậu thế. Đưa chất uế trược xuống Ne-no-kuni để nữ thần Hayasasurahime làm tiêu biến tương tự như việc đất mẹ và rễ cây phân hủy vật chất mục nát để trả lại sự tinh khiết cho vòng tuần hoàn tự nhiên.
Bài ngắn Haraekotoba nói các vị thần Harai-do no Ōkami sinh ra khi Izanagi tắm gột ở Awagihara, nhưng nếu tra nguyên văn sách Kojiki (712) thì trong cuộc tắm ấy chỉ xuất hiện các tên Magatsuhi, Naobi, Izunome và thần biển Watatsumi. Bốn danh hiệu cụ thể Seoritsuhime, Hayaakitsuhime, Ibukido-nushi và Hayasasurahime chỉ được gọi tên trọn bộ trong chính bài Ōharae no Kotoba của Engishiki.
Trong câu 11 của Ōharae no Kotoba có nhắc cụm chữ Amatsu-norito no futo-norito-goto. Từ gợi ý ấy, về sau các học phái Thần Đạo lưu truyền thêm một bài khấn ngắn riêng biệt gọi là Amatsu Norito (mở đầu bằng Takama no hara ni kamu-tsumarimasu... Harai-do no Ōkami-tachi...). Hai văn bản có quan hệ họ hàng mật thiết nhưng khác hẳn nhau về độ dài và cấu trúc.
?Hỏi Đáp Nhanh
Ōharae no Kotoba là gì và khác Haraekotoba ở điểm nào
Ōharae no Kotoba (Đại Phất Từ) là bài văn tế thanh tẩy dài và cổ kính nhất của Thần Đạo Nhật Bản, bắt nguồn từ Quyển 8 bộ luật lễ Engishiki năm 927, kể trọn thần thoại từ hội nghị chư thần trên Cao Thiên Nguyên, cuộc giáng lâm của Hoàng tôn Ninigi, các loại lỗi lầm Amatsu-tsumi và Kunitsu-tsumi cho tới bốn vị thần Harai-do no Ōkami cuốn trôi uế trược ra biển cả. Còn Haraekotoba (Phất Từ) là bài khấn ngắn chỉ gồm tám dòng rút gọn theo tích thần Izanagi tắm gột ở Awagihara, dùng để mở đầu nhanh trước mọi nghi lễ thường ngày.
Bốn vị thần thanh tẩy Harai-do no Ōkami trong bài kinh gồm những ai
Bốn vị thần Harai-do no Ōkami được xướng danh ở các câu 15 tới 18 của Ōharae no Kotoba gồm: (1) Nữ thần Seoritsuhime-no-kami ngự nơi ghềnh thác sông xiết, cuốn mọi uế trược từ núi cao ra biển lớn; (2) Nữ thần Hayaakitsuhime-no-kami ngự nơi tám trăm luồng hải lưu xoáy gặp nhau ngoài biển khơi, uống và nuốt trọn uế trược xuống đáy biển; (3) Thần nam Ibukido-nushi-no-kami ngự nơi Cửa Luồng Hơi Thổi, dùng hơi thở mạnh thổi bạt tất cả xuống Căn Quốc dưới lòng đất; và (4) Nữ thần Hayasasurahime-no-kami ngự nơi Căn Quốc, mang uế trược đi phiêu tán cho tới khi tiêu biến hoàn toàn.
Amatsu-tsumi và Kunitsu-tsumi trong bản gốc Engishiki nghĩa là gì
Amatsu-tsumi (Thiên Tân Tội) là tám lỗi thuộc phần trời, gắn với những hành vi phá hoại nông nghiệp lúa nước và không gian tế lễ mà thần Susanoo từng phạm trên Cao Thiên Nguyên (phá bờ ruộng, lấp mương, tháo cống, gieo hạt chồng, cắm cọc chiếm ruộng, lột da sống hoặc lột ngược da thú, làm bẩn nơi tế lễ). Kunitsu-tsumi (Quốc Tân Tội) là mười bốn lỗi và tai ương thuộc phần đất phát sinh trong đời sống con người, bao gồm làm chảy máu người sống, phạm xác người chết, bệnh bạch biến và u bướu, các tội loạn luân, giao cấu với thú vật, tai họa rắn rết, sét đánh, chim dữ và dùng tà thuật hại người.
Vì sao bản Ōharae no Kotoba đọc ở thần xã ngày nay ngắn hơn bản Engishiki năm 927
Trong bộ Engishiki năm 927, bài văn vốn là lời tuyên chỉ do quan đại thần họ Nakatomi thay mặt Thiên hoàng đọc trước các thân vương và bách quan tại cổng hoàng thành, có liệt kê từng tội cụ thể và đoạn kết nói về các quan bói Urabe bốn xứ. Khi chuyển thành bài kinh cầu nguyện chung cho toàn thể tín đồ (bản chuẩn của Hiệp hội Thần xã Bản sảnh Jinja Honchō hiện nay), phần mở đầu gọi trăm quan và phần kết quan bói Urabe được lược bỏ, đồng thời danh mục chi tiết các tội và bệnh tật ở câu 8, 9 được gom lại thành câu ngắn gọn Amatsu-tsumi Kunitsu-tsumi, kokodaku no tsumi idemu.
Lễ Đại Phất (Ōharae-shiki) và nghi thức bước qua vòng cỏ Chinowa diễn ra khi nào
Lễ Đại Phất được cử hành định kỳ hai lần mỗi năm tại khắp các thần xã Nhật Bản: lần thứ nhất vào ngày 30 tháng 6 gọi là Nagoshi no Harae (thanh tẩy sáu tháng đầu năm để vượt qua mùa hè), và lần thứ hai vào ngày 31 tháng 12 gọi là Toshikoshi no Harae (thanh tẩy sáu tháng cuối năm để đón năm mới). Trong lễ cuối tháng Sáu, người dân cầm hình nhân giấy Hitogata hà hơi chuyển uế trược sang giấy rồi bước qua vòng cỏ tranh lớn Chinowa ba lần theo hình số tám nằm ngang trong tiếng tụng Ōharae no Kotoba.
Bốn hình ảnh ẩn dụ xóa sạch lỗi lầm ở câu 13 và 14 của bài kinh là gì
Ở câu 13 và 14, bài văn dùng bốn hình ảnh thiên nhiên và đời sống cổ đại để diễn tả sự biến mất hoàn toàn của mọi tsumi và kegare: (1) như ngọn gió mạnh Shinato thổi tan tám tầng mây dày trên bầu trời; (2) như gió sớm gió chiều thổi tan màn sương mai và sương chiều; (3) như con thuyền lớn nơi bến cảng Ōtsu-be được cởi dây mũi, tháo dây lái rồi đẩy ra giữa đại dương mênh mông; và (4) như dùng lưỡi liềm sắc bén đã tôi qua lửa đỏ phát sạch những bụi cây rậm rạp nơi sườn núi xa.