VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Haraekotoba, Lời Tẩy Uế Của Thần Đạo

祓詞 · Harae kotoba, Harae no kotoba, Phất Từ, Lời tẩy uế

Toàn văn tám dòng, phiên âm Hepburn theo lối đọc norito, bản dịch Việt và Anh của thư viện, giải nghĩa từng cụm chữ

Thuộc đạo
Thần Đạo Nhật Bản
Niên đại
Chưa rõ năm soạn, tích lấy từ Kojiki năm 712
Thư viện chưa tìm được sử liệu đáng tin ghi rõ năm soạn bài khấn ngắn này, nên không ghi năm. Điều chắc chắn là nội dung bài dựa trên tích Izanagi tẩy mình chép trong Kojiki 古事記, bộ sách biên soạn năm 712, và lối văn của bài theo khuôn các bài norito cổ mà lớp sớm nhất còn giữ được nằm trong bộ Engishiki 延喜式, phần chính hoàn thành năm 927. Bản đọc hiện nay là bản thông dụng do Thần xã Bản sảnh 神社本庁 và các thần xã sảnh cấp tỉnh phổ biến.
Độ dài
87 chữ, gồm 49 chữ Hán và 38 chữ kana
Thư viện tự đếm trên nguyên văn in ở mục Toàn Văn, từ chữ 掛 mở đầu tới chữ 白す kết thúc, không kể khoảng trống: 87 chữ, trong đó 49 chữ Hán và 38 chữ kana. Viết toàn bằng kana theo lối chính tả cổ thì bài dài 125 chữ kana. Theo cách ngắt quen dùng, bài chia làm tám dòng.
Thường tụng khi
Đọc mở đầu phần tẩy trước mọi nghi lễ ở thần xã, và trước kamidana trong nhà vào buổi sáng

ITrước Khi Đọc

Trước khi một vị thần chức thưa chuyện với kami, trước khi dâng lễ, trước cả khi cửa điện được mở, có một việc phải làm trước hết: tẩy. Ở phần lớn thần xã Nhật Bản, việc tẩy ấy mở đầu bằng một lời khấn ngắn tám dòng gọi là Haraekotoba 祓詞, lời tẩy uế. Người dự lễ cúi đầu, nghe giọng đọc chậm và đều của thần chức, rồi thấy chiếc gậy gắn giấy trắng vẫy qua trên đầu mình. Trong nhiều gia đình, cũng chính tám dòng ấy được đọc vào buổi sáng trước kệ thờ nhỏ trên tường.

Tên bài viết bằng hai chữ 祓詞, đọc là haraekotoba, cũng có nơi đọc harae no kotoba. Chữ harae 祓, âm Hán Việt là phất, chỉ phép trừ bỏ ô uế. Chữ kotoba 詞 là lời. Ghép lại là lời dùng để tẩy, dịch sát sang tiếng Việt là lời tẩy uế.

Bài thuộc loại văn gọi là norito 祝詞, tức lời khấn đọc thành tiếng trước kami. Nó ngắn, nhưng làm đủ ba việc của một bài norito: gọi tên và kể gốc tích của các vị được khấn, nói điều xin, rồi khép lại bằng công thức kính cẩn. Điều xin chỉ có một: nếu có tai ương, lỗi lầm và ô uế thì xin các vị kami của chốn tẩy uế trừ đi cho sạch.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là bài không khấn thẳng vị thần được gọi tên ở dòng đầu. Dòng mở đầu nhắc Izanagi no Ōkami 伊邪那岐大神, nhưng đó là để kể gốc. Các vị thật sự được thưa chuyện là Haraedo no Ōkami 祓戸の大神, các Đại Thần của chốn tẩy uế, những vị đã sinh ra khi Izanagi tẩy mình. Bài khấn vì thế là một câu chuyện thu gọn: lần tẩy uế đầu tiên trong thần thoại được nhắc lại để mở đường cho lần tẩy uế hôm nay.

Trang này trình bày nguyên văn theo bản thông dụng của Thần xã Bản sảnh 神社本庁 (Jinja Honchō), tổ chức bao quát phần lớn thần xã ở Nhật Bản, kèm phiên âm Hepburn theo lối đọc norito, bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh do thư viện soạn, rồi giải nghĩa từng cụm chữ. Thư viện giải nghĩa và tả lại, không đứng ra xác nhận hay phủ nhận hiệu nghiệm của bài khấn.

