VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đại Học, Chương Kinh: Hai Trăm Lẻ Năm Chữ Mở Đầu Tứ Thư

大學 經一章 · Đại Học kinh nhất chương, Đại học chi đạo, Tam cương lĩnh bát điều mục, The Great Learning

Chương mở đầu của Tứ Thư, 205 chữ Hán theo cách chia của Chu Hy, phiên âm Hán Việt, hai bản dịch Việt và Anh của thư viện, giải nghĩa từng câu và hai cách đọc chữ cách vật

Thuộc đạo
Nho Giáo
Niên đại
Thiên 42 của sách Lễ Ký đời Hán, Chu Hy tách thành chương Kinh ở thế kỷ 12
Đại Học vốn là thiên thứ 42 trong 49 thiên của sách Lễ Ký 禮記, bộ sách được biên tập đời Tây Hán. Bản văn không ghi tên người soạn và giới nghiên cứu chưa thống nhất về niên đại. Chu Hy 朱熹, 1130 tới 1200, sắp lại thiên này thành một chương Kinh và mười chương Truyện trong sách Đại Học Chương Cú, rồi in chung với ba sách kia thành Tứ Thư năm 1190.
Độ dài
205 chữ Hán
Ngay sau chương Kinh, Chu Hy tự ghi 凡二百五字, tức cả thảy hai trăm lẻ năm chữ. Thư viện đếm lại trên nguyên văn in ở mục Toàn Văn, không kể dấu ngắt câu, được đúng 205 chữ. Trang ngắt bài làm 21 câu theo nhịp đọc.
Thường tụng khi
Sách đầu tiên trong Tứ Thư, xưa học thuộc lòng để đi thi, không phải bài tụng theo nghi lễ

ITrước Khi Đọc

Người Việt có thể chưa từng mở một trang Tứ Thư nào, nhưng hầu như ai cũng thuộc bốn vế tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Bốn vế ấy rút từ một đoạn văn hai trăm lẻ năm chữ Hán, đoạn mở đầu sách Đại Học. Từ khi Tứ Thư thành sách thi năm 1313 cho tới khi khoa cử dứt hẳn đầu thế kỷ hai mươi, đây là những dòng chữ đầu tiên của Tứ Thư mà học trò đi thi ở Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam phải đọc, phải thuộc, phải giảng được khi vào trường thi.

Tên sách là Đại Học 大學, nghĩa đen là cái học lớn. Chữ đại học ở đây không phải trường đại học như tiếng Việt hôm nay dùng. Trong bài tựa Đại Học Chương Cú, Chu Hy nói người xưa tám tuổi vào tiểu học để học việc quét dọn, ứng đối, tiến lui và sáu môn lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số, mười lăm tuổi vào đại học để học đạo sửa mình và trị người. Đại Học vì thế là cái học của người đã lớn, học để làm người và để gánh việc chung.

Chương mà trang này trình bày được Chu Hy gọi là chương Kinh 經一章, tức phần cương yếu, đứng trước mười chương Truyện giảng giải từng ý. Chỉ trong hai trăm lẻ năm chữ, chương Kinh nêu ba mục đích của cái học lớn, năm bậc của sự yên định trong lòng, rồi một chuỗi tám bước nối từ chỗ xét vật tới chỗ thiên hạ thái bình, đi ngược một lượt rồi đi xuôi một lượt. Đời sau gọi gọn là tam cương lĩnh và bát điều mục.

Có một điều quý vị nên biết ngay từ đầu. Nho Giáo không có kinh nguyện hằng ngày theo nghĩa của các đạo khác. Chương Kinh Đại Học không phải lời cầu xin, không phải câu chú, không dâng lên thần linh nào. Nó là một bản văn để học, để thuộc, để nghiền ngẫm. Trang này trình bày nguyên văn theo cách chia của Chu Hy, phiên âm Hán Việt, hai bản dịch do thư viện soạn, rồi giải nghĩa từng câu và ghi thẳng những chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau.

Theo sử liệu

Về lai lịch văn bản, cần tách hai lớp. Lớp thứ nhất là thiên Đại Học trong sách Lễ Ký 禮記, đứng thứ 42 trong 49 thiên theo bản thông hành, như bản trên Chinese Text Project. Lễ Ký là bộ sách gom các bài bàn về lễ, được biên tập đời Tây Hán. Thiên Đại Học trong đó là một bài liền, không chia chương, không có tên người soạn. Trịnh Huyền đời Hán giải tên thiên là ghi cái học rộng có thể dùng vào việc chính sự. Suốt nhiều thế kỷ, thiên này chỉ là một phần của Lễ Ký, chưa đứng riêng thành sách.

Lớp thứ hai bắt đầu từ đời Tống. Hai anh em Trình Hạo và Trình Di cho rằng thứ tự các đoạn trong bản Lễ Ký đã bị xáo trộn và mỗi người đều thử sắp lại. Chu Hy 朱熹, 1130 tới 1200, đi xa hơn. Trong sách Đại Học Chương Cú 大學章句, ông làm bốn việc. Một, tách bài thành một chương Kinh và mười chương Truyện. Hai, đổi thứ tự nhiều đoạn, và tự ghi rằng bản cũ có nhiều thẻ tre lộn chỗ, nay theo chỗ Trình Tử đã định mà xét lại để sắp. Ba, ở chữ 親 trong câu tại thân dân, ông giữ nguyên chữ trong chính văn nhưng chú rằng 程子曰:「親,當作新。」, tức theo lời Trình Tử thì chữ thân phải đọc là tân, làm mới. Bốn, cho rằng chương Truyện giảng cách vật trí tri đã mất, nên soạn một đoạn bổ khuyết, thư viện đếm được 134 chữ. Ông cũng cho rằng chương Kinh là lời Khổng Tử mà Tăng Tử thuật lại, còn mười chương Truyện là ý Tăng Tử do học trò ghi.

