VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Kinh Niệm Hương: bài mở đầu mỗi thời cúng tứ thời của đạo Cao Đài

· Niệm Hương, bài mở đầu Kinh Cúng Tứ Thời

Mười câu thơ song thất lục bát mở đầu mỗi thời cúng, lời kinh tín đồ đọc, nghĩa bằng lời thường và giải nghĩa từng câu

Thuộc đạo
Đạo Cao Đài
Niên đại
Giáng cơ năm 1925 tại Minh Lý Đạo, in trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo năm 1936
Theo tài liệu của đạo, bài do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ tại Minh Lý Đạo năm 1925, dựa theo bài Phần Hương Chú chữ Hán của dòng Minh Sư. Bài có mặt trong quyển Kinh Cúng Tứ Thời in năm 1928 và quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo do Hội Thánh Tây Ninh in năm 1936 tại nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn.
Độ dài
10 câu thơ, 70 chữ
Mười câu theo thể song thất lục bát: hai khổ trọn vẹn bảy, bảy, sáu, tám chữ, rồi thêm một cặp câu bảy chữ ở cuối. Đếm từ chữ Đạo mở đầu tới chữ lành cuối bài được đúng 70 chữ, không kể nhan đề và câu chú niệm sau bài.
Thường tụng khi
Mở đầu mỗi thời cúng tứ thời Tý, Mẹo, Ngọ, Dậu, tại thánh thất, điện thờ Phật Mẫu và tại tư gia

ITrước Khi Đọc

Trong một thánh thất Cao Đài, mỗi thời cúng mở ra bằng cùng một bài. Năm cây nhang vừa cắm lên lư, người quỳ trước Thiên Nhãn cất giọng tụng câu đầu tiên: Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp. Bài ấy tên là Niệm Hương, chỉ có mười câu, nhưng được tụng bốn lần mỗi ngày, nên với người tín đồ lâu năm đây thường là bài thuộc trước mọi bài khác.

Niệm Hương nghĩa là tưởng niệm khi dâng hương. Bài đứng đầu phần Kinh Cúng Tứ Thời trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, và được tụng trước tiên trong mỗi thời cúng Tý, Mẹo, Ngọ, Dậu. Chức phận của nó giống như lời thưa gửi mở đầu một buổi hầu chuyện: người cúng nói rõ mình lấy gì làm gốc, dâng gì lên, xin ai chứng giám, và mong điều chi.

Khác với những bài kinh cổ phải dịch từ chữ Hán hay chữ Phạn, Niệm Hương viết thẳng bằng tiếng Việt, theo thể thơ song thất lục bát quen thuộc của văn chương Việt Nam. Vì vậy trang này không có cột phiên âm. Cột thứ nhất là lời kinh đúng như tín đồ đọc, cột thứ hai là nghĩa bằng lời thường do thư viện soạn cho người đọc hôm nay, và cột tiếng Anh do thư viện tự dịch. Nhiều chữ trong bài như tín hiệp, lư ngọc, Tiên gia, đảo cáo, bổ báo là từ Hán Việt hay lối nói cũ, nên phần giải nghĩa từng câu sẽ nói kỹ.

Bài kinh ngắn nhưng chứa một cách nghĩ trọn vẹn về việc thờ cúng: lòng thành là gốc, hương khói là chỗ lòng nương vào, và lời nguyện đi từ lòng người qua làn khói lên tới chín tầng trời. Thư viện trình bày để quý vị đọc và tự cân nhắc, phần nào thuộc giáo nghĩa của đạo thì ghi rõ là theo giáo nghĩa, phần nào thuộc sử liệu thì ghi rõ là theo sử liệu.

Theo sử liệu

Về lai lịch văn bản, các tài liệu của chính đạo Cao Đài cho biết bài Niệm Hương không khởi đầu ở Tây Ninh. Theo bài khảo của Huệ Nhẫn trên trang Nhịp Cầu Giáo Lý, bài do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ bằng chữ quốc ngữ năm 1925 tại Minh Lý Đạo, một đạo đàn ở Sài Gòn thuộc dòng Minh Sư, dựa theo bài Phần Hương Chú viết bằng chữ Hán vốn có trong kinh sách Minh Sư. Cùng năm ấy, bài Khai Kinh cũng được giáng tại đó, tương truyền do Đức Lữ Tổ. Đạo Cao Đài khai đạo năm 1926 và tiếp nhận bộ kinh cúng này trong những năm đầu.

Về bản in, tài liệu thống kê các bản kinh của đạo Cao Đài từ năm 1926 tới 1936 ghi nhận quyển Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh bằng chữ Hán do hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt biên soạn, cùng quyển Kinh Cúng Tứ Thời bằng chữ quốc ngữ, đều in năm 1928. Tới năm 1936, Hội Thánh Tây Ninh in quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo tại nhà in Đức Lưu Phương ở Sài Gòn, gom cả phần kinh cúng tứ thời lẫn phần Tân Kinh mới giáng. Lời Tựa của Hội Thánh ghi phần Tân Kinh được ban trong mười ngày, từ ngày 21 tới ngày 31 tháng 8 năm 1935. Quyển kinh tín đồ Tây Ninh dùng hằng ngày cho tới nay vẫn giữ khung của ấn bản ấy, và bài Niệm Hương vẫn đứng đầu.