Theo sử liệu

Về lai lịch văn bản, cần tách ba lớp. Lớp thứ nhất là tích truyện: chuyện Izanagi từ cõi chết trở về rồi tẩy mình ở cánh đồng Awagihara được chép trong Kojiki 古事記, bộ sách biên soạn năm 712, và có dị bản trong Nihon Shoki 日本書紀. Lớp thứ hai là khuôn văn norito: lối gọi tên kính cẩn ở đầu và công thức kashikomi kashikomi mo mōsu ở cuối là khuôn quen của các bài khấn cổ, mà những bài sớm nhất còn giữ được nằm trong bộ Engishiki 延喜式, phần chính hoàn thành năm 927. Lớp thứ ba là bản văn cụ thể đang được đọc ngày nay.

Bản ngắn tám dòng này không có trong Engishiki. Bài tẩy uế chép trong Engishiki là bài dài đọc ở lễ đại tẩy cuối tháng sáu, tổ tiên của Ōharae no kotoba 大祓詞 mà các thần xã còn đọc. Thư viện chưa tìm được sử liệu đáng tin ghi rõ bản ngắn được soạn năm nào và do ai soạn, nên không ghi năm, và xin quý vị dè dặt trước những niên đại được nêu mà không kèm nguồn.

Điều khảo được là bài đang lưu hành có một hình thức thông dụng do hệ thống thần xã phổ biến, và hình thức ấy được các thần xã sảnh cấp tỉnh đăng lại cho gia đình dùng trước kamidana. Bên cạnh đó có những bản chép khác nhau ở mặt chữ, chẳng hạn 御禊 hay 禊ぎ, 白す事を hay 白すことを, 聞こし食せ hay 聞こし召せ. Những chỗ ấy không đổi cách đọc và không đổi nghĩa. Ngoài ra, một số giáo phái Thần Đạo như Shintō Shūseiha 神道修成派 giữ bài tẩy riêng của họ, lời có chỗ khác hẳn, và kho tư liệu ko-kon.net chép bài ấy thành một mục riêng.

IIToàn Văn Tám Dòng

Bản thông dụng của Thần xã Bản sảnh, chép theo Thần xã sảnh Hokkaidō, đối chiếu ko-kon.net, ngắt tám dòng theo nhịp đọc.
CâuNguyên văn NhậtPhiên âm HepburnTiếng ViệtTiếng Anh
1掛けまくも畏き 伊邪那岐大神Kakemaku mo kashikoki Izanagi no ŌkamiĐại Thần Izanagi, đấng mà nhắc tới thôi cũng đã thấy kính sợ,Izanagi no Ōkami, the Great Kami whom even to speak of fills us with awe,
2筑紫の日向の橘の小戸の阿波岐原にTsukushi no Himuka no Tachibana no Odo no Awagihara nitại cánh đồng Awagihara bên cửa nước Odo, đất Tachibana, xứ Himuka thuộc Tsukushi,at Awagihara by the little river mouth of Odo, in Tachibana of Himuka in Tsukushi,
3御禊祓へ給ひし時にmisogi harae tamaishi toki nikhi Ngài dầm mình trong nước tẩy sạch uế trược,when he purified himself in the water and cleansed away defilement,
4生り坐せる祓戸の大神等narimaseru Haraedo no Ōkamitachithì chư vị Đại Thần của chốn tẩy uế đã sinh ra. Thưa chư vị,there came into being the Great Kami of the Place of Purification. To you, Great Kami,
5諸諸の禍事 罪 穢有らむをばmoromoro no magagoto tsumi kegare aramu o bamọi điều tai ương, mọi lỗi lầm, mọi ô uế, nếu có,whatever calamities, wrongs and defilements there may be,
6祓へ給ひ清め給へとharae tamai kiyome tamae toxin chư vị trừ đi cho, xin làm cho trong sạch,we pray you, sweep them away and make all clean.
7白す事を聞こし食せとmōsu koto o kikoshimese tolời thưa như thế, xin chư vị lắng nghe,These words that I humbly speak, deign to hear them.
8恐み恐みも白すkashikomi kashikomi mo mōsukính sợ, kính sợ mà thưa lên.With awe, with awe I humbly speak.

IIIGiải Nghĩa Từng Câu

Phần dưới đi theo đúng thứ tự tám dòng của nguyên văn, mỗi mục một cụm chữ. Bài viết bằng thứ tiếng Nhật cổ của văn tế, có nhiều chữ nay không còn dùng trong lời nói hằng ngày, nên mỗi mục ghi cả nghĩa sát chữ lẫn chỗ mà các nhà chú giải hay người dịch hiểu khác nhau. Hai chỗ khó nhất khi dịch là tên các vị thần và cụm misogi harae, được nói kỹ ở mục thứ hai và mục thứ tư.

掛けまくも畏き
Kakemaku mo kashikoki

Đây là lời mở đầu quen thuộc của rất nhiều bài norito, đứng trước tên một vị kami. Kakemaku là dạng danh từ hóa của động từ cổ kaku 掛く, trợ từ mo nghĩa là ngay cả, còn kashikoki 畏き nghĩa là đáng kính sợ. Cả cụm thường được hiểu là: ngay cả việc đưa tên Ngài lên lời cũng đã là điều đáng kính sợ.