Năm 1190 Chu Hy cho in Đại Học cùng Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử kèm chú giải của ông, thành bộ Tứ Thư. Về sau Vương Dương Minh 王陽明, 1472 tới 1529, phản đối cả việc sắp lại lẫn đoạn bổ khuyết và trở về bản Lễ Ký, gọi là Đại Học Cổ Bản. Việc Khổng Tử và Tăng Tử là tác giả là điều truyền thống Chu Hy khẳng định. Giới sử học hiện nay không có cứ liệu chắc chắn để xác nhận lời gán ấy, và nhiều nhà nghiên cứu coi Đại Học là một bài văn Nho gia khuyết danh.

IIToàn Văn Chương Kinh, Hai Trăm Lẻ Năm Chữ

Chính văn chương Kinh theo Đại Học Chương Cú của Chu Hy, đối chiếu thiên Đại Học trong Lễ Ký, phiên âm và hai bản dịch do thư viện soạn.
CâuNguyên văn HánPhiên âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Anh
1大學之道,在明明德,Đại Học chi đạo, tại minh minh đức,Đạo của cái học lớn là ở chỗ làm sáng cái đức sáng,The way of great learning lies in making bright the bright virtue,
2在親民,在止於至善。tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện.ở chỗ thân với dân, mà Chu Hy đọc là làm mới dân, và ở chỗ dừng lại nơi điều thiện tột bậc.in being close to the people (which Zhu Xi reads as renewing the people), and in coming to rest in the highest good.
3知止而后有定,定而后能靜,Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh,Biết chỗ phải dừng rồi sau mới có chỗ định, có định rồi sau mới tĩnh được,Knowing where to rest, one becomes settled. Being settled, one can be still,
4靜而后能安,安而后能慮,慮而后能得。tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc.tĩnh rồi sau mới yên được, yên rồi sau mới suy xét được, suy xét rồi sau mới đạt được.being still, one can be at peace. At peace, one can reflect, and reflecting, one can attain.
5物有本末,事有終始,Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy,Vật có gốc có ngọn, việc có cuối có đầu,Things have roots and branches, affairs have ends and beginnings.
6知所先後,則近道矣。tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hĩ.biết cái gì trước cái gì sau thì đã gần với đạo.To know what comes first and what comes after is to be near the Way.
7古之欲明明德於天下者,先治其國,Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc,Người xưa muốn làm sáng đức sáng ra khắp thiên hạ thì trước hết trị cho yên nước mình,The ancients who wished to make bright virtue shine throughout all under Heaven first brought good order to their states.
8欲治其國者,先齊其家,dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia,muốn trị yên nước mình thì trước hết sắp cho êm nhà mình,Wishing to bring order to their states, they first set their households in harmony.
9欲齊其家者,先脩其身,dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân,muốn sắp êm nhà mình thì trước hết sửa lấy thân mình,Wishing to set their households in harmony, they first refined their own persons.
10欲脩其身者,先正其心,dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm,muốn sửa thân mình thì trước hết giữ lòng cho ngay,Wishing to refine their persons, they first set their hearts upright.
11欲正其心者,先誠其意,dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý,muốn giữ lòng cho ngay thì trước hết làm cho ý thành thật,Wishing to set their hearts upright, they first made their intentions true.
12欲誠其意者,先致其知,dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri,muốn ý thành thật thì trước hết đưa cái biết tới chỗ cùng tột,Wishing to make their intentions true, they first carried their knowing to its fullest.
13致知在格物。trí tri tại cách vật.đưa cái biết tới chỗ cùng tột là ở nơi cách vật.Carrying knowing to its fullest lies in gewu, which Zhu Xi reads as investigating things and Wang Yangming as rectifying them.
14物格而后知至,知至而后意誠,Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành,Vật đã được cách rồi sau cái biết mới tới nơi, cái biết tới nơi rồi sau ý mới thành,Only when gewu is accomplished does knowing arrive. Only when knowing arrives do intentions become true.
15意誠而后心正,心正而后身脩,ý thành nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu,ý thành rồi sau lòng mới ngay, lòng ngay rồi sau thân mới sửa được,Only when intentions are true is the heart upright. Only when the heart is upright is the person refined.
16身脩而后家齊,家齊而后國治,thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị,thân sửa được rồi sau nhà mới êm, nhà êm rồi sau nước mới yên,Only when the person is refined is the household in harmony. Only when the household is in harmony is the state in good order.
17國治而后天下平。quốc trị nhi hậu thiên hạ bình.nước yên rồi sau thiên hạ mới thái bình.Only when the state is in good order is all under Heaven at peace.
18自天子以至於庶人,Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân,Từ bậc thiên tử cho tới người dân thường,From the Son of Heaven down to the common people,
19壹是皆以脩身為本。nhất thị giai dĩ tu thân vi bản.hết thảy đều lấy việc sửa mình làm gốc.all alike take the refining of the person as the root.
20其本亂而末治者否矣,Kỳ bản loạn nhi mạt trị giả phủ hĩ,Gốc đã rối mà ngọn lại yên thì không có lẽ ấy,That the root should be in disorder while the branches are well ordered cannot be.
21其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也。kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu dã.chỗ đáng hậu mà mình đối bạc, chỗ đáng bạc mà mình lại đối hậu, việc như thế chưa từng có.To slight what deserves weight and give weight to what deserves little, this has never yet been.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới đi theo đúng thứ tự nguyên văn, chia thành mười một cụm. Mỗi cụm nói chữ khó nghĩa là gì, câu ấy lập luận ra sao, và chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau. Khi nói Chu Hy chú thế nào, thư viện dẫn theo lời chú trong Đại Học Chương Cú. Khi nói Vương Dương Minh hiểu thế nào, thư viện dẫn theo Truyền Tập Lục. Hai cách đọc ấy được bày cạnh nhau, không cách nào được đặt lên làm chuẩn.