Hai lớp chuyện ấy cần đọc tách nhau. Lớp giáo nghĩa nói bài kinh do Đấng thiêng liêng ban qua cơ bút. Lớp sử liệu ghi được năm, nơi, tên sách và nhà in. Hai lớp không loại trừ nhau, vì chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau.

IIToàn Văn Mười Câu Kinh

Lời kinh chép theo quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tụng theo giọng Nam Ai, cột nghĩa bằng lời thường do thư viện soạn.
CâuLời kinhNghĩa bằng lời thườngTiếng Anh
1Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp,Đạo có gốc từ tấm lòng thành và đức tin hợp lại,The Way is rooted in sincere hearts joined in faith,
2Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.lòng ấy nương theo làn khói nhang mà truyền đi.And the heart leans on the incense smoke to carry it onward.
3Mùi hương lư ngọc bay xa,Mùi hương từ chiếc lư quý bay đi xa,The fragrance from the jade censer drifts far,
4Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng.thành kính cầu nguyện, xin Đấng Cha Lành nơi cõi Tiên chứng cho tấm lòng.As in reverence we pray the Immortal Father to witness our hearts.
5Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc,Xin chư Thần, chư Thánh cỡi hạc đi mau,May the Deities and Saints ride swiftly on their cranes,
6Xuống phàm trần vội gác xe Tiên.xuống cõi trần, tạm dừng cỗ xe cõi Tiên mà ghé lại.Come down to this mortal world and halt their heavenly carriages.
7Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,Hôm nay kẻ học trò này thiết tha cầu nguyện,This day we, Your disciples, earnestly pray
8Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.xin chín tầng trời và cõi đất truyền suốt lời nguyện và chứng biết cho.That the Nine Heavens and the Earth carry our prayer through and bear witness.
9Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo,Những điều lòng hằng mong mỏi, con ghi tạc mà khấn nguyện tâu trình,What our hearts long for we hold firm and humbly present,
10Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.trông nhờ Ơn Trên đáp lại bằng phước lành.Trusting the Grace Above to answer with blessings.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới giải lần lượt mười câu, có chỗ gộp hai câu liền nhau vì chúng chung một ý. Thư viện dựa trên hai sách giải nghĩa quen dùng trong đạo, của ông Nguyễn Văn Hồng và ông Quách Văn Hòa, và ghi rõ những chỗ hai sách hay các cách đọc khác nhau.

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp

Câu mở đầu đặt nền cho cả bài: gốc của đạo không nằm ở lễ vật, không nằm ở số nhang, mà nằm ở lòng người. Chữ thành là thành thật, không giả dối. Chữ tín là tin, và theo lời giải của ông Nguyễn Văn Hồng thì đây là tin có Thượng Đế, tin có các Đấng thiêng liêng. Chữ hiệp là cách đọc Nam Bộ của chữ hợp, nghĩa là gom lại làm một.

Chỗ các nhà giải hiểu khác nhau là hiệp với cái gì. Cách thứ nhất đọc cả cụm là lòng thành và đức tin hợp lại trong một người, tức hai phẩm chất cùng có mặt thì đạo mới có gốc. Cách thứ hai, gặp trong một số bài giảng của đạo, đọc rằng lòng thành tín của người hợp với ơn trên của Đấng thiêng liêng thì mới thành đạo, tức một sự gặp gỡ hai chiều. Cách thứ ba đọc chữ hiệp theo nghĩa chung, lòng thành tín của nhiều người hợp lại mà thành một nền đạo. Lời kinh không chốt cách nào, và cả ba đều được nói trong các bài giảng.

Đặt câu này ở đầu bài dâng hương cũng là một lời tự nhắc. Người cúng sắp đốt nhang, dâng hoa, rượu, trà, và câu đầu tiên người ấy đọc lại nói rằng mọi thứ ấy chỉ là phần ngọn.

Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra

Nếu câu một nói gốc là lòng, thì câu hai nói lòng ấy đi bằng đường nào. Chữ nương nghĩa là dựa vào, mượn làm chỗ tựa. Lòng người vốn không thấy được, nên phải nương vào một vật thấy được là làn khói nhang, rồi theo làn khói ấy mà tiếp truyền, tức nối tiếp truyền đi.

Câu này dịch sát ý câu thứ hai của bài Phần Hương Chú chữ Hán, 心假香傳, âm Hán Việt là tâm giả hương truyền. Chữ 假 ở đây đọc là giả nhưng mang nghĩa mượn, nhờ vào, không mang nghĩa giả dối. Cả câu nghĩa là lòng mượn hương mà truyền đi. Bản Việt chọn chữ nương, vừa đúng nghĩa mượn vừa có sắc thái nương tựa.

Thứ tự chữ trong câu đáng để ý. Chủ ngữ là lòng, còn nhang khói chỉ là chỗ nương. Bài kinh không nói nhang khói tự nó mang lời cầu đi, mà nói lòng người dùng nhang khói làm đường đi.