Các nhà chú giải hiểu chữ kaku theo hai lối. Lối thứ nhất hiểu là nói ra, đặt vào lời, nên cụm này là lời rào trước khi dám gọi tên. Lối thứ hai hiểu là để trong lòng, nghĩ tới, nên cụm này nói rằng chỉ nghĩ tới thôi đã thấy kính sợ. Hai lối không làm đổi ý chính: người khấn tự đặt mình ở vị trí thấp trước khi mở lời. Bản dịch của thư viện chọn chữ nhắc tới vì chữ ấy chứa được cả hai nghĩa.

伊邪那岐大神
Izanagi no Ōkami

Izanagi, âm Hán Việt của bốn chữ là Y Tà Na Kỳ, là vị kami nam trong cặp kami tạo lập quần đảo theo thần thoại Nhật Bản, cùng với vị nữ Izanami. Bốn chữ Hán ở đây chỉ dùng để ghi âm, không mang nghĩa theo mặt chữ. Vì thế cùng một tên có nhiều cách viết: trong Kojiki, ở đoạn kể chuyện tẩy mình, tên được viết là 伊邪那伎大神 với chữ 伎, ở những đoạn khác lại là 伊邪那岐命, còn Nihon Shoki viết 伊弉諾尊. Bài khấn theo cách viết thông dụng nay là 伊邪那岐.

Tôn xưng Ōkami 大神, Đại Thần, cũng là chỗ người dịch xử lý khác nhau. Bản tiếng Anh cũ hay dịch là Great God, nhưng chữ God viết hoa trong tiếng Anh gợi tới một đấng sáng thế duy nhất, không hợp với quan niệm kami. Nhiều bản gần đây giữ nguyên Ōkami hoặc dịch Great Kami, và cột Anh của trang này theo lối sau. Trong tiếng Việt, thư viện giữ chữ Đại Thần vì đó là âm Hán Việt của chính hai chữ gốc, nhưng xin quý vị đọc chữ thần ở đây theo nghĩa kami, chứ không theo nghĩa một vị quan trên trời.

筑紫の日向の橘の小戸の阿波岐原に
Tsukushi no Himuka no Tachibana no Odo no Awagihara ni

Dòng này là một chuỗi địa danh lồng nhau, từ rộng tới hẹp, nối bằng trợ từ no, nghĩa là của. Tsukushi 筑紫 là tên xưa của đảo Kyūshū hoặc vùng phía bắc đảo ấy. Himuka 日向 là xứ nay đọc Hyūga, nhưng trong bài khấn giữ lối đọc cổ himuka, nghĩa đen là hướng về mặt trời. Tachibana 橘 là tên cây quýt dại, ở đây dùng làm địa danh. Odo 小戸 là cửa nước nhỏ, chỗ sông đổ ra biển. Awagihara 阿波岐原 là cánh đồng Awagi, ba chữ đầu cũng chỉ để ghi âm.

Chỗ mặt chữ cần biết: Kojiki viết 竺紫 và 小門, bài khấn viết 筑紫 và 小戸. Dị bản Nihon Shoki viết cánh đồng là 檍原 và xếp thứ tự thành 小戸橘. Về cách đọc, các thần chức đọc awagihara, còn địa danh hiện nay ở Miyazaki thường được đọc awakigahara. Chỗ này là khác nhau về lối đọc, không đổi nghĩa.

御禊祓へ給ひし時に
misogi harae tamaishi toki ni

Đây là cụm chữ khó dịch nhất trong bài. Misogi 禊 là phép tẩy bằng nước, dầm mình xuống sông, xuống biển. Harae 祓 là phép trừ bỏ ô uế nói chung. Chữ 御 đứng trước là tiếng tôn kính, tamaishi 給ひし là trợ động từ tôn kính ở thì quá khứ, toki ni là khi.

Các nhà chú giải và người dịch hiểu cặp misogi harae theo hai lối. Lối thứ nhất coi đây là một việc duy nhất được gọi bằng hai chữ gần nghĩa: Izanagi tẩy mình bằng nước, và chính việc dầm nước ấy là harae. Người theo lối này thường dịch gộp thành một động từ, chẳng hạn tẩy uế. Lối thứ hai coi đây là hai việc nối nhau: cởi bỏ đồ đạc và y phục mang theo từ cõi chết, tức phần trừ bỏ, rồi xuống nước gột rửa thân mình, tức phần tẩy bằng nước. Người theo lối này giữ hai chữ riêng. Chính Kojiki cũng viết liền hai chữ 禊祓 trong câu kể việc ấy.