大學之道
Đại Học chi đạo

Bốn chữ mở đầu vừa là câu đầu vừa thành tên sách. Chữ đạo 道 ở đây không mang nghĩa huyền bí như trong Đạo Đức Kinh, mà là con đường, cái lẽ, cái phép của một việc. Đạo của cái học lớn là cái học lớn ấy nhắm tới đâu và đi đường nào.

Các nhà chú giải hiểu chữ đại học theo hai hướng. Trịnh Huyền đời Hán giải tên thiên theo hướng cái học rộng, dùng được vào việc chính sự. Chu Hy chú gọn rằng đại học là cái học của người lớn, và trong bài tựa gắn nó với bậc học mười lăm tuổi, sau bậc tiểu học. Hai hướng không loại nhau: một bên nhấn vào tầm rộng của nội dung, một bên nhấn vào tuổi và vị trí của người học.

在明明德
Tại minh minh đức

Hai chữ minh đứng liền nhau mà khác vai. Chữ minh 明 thứ nhất là động từ, làm cho sáng. Cụm minh đức 明德 phía sau là danh từ, cái đức sáng. Cả câu nghĩa là làm cho cái đức vốn sáng được sáng trở lại.

Chu Hy chú rằng minh đức là cái người ta nhận được từ Trời, trong suốt linh động không mờ, đủ mọi lẽ để ứng với muôn việc. Theo cách đọc ấy, đức sáng có sẵn trong mọi người, chỉ bị khí chất và lòng ham muốn che lấp, nên việc học là lau cho nó sáng lại, không phải đem vào cái gì mới. Đây là cách đọc gắn với thuyết tính người vốn thiện của Mạnh Tử.

在親民
Tại thân dân

Đây là ba chữ gây tranh cãi lâu nhất trong cả sách. Chính văn trong các bản thư viện đối chiếu, cả bản Lễ Ký lẫn bản của Chu Hy, đều viết 親, âm thân, nghĩa là gần gũi, thương yêu. Đọc theo mặt chữ, câu này là ở chỗ thân với dân, thương dân. Khổng Dĩnh Đạt đời Đường giảng theo hướng ấy.

Trình Di đời Tống cho rằng chữ này phải đọc là 新, âm tân, làm mới. Chu Hy theo Trình Di, giữ chữ thân trong chính văn nhưng chú 親,當作新, rồi giảng tân là đổi bỏ cái cũ, tức người đã tự làm sáng đức mình thì lan ra giúp người khác cũng gột bỏ những vết nhơ đã nhiễm. Chỗ dựa của cách đọc này nằm ngay trong sách: chương Truyện thứ hai giảng câu này bằng ba lời dẫn đều có chữ tân, trong đó có câu 作新民, làm cho dân mới.

Vương Dương Minh bác lại. Trong đoạn đầu Truyền Tập Lục, khi học trò Từ Ái hỏi, ông đáp rằng thân dân cũng như chữ thân thân nhân dân của Mạnh Tử, thân tức là thương, nói thân dân thì gồm cả nuôi lẫn dạy, nói tân dân thì thấy lệch về một phía. Thư viện giữ chữ thân trong phiên âm vì đó là chữ trên mặt giấy, và ghi cách đọc tân dân ngay trong bản dịch.

在止於至善
Tại chỉ ư chí thiện

Chữ chỉ 止 là dừng, đứng lại, ở yên. Cụm chí thiện 至善 là điều thiện tới tận cùng. Chu Hy chú chí thiện là chỗ cùng cực của cái lẽ đương nhiên trong từng việc, và dừng ở đó là tới đó rồi không dời đi.

Nên để ý chữ dừng. Câu này không nói cứ tiến mãi về phía điều thiện, mà nói có một chỗ đúng để đứng, và cái khó là tìm ra chỗ ấy rồi đứng vững ở đó. Chương Truyện thứ ba giảng bằng những ví dụ rất đời: làm vua thì dừng ở nhân, làm bề tôi thì dừng ở kính, làm con thì dừng ở hiếu, làm cha thì dừng ở từ, giao với người trong nước thì dừng ở tín. Mỗi vai một chỗ đứng.

知止而后有定
Tri chỉ nhi hậu hữu định

Tiếp theo là một chuỗi năm bậc nối bằng chữ nhi hậu 而后, rồi sau mới. Biết chỗ dừng thì có định, định thì tĩnh, tĩnh thì an, an thì lự, lự thì đắc. Chu Hy chú định là chí đã có hướng, tĩnh là lòng không vọng động, an là ở đâu cũng yên, lự là xử việc kỹ càng, đắc là được chỗ phải dừng.