Mùi hương lư ngọc bay xa

Lư là cái lư hương, đồ đặt trên bàn thờ để cắm nhang. Ngọc ở đây là chữ tôn xưng, chỉ vật quý, không nhất thiết là lư làm bằng đá ngọc. Câu này ứng với câu thứ ba của bài chữ Hán, hương phần ngọc lư, nghĩa là hương đốt trong lư ngọc.

Ông Nguyễn Văn Hồng giải thêm một tầng nghĩa bóng: lư ngọc là cái tâm quý báu của con người, mùi hương là những ý nghĩ trong sạch từ tâm ấy tỏa ra. Theo cách đọc này, câu ba không chỉ tả cảnh trên bàn thờ mà tả một việc trong lòng người. Ông Quách Văn Hòa thì giải chữ lư theo nghĩa đen là đồ thờ. Hai cách không chống nhau, một cách tả vật, một cách tả điều vật ấy tượng trưng.

Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng

Kính thành là cung kính và thành thật, hai chữ này lặp lại ý chữ thành ở câu một. Chứng lòng là chứng giám cho tấm lòng, tức xin bề trên thấy và nhận cho lòng mình.

Chữ khó nhất của câu là Tiên gia. Đọc theo lối thường, Tiên gia là nhà Tiên, giới Tiên, tức các vị Tiên nói chung. Hai sách giải nghĩa của đạo lại đọc hẹp hơn. Ông Quách Văn Hòa giải Tiên gia là Đấng Tiên Ông, tức Đức Đại Từ Phụ. Ông Nguyễn Văn Hồng tách hai chữ, Tiên là ông Tiên, gia là cha, và cũng hiểu là Đức Chí Tôn. Cách đọc này khớp với câu chú niệm ngay sau bài, trong đó Đức Chí Tôn được xưng là Cao Đài Tiên Ông. Cột nghĩa ở trên theo cách đọc của hai sách giải nghĩa, còn cách đọc rộng là các Đấng cõi Tiên vẫn gặp trong nhiều bài viết khác.

Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc, Xuống phàm trần vội gác xe Tiên

Hai câu bảy chữ này là lời thỉnh các Đấng giáng xuống. Ruổi dong là đi mau một mạch, như người cưỡi ngựa giục ngựa chạy. Ông Nguyễn Văn Hồng giải là đi thẳng một mạch cho mau tới nơi. Cỡi hạc là hình ảnh quen của văn chương Đạo giáo, các vị Tiên đi lại trên lưng chim hạc. Xe Tiên là cỗ xe mầu nhiệm nơi cõi thiêng liêng. Gác xe là gác lại, tạm để cỗ xe đó mà dừng chân.

Chữ vội làm câu thơ ấm hơn hẳn. Người thỉnh không chỉ mời các Đấng xuống, mà mời xuống vội, như gọi người thân mau về nhà. Hai câu này ứng với hai câu chữ Hán chơn linh hạ giáng, Tiên bội lâm hiên, nghĩa là chân linh giáng xuống, ngọc bội của Tiên tới hiên nhà. Bản Việt thay ngọc bội bằng hạc và xe, những hình ảnh dễ hình dung với người Việt hơn.

Về cách chép, bản Hội Thánh chép lại trên daotam.info đặt dấu phẩy giữa Thần, Thánh, còn bản in lại theo ấn bản thứ nhứt chép liền Thần Thánh. Có dấu phẩy thì đọc là hai hàng Đấng, chư Thần và chư Thánh. Không dấu phẩy thì đọc như một danh từ chung, các Đấng thiêng liêng. Nghĩa gần như không đổi.

Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền

Đệ tử là học trò. Người tín đồ Cao Đài tự xưng là đệ tử trước Đức Chí Tôn, vì theo giáo nghĩa, Đức Chí Tôn là Thầy trực tiếp dạy đạo qua cơ bút chứ không qua một giáo chủ hữu hình. Bản Hội Thánh viết hoa chữ Đệ tử, như một cách tự xưng trang trọng.

Khẩn nguyền là khẩn thiết cầu nguyện. Chữ nguyền ở đây là cách đọc cũ của chữ nguyện, được chọn để hiệp vần với chữ Tiên cuối câu trước và chữ truyền trong câu sau, đúng luật vần của thể song thất lục bát.

Câu này ứng với câu kim thần quan cáo của bài chữ Hán, nghĩa là nay kẻ bề tôi này tâu báo. Bản chữ Hán dùng chữ thần, bề tôi, theo lối người dâng sớ lên triều đình trời. Bản Việt đổi sang chữ đệ tử, tức từ quan hệ vua tôi chuyển sang quan hệ thầy trò.

Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri

Câu tám chữ này là chỗ lời nguyện lên tới cao nhất. Thông truyền là truyền suốt, không bị ngăn. Chứng tri là chứng biết. Câu chữ Hán tương ứng là kính đạt cửu thiên, thẳng tới chín tầng trời. Bản Việt thêm chữ Đất, để lời nguyện không chỉ lên trời mà thấu cả trời lẫn đất.