Chuỗi này đáng đọc chậm vì nó nói một điều ngược với thói thường. Người ta hay nghĩ phải suy tính cho nhiều mới biết mình muốn gì. Câu này đặt ngược lại: phải biết chỗ mình cần đứng trước, lòng mới yên, lòng yên rồi mới suy xét cho ra lẽ, suy xét ra lẽ rồi mới đạt. Suy xét đứng ở bậc thứ tư, không ở bậc đầu.

物有本末,事有終始
Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy

Chữ bản 本 là gốc cây, mạt 末 là ngọn cây. Chung thủy 終始 ở đây không phải chung thủy vợ chồng theo nghĩa tiếng Việt thường dùng, mà là cuối và đầu. Nguyên văn đặt chữ cuối trước chữ đầu, một lối nói cổ, nghĩa không đổi.

Chu Hy nối câu này với hai đoạn trước: minh đức là gốc, tân dân là ngọn, biết chỗ dừng là đầu, đạt được là cuối. Câu kế tiếp, biết cái gì trước cái gì sau thì gần đạo, là bản lề của cả chương.

古之欲明明德於天下者,先治其國
Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc

Đoạn này là đoạn nổi tiếng nhất của sách, và cách viết của nó rất đặc biệt. Bản văn đi ngược từ ngọn về gốc: muốn thiên hạ sáng đức thì trước trị nước, muốn trị nước thì trước tề nhà, muốn tề nhà thì trước tu thân, muốn tu thân thì trước chính tâm, muốn chính tâm thì trước thành ý, muốn thành ý thì trước trí tri. Mỗi vế lấy vế sau của câu trước làm vế đầu của câu sau, như những mắt xích lồng vào nhau.

Chữ tề 齊 nghĩa gốc là làm cho đều, cho ngay hàng. Tề gia là sắp cho trong nhà trên dưới có thứ tự, người nào đúng phận người ấy, không phải cai quản theo nghĩa ra lệnh. Chữ tu 脩 là sửa, sửa sang, và trong bản Chu Hy viết bằng chữ có bộ nhục, dị thể của chữ 修 quen thuộc. Chữ quốc ở đây là nước chư hầu thời cổ, còn thiên hạ là cả cõi dưới trời.

致知在格物
Trí tri tại cách vật

Câu ngắn nhất của chuỗi lại đổi cách nói. Sáu câu trước đều theo khuôn muốn A thì trước B. Tới đây bản văn không nói muốn trí tri thì trước cách vật, mà nói trí tri tại cách vật, trí tri nằm ở chỗ cách vật. Chỗ đổi chữ ấy khiến hai bậc này gắn vào nhau chặt hơn mọi bậc khác, gần như hai mặt của một việc, và cũng chính ở đây các nhà chú giải chia đường.

Chữ trí 致 là đưa tới, đẩy cho tới cùng. Chữ tri 知 là cái biết. Chữ khó nhất là cách 格. Ít nhất có ba cách hiểu. Trịnh Huyền đời Hán giải cách là lại, là kéo tới, theo nghĩa người biết sâu điều lành thì việc lành tìm tới, biết sâu điều dữ thì việc dữ tìm tới. Chu Hy chú 格,至也。物,猶事也, tức cách là tới, vật cũng như việc, và cách vật là xét tới tận cùng cái lẽ của sự vật. Vương Dương Minh giải 格者,正也, cách là sửa cho ngay, và vật là chỗ ý mình hướng tới.

物格而后知至,知至而后意誠
Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành

Sau khi đi ngược, bản văn quay lại đi xuôi, từ gốc ra ngọn, qua tám bậc, nối nhau bằng bảy chữ nhi hậu: vật cách, tri chí, ý thành, tâm chính, thân tu, gia tề, quốc trị, thiên hạ bình.

Chữ thành 誠 ở đây là thật, không dối. Chương Truyện thứ sáu giảng thành ý là không tự lừa mình, ghét điều xấu như ghét mùi hôi, thích điều tốt như thích sắc đẹp, và người quân tử phải giữ mình ngay cả khi ở một mình. Chữ chính 正 là ngay, không lệch. Chương Truyện thứ bảy nói lòng mà có giận, có sợ, có ham, có lo chiếm chỗ thì lòng không ngay được.

自天子以至於庶人,壹是皆以脩身為本
Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản

Thiên tử là vua, người được coi là con Trời. Thứ nhân 庶人 là dân thường, người không có tước vị. Cụm nhất thị 壹是 được Chu Hy chú là nhất thiết, hết thảy, tức không trừ một ai. Chữ nhất viết bằng dạng 壹, dạng chữ đầy đủ của chữ một, đọc vẫn là nhất.

Câu này là câu then chốt về mặt xã hội của cả chương. Tám bậc phía trên nghe như chỉ dành cho người cai trị, vì có trị quốc, có bình thiên hạ. Nhưng câu này nói gốc chung của mọi người, từ vua tới dân, là tu thân. Người dân thường không trị nước, nhưng vẫn có thân để sửa và có nhà để tề.