Về chín tầng trời, sách của ông Nguyễn Văn Hồng liệt kê theo giáo lý Cao Đài từ thấp lên cao: Vườn Ngạn Uyển, Vườn Đào Tiên, Thanh Thiên, Huỳnh Thiên, Xích Thiên, Kim Thiên, Hạo Nhiên Thiên, Phi Tưởng Thiên, Tạo Hóa Thiên. Có người đọc chín tầng trời theo nghĩa rộng của văn chương cổ, tức khắp cõi trời, không nhất thiết theo danh sách này.

Chỗ các bản chép khác nhau: bản Hội Thánh chép lại trên daotam.info và các sách giải nghĩa gần đây viết Chín tầng, còn bản in lại theo ấn bản thứ nhứt viết Chín từng. Từng là cách viết cũ của tầng trong tiếng Nam Bộ đầu thế kỷ hai mươi, nghĩa không đổi.

Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo, Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành

Hai câu cuối nói điều người cúng mong. Sở vọng là điều mình trông mong. Ông Nguyễn Văn Hồng giải là điều quan trọng của mình hằng mong ước. Gắng ghi là ra sức ghi nhớ, ghi tạc trong lòng. Đảo cáo gồm chữ đảo là cầu khấn và chữ cáo là tâu trình. Ông Nguyễn Văn Hồng giải là cúng tế cầu nguyện và tấu trình, ông Quách Văn Hòa giải là cầu xin với các Đấng thiêng liêng.

Ơn Trên là cách người Cao Đài gọi chung ân điển của Đức Chí Tôn và các Đấng. Bổ báo gồm chữ bổ là bù đắp, giúp thêm, và chữ báo là đáp lại. Ông Quách Văn Hòa giải là báo đáp lại lời cầu xin, ông Nguyễn Văn Hồng giải là giúp đỡ báo đáp lại.

Hai câu này ứng với hai câu chữ Hán sở khải sở nguyện, hàm tứ như ngôn, nghĩa là điều tâu điều nguyện, xin đều ban cho như lời. Chỗ khác nhau đáng để ý: bản chữ Hán xin được ban đúng như lời xin, còn bản Việt chỉ xin phước lành, không kê ra điều cụ thể nào. Bài kinh khép lại bằng một lời trông nhờ chứ không bằng một bản liệt kê.

Về cách chép, phần lớn nguồn viết gắng ghi, một vài trang chép lại viết gắn ghi. Thư viện theo gắng ghi, là chữ có trong cả bản Hội Thánh lẫn bản in lại theo ấn bản thứ nhứt.

IVNiệm Hương Trong Một Thời Cúng

Niệm Hương không đứng một mình. Nó là bài đầu tiên trong một chuỗi bài được tụng liền nhau, và chỉ khi đặt vào chuỗi ấy mới thấy hết vai trò của nó. Theo phần hướng dẫn trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo và sách Bước Đầu Học Đạo của ông Nguyễn Văn Hồng, một thời cúng Đức Chí Tôn gồm tám phần theo thứ tự dưới đây.

Thứ tự tám phần của một thời cúng Đức Chí Tôn theo Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. Sách Bước Đầu Học Đạo ghi khi cúng tại tư gia có thể dâng rượu hoặc trà ở phần thứ bảy.
Thứ tựBàiVai trò trong thời cúng
1Niệm HươngDâng hương, trình lòng thành, thỉnh các Đấng chứng giám
2Khai KinhMở phần tụng kinh, nói về cõi trần khổ và đường giải thoát
3Kinh Ngọc Hoàng Thượng ĐếKinh chính của thời cúng, tán tụng Đức Chí Tôn
4Kinh Phật giáoKinh xưng tụng ngôi Phật trong Tam Giáo
5Kinh Tiên giáoKinh xưng tụng ngôi Tiên trong Tam Giáo
6Kinh Nho giáoKinh xưng tụng ngôi Thánh trong Tam Giáo
7Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng TràDâng tam bửu, hoa tượng tinh, rượu tượng khí, trà tượng thần
8Ngũ NguyệnNăm lời nguyện chung, khép thời cúng

Nhìn cả chuỗi thì thấy Niệm Hương làm việc của một lời thưa trước khi vào chuyện. Ba bài Phật, Tiên, Nho đứng liền nhau ở giữa thời cúng thể hiện ý quy nguyên Tam Giáo của đạo Cao Đài, tức các nền đạo lớn quy về một gốc. Nhưng trước khi xưng tụng bất kỳ ngôi nào, người cúng phải qua bài Niệm Hương, nghĩa là phải nói rõ mình đến bằng lòng thành trước đã.

Khi cúng Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu, thứ tự có khác. Theo sách Bước Đầu Học Đạo, thời cúng ấy cũng mở bằng Niệm Hương và Khai Kinh, rồi tới Phật Mẫu Chơn Kinh thay cho Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, và trong cúng tứ thời có thêm bài Tán Tụng Công Đức xưng tụng Đức Phật Mẫu. Phật Mẫu Chơn Kinh đã có mặt trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo in năm 1936. Như vậy dù cúng Đức Chí Tôn hay cúng Đức Phật Mẫu, bài mở đầu vẫn là Niệm Hương.