其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有也
Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu dã

Câu cuối có hai vế, và vế sau khó hơn vế trước. Vế trước, gốc đã rối mà ngọn lại yên thì không có lẽ ấy, nhắc lại hình ảnh gốc ngọn. Vế sau nói về hậu 厚 và bạc 薄, dày và mỏng, tức chỗ đáng đối đãi hậu và chỗ đáng đối đãi nhẹ.

Chu Hy chú 所厚,謂家也, chỗ đáng hậu là nhà. Theo cách đọc ấy, câu này nói người bạc với chính nhà mình mà lại hậu với việc xa, việc ngoài, thì không có chuyện đó được. Có nhà chú giải khác đọc rộng hơn, cho hậu và bạc chỉ chung cái gốc và cái ngọn, việc gần và việc xa. Hai cách đọc gặp nhau ở chỗ: thứ tự trước sau không được đảo.

IVBa Cương Lĩnh Và Tám Điều Mục

Hai chữ cương lĩnh và điều mục không có trong nguyên văn. Chúng đến từ lời chú của Chu Hy: sau ba câu đầu ông ghi 此三者,大學之綱領也, ba điều này là cương lĩnh của Đại Học, và sau chuỗi tám bậc ông ghi 此八者,大學之條目也, tám điều này là điều mục của Đại Học. Chữ cương là sợi dây giềng lớn của tấm lưới, chữ lĩnh là cổ áo, hai thứ cầm lên thì cả tấm theo lên. Chữ điều mục là các khoản, các mục cụ thể. Người học trò xưa thuộc lòng hai bộ danh mục này trước khi hiểu hết từng chữ.

Ba cương lĩnh. Tên gọi cương lĩnh lấy theo lời chú của Chu Hy, nguyên văn không có.
Cương lĩnhChữ HánNghĩa theo lời chú của Chu Hy
Minh minh đức明明德Làm sáng lại cái đức sáng vốn nhận từ Trời, đã bị khí chất và ham muốn che lấp
Thân dân, Chu Hy đọc là tân dân親民Theo Chu Hy: giúp người khác cũng gột bỏ cái cũ đã nhiễm mà sáng đức. Theo Vương Dương Minh: thương dân, gồm cả nuôi lẫn dạy
Chỉ ư chí thiện止於至善Tới chỗ cùng cực của lẽ đương nhiên trong từng việc rồi đứng vững ở đó

Tám điều mục là tám bậc trong chuỗi đi ngược rồi đi xuôi. Bảng dưới xếp theo chiều xuôi, từ gốc ra ngọn, và ghi thêm chỗ Chu Hy chia tám bậc thành hai nửa. Nửa đầu, từ cách vật tới tu thân, là việc minh minh đức, tức việc của chính mình. Nửa sau, từ tề gia tới bình thiên hạ, là việc tân dân, tức việc lan ra người khác.

Tám điều mục theo chiều xuôi. Cách chia hai nửa theo lời chú của Chu Hy: từ tu thân trở lên là việc minh minh đức, từ tề gia trở xuống là việc tân dân.
BậcĐiều mụcChữ HánNghĩa gọnThuộc về
1Cách vật格物Chu Hy: xét tới tận lẽ của sự vật. Vương Dương Minh: sửa cho ngay chỗ ý hướng tớiMinh minh đức
2Trí tri致知Đưa cái biết tới chỗ cùng tột. Vương Dương Minh đọc là trí lương triMinh minh đức
3Thành ý誠意Làm cho ý thật, không tự lừa mìnhMinh minh đức
4Chính tâm正心Giữ lòng cho ngay, không để giận, sợ, ham, lo chiếm chỗMinh minh đức
5Tu thân脩身Sửa mình, gốc chung của mọi người từ vua tới dânMinh minh đức, bậc bản lề
6Tề gia齊家Sắp cho trong nhà trên dưới có thứ tựTân dân
7Trị quốc治國Làm cho nước yênTân dân
8Bình thiên hạ平天下Làm cho cả cõi dưới trời thái bìnhTân dân
Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ cần nhớ: bốn vế tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ chỉ là nửa sau của tám bậc. Nguyên văn đặt bốn bậc nằm trong con người, cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, ở trước tu thân. Và bản văn nói rõ gốc của mọi người, từ vua tới dân, là tu thân, chứ không phải ai cũng phải đi tới bình thiên hạ.

VCách Vật Trí Tri: Chu Hy Và Vương Dương Minh

Năm chữ 致知在格物 là chỗ Nho học đời Tống và đời Minh tách làm hai dòng. Dòng Chu Hy về sau được gọi là Lý học, dòng Vương Dương Minh được gọi là Tâm học. Chỗ khác nhau không chỉ ở một chữ cách, mà kéo theo cả việc đọc bản nào, chia chương ra sao, và đọc thân dân hay tân dân. Mục này bày hai lối cạnh nhau, theo đúng lời của mỗi bên.

Lối của Chu Hy: xét vật cho tới cùng lẽ

Theo giáo nghĩa

Theo Chu Hy, cách là tới, vật cũng như việc, và cách vật là xét cho tới tận cùng cái lẽ của sự vật, muốn cho chỗ cùng cực của nó không chỗ nào không tới. Trí là đẩy cho tới cùng, tri là cái biết, và trí tri là đẩy cái biết của mình cho tới cùng, muốn cho điều mình biết không còn chỗ nào sót.