Sau bài Niệm Hương, người cúng lạy ba lạy, mỗi lạy bốn gật, mỗi gật niệm câu chú Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo ghi gọn là mười hai lạy. Câu chú này là danh xưng của Đức Chí Tôn, và chính nó giải thích vì sao hai sách giải nghĩa đọc chữ Tiên gia trong câu bốn là Đức Chí Tôn.

Năm cây nhang và ba cây nhang

Bài kinh nói tới nhang khói, và số nhang trong đạo Cao Đài có quy định rõ. Phần Tiểu Dẫn của Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo ghi: khi cúng Thầy phải đốt cho đủ năm cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là Án Tam Tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ Khí. Còn khi cúng các Đấng khác thì đốt ba cây. Sách Bước Đầu Học Đạo nói thêm rằng khi cúng Thầy thì không bao giờ đốt ba cây, và khi cúng tại Điện Thờ Phật Mẫu thì dùng bó nhang ba cây.

Cách cắm được tả cụ thể: ba cây hàng trong đứng ngang nhau, cây giữa, cây bên phải, cây bên trái, hai cây hàng ngoài cắm xen vào khoảng giữa, sao cho người đứng trước bàn thờ nhìn vào thấy đủ năm cây, không cây nào che cây nào.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa, ý nghĩa của năm cây nhang được giải theo hai lớp, và các sách của đạo không chọn một lớp mà bỏ lớp kia.

Lớp thứ nhất là lớp vũ trụ, theo chính tên gọi trong Tiểu Dẫn. Ba cây hàng trong là Tam Tài, tức Thiên, Địa, Nhơn, trời, đất và người. Sách Bước Đầu Học Đạo ghi cây giữa là Thiên, cây bên phải là Địa, cây bên trái là Nhơn. Hai cây hàng ngoài thêm vào để đủ năm, gọi là Ngũ Khí, tức năm khí Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cấu thành vạn vật. Ý chung là người cúng dâng lên Đức Chí Tôn cả trời đất người và năm khí tạo nên càn khôn.

Lớp thứ hai là lớp tu tâm, gặp trong sách Chú Giải Kinh Cúng Tứ Thời của ông Quách Văn Hòa. Năm cây nhang là ngũ hương, năm thứ hương của lòng người tu: giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. Đây là một khái niệm có sẵn trong Phật giáo, và sách ấy viết rằng đạo Cao Đài dùng năm thứ hương này bằng năm cây nhang để dâng cúng Đức Chí Tôn.

Người tín đồ có thể nghe cả hai cách giải trong những buổi giảng khác nhau. Lớp thứ nhất nói về trật tự của trời đất, lớp thứ hai nói về phẩm chất của người dâng. Đặt cạnh câu kinh Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra, lớp thứ hai cho thấy nhang không chỉ là vật dâng mà còn là hình ảnh của chính lòng người.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ cần nhớ, gọn trong một câu: Niệm Hương là bài đầu tiên của mọi thời cúng tứ thời, cúng Đức Chí Tôn đốt năm cây nhang gồm Án Tam Tài và Tượng Ngũ Khí, cúng các Đấng khác đốt ba cây, và sau bài kinh là ba lạy, mỗi lạy bốn gật niệm danh xưng Cao Đài Tiên Ông.

VLời Kinh Từ Đâu Mà Có

Người đọc bài Niệm Hương lần đầu thường hỏi ai viết bài này. Câu hỏi ấy có hai lời đáp, một theo giáo nghĩa của đạo và một theo những gì các nhà nghiên cứu trong đạo đã khảo được. Thư viện trình bày cả hai, rồi bày ra bài chữ Hán mà các nhà khảo cứu xem là gốc để quý vị tự đối chiếu.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa, các bài kinh cúng của đạo Cao Đài không do người soạn ra mà do các Đấng thiêng liêng giáng cơ ban cho. Cơ bút, hay đàn cơ, là cách đạo tin rằng cõi thiêng liêng dạy người. Đạo Cao Đài tự nhận là thời kỳ Đức Chí Tôn trực tiếp dạy đạo qua huyền cơ, nên kinh ra đời theo đường ấy được xem là thánh ngôn, không phải văn chương của người.

Riêng bài Niệm Hương, tài liệu của đạo ghi là do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ, còn bài Khai Kinh đi liền sau là do Đức Lữ Tổ giáng cơ. Với người tín đồ, việc bài kinh có một bài chữ Hán đi trước không làm giảm tính thiêng của nó. Theo cách hiểu phổ biến trong đạo, các Đấng dùng lại những lời cầu đã quen với người xưa, chuyển sang tiếng Việt cho người thời mới đọc được, đúng với tinh thần phổ độ của đạo là đưa đạo tới gần mọi người.

Theo sử liệu

Theo sử liệu, các nhà nghiên cứu trong đạo đã lần ra gốc bài Niệm Hương tới một bài chữ Hán mười câu, mỗi câu bốn chữ, tên là Phần Hương Chú, tức bài chú đọc khi đốt hương. Bài của Lê Anh Minh trên trang Đạo Uyển cho biết bài chú ấy có trong bộ Vạn Pháp Quy Tông 萬法歸宗, một bộ sách pháp thuật Đạo giáo tương truyền do Lý Thuần Phong đời Đường biên soạn, có nhiều bản khắc về sau, trong đó có một bản năm 1892. Bài khảo của Huệ Nhẫn trên trang Nhịp Cầu Giáo Lý ghi bài chú này có trong kinh sách chữ Hán của dòng Minh Sư, và Đức Nam Cực Chưởng Giáo dựa theo đó mà giáng tả bằng quốc ngữ năm 1925 tại Minh Lý Đạo.

Một dạng gần giống của bài chú còn có mặt trong khóa tụng sáng chiều của phái Toàn Chân bên Trung Hoa, dưới tên Chúc Hương Chú 祝香咒. Bản ấy chỉ có tám câu, mở đầu bằng 道由心學,心假香傳, âm Hán Việt là Đạo do tâm học, tâm giả hương truyền, nghĩa là đạo nhờ lòng mà học, lòng mượn hương mà truyền. Bản trong Vạn Pháp Quy Tông mà bài Niệm Hương đi theo mở đầu bằng Đạo do tâm hiệp, đạo do lòng mà hợp. Chỉ một chữ khác nhau, học hay hiệp, mà hướng câu mở đầu đổi hẳn, và câu đầu của bài Niệm Hương, Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp, đi đúng theo chữ hiệp.

Bảng dưới đặt mười câu chữ Hán cạnh mười câu Việt. Hai bài khớp nhau từng câu một, cùng mười câu và cùng thứ tự ý, chỉ khác ở chỗ bản Việt mở rộng mỗi câu bốn chữ thành một câu thơ sáu, bảy hay tám chữ.

Chữ Hán theo bài của Lê Anh Minh trên Đạo Uyển, âm Hán Việt đối chiếu với bài của Huệ Nhẫn trên Nhịp Cầu Giáo Lý. Nghĩa câu chữ Hán do thư viện dịch.
Phần Hương Chú, âm Hán ViệtNghĩa câu chữ HánCâu tương ứng trong Niệm Hương
道由心合, Đạo do tâm hiệpĐạo do lòng mà hợpĐạo gốc bởi lòng thành tín hiệp
心假香傳, Tâm giả hương truyềnLòng mượn hương mà truyềnLòng nương nhang khói tiếp truyền ra
香焚玉爐, Hương phần ngọc lưHương đốt trong lư ngọcMùi hương lư ngọc bay xa
心注仙願, Tâm chú Tiên nguyệnLòng dồn vào lời nguyện dâng TiênKính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng
真靈下降, Chơn linh hạ giángChân linh giáng xuốngXin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc
仙珮臨軒, Tiên bội lâm hiênNgọc bội của Tiên tới hiên nhàXuống phàm trần vội gác xe Tiên
今臣關告, Kim thần quan cáoNay kẻ bề tôi tâu báoNgày nay Đệ tử khẩn nguyền
逕達九天, Kính đạt Cửu ThiênThẳng tới chín tầng trờiChín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri
所啟所願, Sở khải sở nguyệnĐiều tâu bày, điều mong nguyệnLòng sở vọng gắng ghi đảo cáo
咸賜如言, Hàm tứ như ngônXin đều ban cho như lờiNhờ Ơn Trên bổ báo phước lành

Thể thơ và chỗ kết mở

Bản Việt theo thể song thất lục bát, thể thơ Việt quen thuộc của Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc. Một khổ gồm hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ, một câu tám chữ. Bài Niệm Hương có hai khổ trọn như vậy, từ câu một tới câu tám, rồi thêm hai câu bảy chữ ở cuối mà không có cặp sáu tám đi theo. Đếm cả bài được bảy mươi chữ.

Vần được giữ chặt theo luật của thể thơ. Chữ cuối câu bảy chữ thứ nhất hiệp vần với chữ thứ năm của câu kế, như hiệp với tiếp, hạc với gác, cáo với báo. Chữ cuối câu bảy chữ thứ hai hiệp với chữ cuối câu sáu, như ra với xa, Tiên với nguyền. Chữ cuối câu sáu hiệp với chữ thứ sáu của câu tám, như xa với gia, nguyền với truyền. Nhờ vần chặt như vậy mà bài dễ thuộc, dễ tụng chung theo một nhịp.

Chỗ bài dừng ở cặp câu bảy chữ, không khép bằng cặp sáu tám, có thể do bản Việt giữ đúng mười câu của bài chữ Hán. Các sách thư viện tra được không bàn tới điều này. Khi tụng, câu cuối được nối ngay bằng phần lạy và niệm câu chú, nên người nghe không thấy bài bị hụt.