Vì cho rằng chương Truyện giảng hai bậc này đã mất, Chu Hy nói ông trộm lấy ý của Trình Tử mà bổ vào. Đoạn bổ khuyết mở bằng câu 所謂致知在格物者,言欲致吾之知,在即物而窮其理也, nghĩa là cái gọi là trí tri tại cách vật, ấy là nói muốn đẩy cái biết của ta tới cùng thì phải tới ngay sự vật mà xét cho cùng cái lẽ của nó. Đoạn ấy giảng tiếp: lòng người linh động nên không lòng nào không có cái biết, vật trong thiên hạ không vật nào không có lẽ. Chỉ vì lẽ chưa xét cho cùng nên cái biết còn chỗ chưa trọn. Người học phải nương cái lẽ đã biết mà xét thêm, dùng sức lâu ngày, tới một lúc bỗng thông suốt, thì mặt trong mặt ngoài, chỗ tinh chỗ thô của muôn vật không chỗ nào không tới, và toàn thể của lòng ta không chỗ nào không sáng.

Hệ quả thực tế của lối đọc này là việc học có thứ tự, có sách để đọc, có lẽ để tìm trong từng việc, từ kinh sách, lịch sử cho tới cỏ cây. Trong Chu Tử Ngữ Loại, quyển 14, Chu Hy dặn người học đọc Đại Học trước để định cái quy mô, rồi đọc Luận Ngữ để lập cái gốc, đọc Mạnh Tử để xem chỗ phát huy, sau cùng đọc Trung Dung để tìm chỗ vi diệu của người xưa. Lối đọc ấy hợp với trường học và khoa cử, vì có bản chú để dạy và có chuẩn để chấm, nên được các triều đình chọn làm chuẩn.

Lối của Vương Dương Minh: sửa cho ngay chỗ ý hướng tới

Theo giáo nghĩa

Vương Dương Minh đọc chữ cách theo nghĩa khác. Ông nói 格者,正也。正其不正,以歸於正也, cách là sửa cho ngay, sửa cái chưa ngay để đưa về chỗ ngay. Còn vật thì ông định nghĩa theo chuỗi 身之主宰便是心。心之所發便是意。意之本體便是知。意之所在便是物: cái làm chủ thân là tâm, chỗ tâm phát ra là ý, bản thể của ý là cái biết, chỗ ý hướng tới là vật. Như ý hướng tới việc thờ cha mẹ thì thờ cha mẹ là một vật.

Theo cách đọc ấy, cái lẽ không nằm ngoài lòng người để phải đi tìm từng vật một. Cái biết ở trong lòng, ông gọi là lương tri, lấy chữ của Mạnh Tử, và trí tri là đưa lương tri ấy tới chỗ hành động. Cách vật là sửa cho ngay từng ý niệm ngay lúc nó phát ra trong từng việc. Biết và làm không tách rời, đó là thuyết tri hành hợp nhất của ông.

Vương Dương Minh kể chính ông từng thử làm theo lối Chu Hy từ thời trẻ. Theo lời kể được Stanford Encyclopedia of Philosophy thuật lại, ông cùng một người bạn ngồi trước khóm trúc để cách cái lẽ của cây trúc. Người bạn ngã bệnh sau ba ngày, ông ngã bệnh sau bảy ngày, mà lẽ của cây trúc vẫn không hiện ra. Ông kể chuyện này để nói rằng đi tìm lẽ ở ngoài là tìm nhầm chỗ.

Từ đó ông phản đối cả phần văn bản của Chu Hy. Năm 1518 ông viết bài tựa cho bản Đại Học Cổ Bản, tức giữ nguyên thứ tự của thiên Đại Học trong Lễ Ký, không chia Kinh Truyện, không bổ khuyết. Bài tựa nói việc ghép thêm chữ kính vào thì càng thêm chắp vá, việc bổ Truyện vào thì càng rời, và ông bỏ phần chia chương để trở về bản cũ. Theo ông, bản Lễ Ký không thiếu đoạn nào, và việc cách vật đã được giảng ngay trong đoạn bàn về thành ý đứng liền sau. Năm 1527 ông còn giảng tóm ý mình trong bài Đại Học Vấn.

Hai lối đọc chữ cách vật. Lời hai bên dẫn theo Đại Học Chương Cú, Truyền Tập Lục và bài tựa Đại Học Cổ Bản.
Chỗ khácChu HyVương Dương Minh
Bản vănSắp lại thành một chương Kinh, mười chương TruyệnGiữ nguyên thứ tự trong Lễ Ký, gọi là Cổ Bản
Chữ 親Theo Trình Di, đọc là tân, làm mới dânGiữ là thân, thương dân, gồm cả nuôi lẫn dạy
Chữ cáchTới, xét tới cùngChính, sửa cho ngay
Chữ vậtSự vật, sự việc ở ngoài và trongChỗ ý hướng tới
Cái lẽ ở đâuỞ trong từng sự vật và trong lòng, phải xét dần cho thôngĐủ sẵn trong lòng, là lương tri
Chương cách vật trí triĐã mất, bổ một đoạn 134 chữKhông mất, không cần bổ
Cách họcĐọc sách, xét lẽ từng việc, lâu ngày mà thôngSửa ý niệm ngay trong việc làm, biết và làm là một
Theo sử liệu

Về số phận hai lối đọc, sử liệu cho thấy lối Chu Hy thành chuẩn của nhà nước: từ năm 1313 Tứ Thư theo chú của Chu Hy vào khoa cử Trung Hoa, và tới năm 1415 nhà Minh ban bộ Tứ Thư Đại Toàn lấy chú Chu Hy làm chuẩn. Lối Vương Dương Minh không thành chuẩn thi cử, nhưng lan rộng trong giới sĩ phu đời Minh và sang cả Nhật Bản. Ở Việt Nam, khoa cử theo chú Chu Hy, nên học trò Việt đọc Đại Học theo cách chia Kinh Truyện và đọc tân dân. Đời Thanh, các nhà khảo chứng lại quay về xét chữ nghĩa bản cổ, và chữ cách được bàn lại thêm nhiều lối nữa.

Chỗ hay hiểu lầm

Thư viện không chọn bên nào. Chu Hy đọc chữ cách theo nghĩa cổ là tới và dựng nên một phép học có thứ tự. Vương Dương Minh đọc theo nghĩa sửa cho ngay và kéo việc học về ngay trong lòng và trong việc làm. Cả hai đều dựa vào cùng năm chữ trí tri tại cách vật, và cả hai đều có người theo tới nay.

VINgười Theo Nho Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Cần nói ngay: Nho Giáo không có kinh nguyện hằng ngày. Không có giờ đọc cố định buổi sáng hay buổi tối, không có tư thế quỳ lạy khi đọc, không có câu nào được tin là đọc lên thì sinh phước. Chương Kinh Đại Học được đọc theo lối của một bản văn học thuật, và chỗ đứng của nó trong đời sống người Việt xưa nằm ở ba nơi: trường học, trường thi, và lời ăn tiếng nói.

Sách đầu tiên trong Tứ Thư

Theo lời dặn của Chu Hy trong Chu Tử Ngữ Loại, quyển 14, Đại Học được đọc trước Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung, vì nó dựng cái khung cho cả bộ. Ở Việt Nam, trẻ học chữ Hán thường bắt đầu bằng các sách vỡ lòng như Tam Tự Kinh, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Sơ Học Vấn Tân, Minh Tâm Bảo Giám, rồi mới lên Tứ Thư Ngũ Kinh. Theo bài của Thư viện Huệ Quang, học sách gì trước sách gì sau là do thầy đồ định, nên thứ tự không nhất loạt như nhau ở mọi trường.

Học thuộc lòng trong trường làng

Học trò xưa thường đọc to từng câu theo thầy, đọc đi đọc lại cho tới khi thuộc làu, rồi mới nghe thầy giảng nghĩa theo lời chú của Chu Hy. Chương Kinh ngắn và có nhịp đều, các câu nối bằng chữ nhi hậu lặp lại, nên là một trong những đoạn học trò thuộc sớm nhất.

Đề thi trong khoa cử Lê Nguyễn

Theo tư liệu của Khu di tích Lam Kinh dẫn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, từ năm 1462 đời Lê Thánh Tông, kỳ thứ nhất của thi Hương thi kinh nghĩa về Tứ Thư. Sang đời Nguyễn, khoa thi Hương đầu tiên mở năm 1807 dưới triều Gia Long, và kỳ đầu cũng thi kinh nghĩa. Muốn làm bài kinh nghĩa thì phải thuộc chính văn và hiểu đúng lời chú. Khoa thi cuối cùng mở năm 1919.

Câu vào lời nói thường

Bốn vế tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đã thành câu nói của người Việt, dùng trong lời khuyên răn, trong câu đối, trong văn chương, kể cả với người chưa từng biết nó rút từ sách Đại Học. Những chữ như cách vật trí tri, chí thiện, bản mạt, tiên hậu cũng đi vào vốn từ Hán Việt qua con đường này.

Ở Văn Miếu

Tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội, Đại Học có mặt trước hết như sách học. Quốc Tử Giám lập năm 1076 bên cạnh Văn Miếu là trường cao cấp đầu tiên của nước Việt, và ở các đời về sau, khi khoa cử lấy Tứ Thư theo chú Chu Hy làm đề, sách này là phần nền của việc học ở đây. Ngày nay các chương trình giáo dục di sản của Văn Miếu như Lớp học xưa và Tìm hiểu sách học của nho sinh đưa học sinh tới làm quen với lối học và lối làm sách của người xưa.

Cần tách rõ việc học với việc tế. Trong lễ tế Khổng Tử ở văn miếu, gọi là lễ Thích Điện, nghi thức gồm lễ rước văn vào điện Đại Thành, các bước quán tẩy và dâng hương, và phần đọc là bài văn tế. Thư viện chưa tìm được tư liệu đáng tin ghi rằng chương Kinh Đại Học là một bài đọc cố định trong nghi thức tế ở Văn Miếu Quốc Tử Giám hay ở Khổng Miếu Khúc Phụ, nên không mô tả điều ấy. Chỗ của chương Kinh ở văn miếu là chỗ của một cuốn sách học, không phải của một lời tế.

Khác nhau giữa các nơi

Cùng một bản văn nhưng mỗi nước trong vùng chữ Hán đọc bằng giọng của mình. Người Việt đọc bằng âm Hán Việt, như cột phiên âm ở trên. Người Trung Hoa đọc theo âm của từng vùng. Người Triều Tiên đọc bằng âm Hán Hàn và chèn thêm trợ từ của tiếng mình giữa các vế. Người Nhật Bản có lối đọc kanbun, đảo lại trật tự chữ cho hợp với câu tiếng Nhật. Phiên âm Hán Việt cũng có chỗ đọc khác theo vùng, như chính tâm hay chánh tâm ở chữ 正, nhất thị hay nhứt thị ở chữ 壹. Những chỗ ấy không đổi nghĩa.