Chỗ các bản chép khác nhau

Thư viện đối chiếu bốn nguồn: bản Hội Thánh chép lại trên daotam.info, bản in lại theo ấn bản thứ nhứt năm 1936 trong sách Giải Nghĩa Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của ông Nguyễn Văn Hồng, sách Chú Giải Kinh Cúng Tứ Thời của ông Quách Văn Hòa và trang toathanhtayninh.wordpress.com. Lời kinh giống nhau ở cả bốn nguồn. Những chỗ khác nhau đều thuộc về cách chép và đặt dấu:

  • Chín tầng Trời ở bản Hội Thánh và phần lớn nguồn, Chín từng Trời ở bản theo ấn bản thứ nhứt. Từng là cách viết cũ của tầng.
  • Xin Thần, Thánh có dấu phẩy ở bản Hội Thánh, Xin Thần Thánh không dấu phẩy ở bản theo ấn bản thứ nhứt.
  • Tiên gia viết thường chữ gia ở bản Hội Thánh, Tiên Gia viết hoa ở bản theo ấn bản thứ nhứt.
  • Đệ tử viết hoa ở bản Hội Thánh, đệ tử viết thường ở bản theo ấn bản thứ nhứt.
  • gắng ghi ở bản Hội Thánh và bản theo ấn bản thứ nhứt, gắn ghi ở một vài trang chép lại.
  • Bản Hội Thánh dùng gạch nối theo chính tả cũ như cầu-nguyện, ruổi-dong, phàm-trần. Trang này bỏ gạch nối theo lối viết hiện nay.

Thư viện theo bản Hội Thánh ở mọi chỗ trên. Trong các nguồn đã tra, thư viện không thấy tài liệu nào ghi một hội thánh Cao Đài nào khác dùng lời Niệm Hương khác đi về ý. Nếu quý vị nghe ở một thánh thất một chữ khác với trang này, nhiều khả năng đó là một trong những chỗ chép khác nhau kể trên.

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Niệm Hương được tụng mỗi ngày bốn lần, vì nó mở đầu mỗi thời trong cúng tứ thời. Theo sách Bước Đầu Học Đạo, bốn thời ấy rơi vào bốn lúc âm dương xoay chuyển trong ngày: thời Tý lúc nửa đêm khi âm cực thịnh và dương bắt đầu sinh, thời Mẹo lúc sáu giờ sáng khi âm dương quân bình, thời Ngọ lúc mười hai giờ trưa khi dương cực thịnh và âm bắt đầu sinh, thời Dậu lúc sáu giờ chiều khi âm dương lại quân bình. Sách ấy ghi người cúng nên giữ đúng giờ, chỉ xê xích chừng mười lăm phút, để hòa cùng thời cúng tại Tòa Thánh.

Tại thánh thất

Tín đồ quanh vùng tới cúng đàn chung. Thời cúng có nhạc lễ và đồng nhi tụng kinh. Sách Bước Đầu Học Đạo ghi một thời cúng tại thánh thất kéo dài chừng ba mươi phút. Niệm Hương là bài đầu tiên được cất lên sau khi hương đèn đã dâng.

Tại Điện Thờ Phật Mẫu

Thời cúng cũng mở bằng Niệm Hương và Khai Kinh, rồi tới Phật Mẫu Chơn Kinh. Nhang dâng là bó ba cây. Sách Bước Đầu Học Đạo ghi người dự cúng đều mặc áo dài trắng, không mang phẩm phục, vì tất cả đều là con của Đức Phật Mẫu, không phân biệt phẩm tước.

Tại tư gia

Người tín đồ ở xa thánh thất cúng trước bàn thờ Thiên Nhãn trong nhà, đọc đủ tám phần như ở thánh thất nhưng không có nhạc. Sách Bước Đầu Học Đạo ghi một thời cúng tại tư gia kéo dài chừng hai mươi phút. Người bận việc không giữ đủ bốn thời thì thường giữ hai thời.

Tư thế và tay ấn

Phần Tiểu Dẫn của Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo tả: tay trái bắt ấn Tý, tức bấm đầu ngón cái vào gốc ngón áp út, rồi nắm lại, bàn tay mặt áp ngoài, ngón cái tay mặt xỏ vào giữa ngón cái và ngón trỏ tay trái. Giữ hai tay như vậy đưa lên trán, xá sâu ba xá rồi quỳ xuống, hai tay lại đưa lên trán như trước.

Giọng tụng

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo ghi ngay dưới nhan đề bài là giọng Nam Ai, một điệu chậm và trầm của nhạc lễ Nam Bộ. Mười câu được ngân theo điệu ấy, không đọc như văn xuôi.

Sau bài kinh

Tụng xong câu Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành, người cúng lạy ba lạy, mỗi lạy bốn gật, mỗi gật niệm Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, rồi mới qua bài Khai Kinh.

Về chuyện các nhánh, bài Niệm Hương có gốc ở Minh Lý Đạo trước khi vào quyển kinh của Tòa Thánh Tây Ninh, và các tài liệu thư viện tra được đều nói về nó như bài niệm hương của đạo Cao Đài nói chung. Chỗ khác nhau giữa các nơi, nếu có, nằm ở nghi tiết đi kèm như cách sắp bàn thờ, số bài tụng sau đó, điệu nhạc, hơn là ở lời kinh. Mô tả trên trang này theo nghi tiết của Tòa Thánh Tây Ninh.