Chỗ khác thứ hai là theo bản nào. Học trò Việt Nam và phần lớn người học ở vùng chữ Hán đọc theo bản Chu Hy, có chia chương Kinh và đọc tân dân. Những người theo Tâm học đọc theo Cổ Bản và đọc thân dân.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Vì chương Kinh ngắn và có câu đã thành lời nói thường, nó hay bị trích rời, bị gán tác giả, hay bị đọc theo nghĩa của chữ Hán Việt ngày nay. Năm điểm dưới đây là những chỗ lệch hay gặp.

Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ là nguyên câu trong sách

Không đúng. Đó là câu rút gọn từ chuỗi tám bậc. Nguyên văn nói thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình, và trước tu thân còn cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm. Rút còn bốn vế thì mất bốn bậc bên trong, là phần sách coi là gốc.

Chu Hy đã sửa chữ thân thành chữ tân trong sách

Chu Hy không đổi chữ trong chính văn. Ông giữ chữ 親 và chú rằng theo Trình Tử chữ này phải đọc là 新. Chính các sách in đời sau mới in thẳng chữ tân vào chính văn. Còn việc nên đọc thân hay tân thì là chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau, Chu Hy đọc tân, Vương Dương Minh đọc thân.

Chương Kinh do Khổng Tử viết

Đó là lời Chu Hy, và ông nói cẩn thận hơn: chương Kinh là lời Khổng Tử mà Tăng Tử thuật lại. Thiên Đại Học trong Lễ Ký không ghi tác giả. Giới sử học hiện nay không có cứ liệu chắc chắn để xác nhận lời gán ấy.

Phải xong việc nhà mới được lo việc nước

Bản văn nói trước sau theo nghĩa gốc ngọn, không phải một lịch trình phải làm xong bậc này mới được bước sang bậc kia. Câu từ thiên tử tới thứ nhân đều lấy tu thân làm gốc cho thấy mọi người cùng lúc ở trong chuỗi ấy, người dân thường không trị nước mà vẫn có phần của mình.

Cách vật trí tri là khoa học thực nghiệm

Cuối đời Thanh, hai chữ cách trí được mượn để gọi khoa học tự nhiên phương Tây, và từ đó dễ bị đọc ngược vào sách cổ. Với Chu Hy, cái lẽ cần xét trước hết là lẽ đạo đức trong từng việc, dù ông có bàn tới cả cỏ cây. Với Vương Dương Minh, cách vật là sửa ý niệm cho ngay. Không lối nào là phương pháp thí nghiệm.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chương Kinh sách Đại Học là gì

Là đoạn mở đầu sách Đại Học, 205 chữ Hán, từ câu Đại Học chi đạo, tại minh minh đức tới câu vị chi hữu dã. Tên chương Kinh là do Chu Hy đặt khi ông chia thiên Đại Học trong Lễ Ký thành một chương Kinh và mười chương Truyện. Chương này nêu ba cương lĩnh là minh minh đức, thân dân và chỉ ư chí thiện, cùng tám điều mục từ cách vật tới bình thiên hạ.

Thân dân hay tân dân mới đúng

Chính văn trong mọi bản cổ viết chữ 親, âm thân, nghĩa là thương dân. Trình Di đời Tống cho rằng phải đọc là 新, âm tân, làm mới dân, và Chu Hy theo cách đọc ấy trong lời chú, dựa vào chương Truyện thứ hai có câu tác tân dân. Vương Dương Minh giữ cách đọc thân dân, cho rằng thân thì gồm cả nuôi lẫn dạy. Đây là chỗ hiểu khác nhau thật sự, không có đáp án được mọi bên cùng nhận.

Tam cương lĩnh và bát điều mục là gì

Tam cương lĩnh là ba mục đích của cái học lớn: minh minh đức, thân dân hay tân dân, chỉ ư chí thiện. Bát điều mục là tám bậc: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Hai tên gọi cương lĩnh và điều mục lấy từ lời chú của Chu Hy, nguyên văn không có.

Cách vật trí tri nghĩa là gì

Tùy nhà chú giải. Chu Hy giải cách là tới, cách vật là xét tới tận cùng cái lẽ của sự vật, trí tri là đẩy cái biết của mình tới chỗ trọn vẹn. Vương Dương Minh giải cách là chính, sửa cho ngay, vật là chỗ ý hướng tới, trí tri là đưa lương tri vốn có trong lòng ra thành việc làm. Trịnh Huyền đời Hán còn một cách giải khác nữa. Trang này giữ nguyên hai chữ cách vật trong bản dịch để không chọn thay quý vị.

Người theo Nho có đọc Đại Học hằng ngày như đọc kinh không

Không. Nho Giáo không có kinh nguyện hằng ngày. Đại Học là sách học, xưa được học thuộc lòng ở trường làng và thi trong khoa cử Việt Nam thời Lê và Nguyễn, từ năm 1462 kỳ đầu thi Hương thi kinh nghĩa Tứ Thư. Trong lễ tế Khổng Tử ở văn miếu, phần đọc là bài văn tế, và thư viện chưa tìm được tư liệu đáng tin ghi chương Kinh Đại Học là một bài đọc cố định trong lễ tế.

›Đọc Tiếp