Thư viện ghi lại những điều này như người quan sát, để quý vị hiểu điều mình thấy khi bước vào một thánh thất. Chuyện cúng ra sao cho đúng là việc của mỗi hội thánh, và người muốn biết kỹ nên hỏi ngay tại thánh thất nơi mình tới.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Vì bài ngắn và được tụng rất thường, nhiều người nghe quen tai mà ít khi dừng lại ở từng chữ. Năm điểm dưới đây là những chỗ dễ hiểu lệch, ghi lại để quý vị đối chiếu với lời kinh.

Nhang khói tự nó làm cho lời cầu linh ứng

Câu đầu của bài nói ngược lại. Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp, còn nhang khói chỉ là chỗ lòng nương vào, như câu hai nói Lòng nương nhang khói. Trong câu ấy chủ ngữ là lòng, nhang khói chỉ là đường đi. Hai sách giải nghĩa của đạo đều nhấn điểm này.

Năm cây nhang chỉ là đốt nhiều cho trọng

Số nhang có quy định và có nghĩa. Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo ghi cúng Đức Chí Tôn đốt năm cây, ba cây hàng trong là Án Tam Tài, hai cây hàng ngoài là Tượng Ngũ Khí, còn cúng các Đấng khác thì ba cây. Có sách giải thêm năm cây là năm thứ hương của lòng người tu.

Tâm giả hương truyền nghĩa là lòng giả dối

Ai đọc bài Phần Hương Chú chữ Hán, gốc của Niệm Hương, dễ vấp chữ giả. Chữ giả ở đây nghĩa là mượn, nhờ vào, không phải giả dối. Cả câu nghĩa là lòng mượn hương mà truyền, và bản Việt đã chuyển đúng ý ấy thành chữ nương.

Niệm Hương là lời xin tài lộc

Bài kinh xin các Đấng chứng lòng và xin Ơn Trên bổ báo phước lành, không kê ra một điều cụ thể nào. So với bài chữ Hán gốc, vốn xin được ban đúng như lời tâu, bản Việt còn dè dặt hơn. Nó là lời mở đầu thời cúng, trình lòng thành, không phải một lá đơn xin.

Bài kinh do người Cao Đài tự soạn từ đầu

Theo giáo nghĩa, bài do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ. Theo sử liệu của đạo, bài được giáng tại Minh Lý Đạo năm 1925 và dựa theo bài Phần Hương Chú chữ Hán của dòng Minh Sư, mười câu Việt ứng đúng mười câu Hán. Hai lớp chuyện ấy trả lời hai câu hỏi khác nhau và không loại trừ nhau.

?Hỏi Đáp Nhanh

Kinh Niệm Hương là kinh gì

Là bài kinh mở đầu mỗi thời cúng tứ thời của đạo Cao Đài, đứng đầu phần Kinh Cúng Tứ Thời trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Bài gồm mười câu thơ song thất lục bát, bảy mươi chữ, nói rằng lòng thành là gốc của đạo, lòng ấy nương theo khói nhang mà truyền đi, rồi thỉnh các Đấng chứng giám và xin Ơn Trên ban phước lành.

Toàn văn Kinh Niệm Hương như thế nào

Theo Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo: Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp, Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra. Mùi hương lư ngọc bay xa, Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng. Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc, Xuống phàm trần vội gác xe Tiên. Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền, Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri. Lòng sở vọng gắng ghi đảo cáo, Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành. Tụng xong thì lạy ba lạy, mỗi lạy bốn gật, niệm Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Ai ban bài Niệm Hương

Theo giáo nghĩa, bài do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ ban cho. Theo bài khảo của Huệ Nhẫn trên Nhịp Cầu Giáo Lý, bài được giáng bằng quốc ngữ năm 1925 tại Minh Lý Đạo ở Sài Gòn, dựa theo bài Phần Hương Chú chữ Hán của dòng Minh Sư. Bài có trong quyển Kinh Cúng Tứ Thời in năm 1928 và quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh Tây Ninh in năm 1936.

Vì sao cúng Đức Chí Tôn đốt năm cây nhang

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo ghi khi cúng Thầy phải đốt đủ năm cây hương, ba cây hàng trong gọi là Án Tam Tài, tức trời, đất, người, hai cây hàng ngoài gọi là Tượng Ngũ Khí, tức năm khí Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cúng các Đấng khác thì đốt ba cây. Sách Chú Giải Kinh Cúng Tứ Thời của ông Quách Văn Hòa giải thêm năm cây là ngũ hương: giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.

Tiên gia trong Kinh Niệm Hương là ai

Đọc theo lối thường, Tiên gia là giới Tiên, các vị Tiên nói chung. Hai sách giải nghĩa quen dùng trong đạo Cao Đài, của ông Nguyễn Văn Hồng và ông Quách Văn Hòa, đều hiểu Tiên gia là Đức Chí Tôn, Đấng Tiên Ông, Đức Đại Từ Phụ. Cách hiểu này khớp với câu chú niệm ngay sau bài, trong đó Đức Chí Tôn được xưng là Cao Đài Tiên Ông.

›Đọc Tiếp