Bản dịch Việt của thư viện chọn cách giữ cả hai ý trong một câu: dầm mình trong nước và tẩy sạch uế trược. Bản dịch Anh viết purified himself in the water and cleansed away defilement theo cùng cách ấy. Ở phần văn xuôi, thư viện giữ nguyên hai chữ misogi và harae, vì dịch ra chữ nào tiếng Việt cũng mất bớt một nửa.

生り坐せる祓戸の大神等
narimaseru Haraedo no Ōkamitachi

Narimaseru 生り坐せる là động từ naru, sinh ra, thành ra, cộng với tiếng tôn kính masu. Chữ này đáng chú ý: thần thoại Nhật Bản không nói các vị kami được ai đó làm ra, mà nói các vị tự thành hình trong một sự việc. Haraedo 祓戸 gồm chữ harae và chữ to hay do, nghĩa là chốn, chỗ, như trong các chữ chỉ cửa sông, eo biển. Haraedo là chốn làm lễ tẩy. Hậu tố tachi 等 đánh dấu số nhiều.

Các vị này là ai thì có mấy cách hiểu. Bản thân bài khấn không kể tên. Cách hiểu phổ biến nhất đồng nhất các vị với bốn vị kami tẩy uế được kể tên trong Ōharae no kotoba: Seoritsuhime, Hayaakitsuhime, Ibukidonushi và Hayasasurahime. Một cách hiểu khác đối chiếu với các vị sinh ra trong chính cuộc tẩy của Izanagi theo Kojiki, nhất là các vị có tên liên quan tới việc sửa cái cong thành thẳng. Cũng có người đọc cụm này như một tôn xưng chung, chỉ mọi kami coi việc tẩy uế. Thư viện ghi đủ ba cách, không chọn thay quý vị.

Về ngữ pháp, dòng này là chỗ bài khấn đổi hướng: ba dòng trước là mệnh đề kể lai lịch, tới đây mới hiện ra những vị được thưa chuyện. Vì thế bản dịch Việt thêm hai chữ thưa chư vị để người đọc thấy chỗ chuyển.

諸諸の禍事 罪 穢
moromoro no magagoto tsumi kegare

Ba danh từ đứng liền nhau là ba loại việc cần tẩy. Moromoro 諸諸 là mọi, hết thảy. Có bản chép 諸々, dùng dấu lặp chữ, đọc y như nhau.

Magagoto 禍事, âm Hán Việt là họa sự, là điều cong, điều lệch, điều tai ương. Gốc maga nghĩa là cong, đối lập với nao là thẳng. Chính hai gốc chữ ấy có mặt trong tên các vị kami sinh ra khi Izanagi tẩy mình, như 禍津日神 và 直毘神. Tsumi 罪 thường được dịch là tội, nhưng trong khuôn Thần Đạo cổ nó gần với nghĩa chỗ hỏng, việc làm lệch trật tự, hơn là tội lỗi theo nghĩa đạo đức của các đạo có phán xét sau cùng. Kegare 穢 là sự ô uế bám vào người qua tiếp xúc với cái chết, máu, bệnh tật và tai họa.

Vì chữ tsumi dễ bị đọc thành tội lỗi luân lý, cột Việt của trang này dịch là lỗi lầm, cột Anh dịch là wrongs chứ không dùng chữ sins. Đây là một lựa chọn dịch, và nhiều bản dịch tiếng Anh khác vẫn dùng chữ sins.

有らむをば 祓へ給ひ清め給へと
aramu o ba harae tamai kiyome tamae to

Aramu 有らむ là động từ ari, có, cộng trợ động từ phỏng đoán mu. Nghĩa là: nếu có, những gì có thể có. Người khấn không khẳng định mình đã ô uế, chỉ nói rằng nếu có thì xin tẩy. Trợ từ o ba nhấn mạnh tân ngữ đứng trước nó.

Hai động từ theo sau là harae 祓へ, trừ bỏ, và kiyome 清め, làm cho trong sạch. Hai việc này nối nhau: trước là gạt cái bẩn đi, sau là làm cho sạch trở lại. Chữ tamae 給へ ở cuối là dạng mệnh lệnh của trợ động từ tôn kính, trong văn khấn mang nghĩa xin Ngài hãy làm cho. Trợ từ to đóng ngoặc toàn bộ lời xin, để dòng sau nói về chính lời xin ấy.

Chính cặp chữ này về sau được rút riêng ra làm lời khấn ngắn 祓へ給へ 清め給へ, sẽ nói ở mục Kegare Và Harae bên dưới.

白す事を聞こし食せと
mōsu koto o kikoshimese to

Mōsu 白す là thưa, nói với bậc trên. Chữ Hán dùng ở đây là chữ bạch, trắng, đọc theo nghĩa bạch là thưa trình, và viết theo kana cổ là まをす. Kikoshimese là tôn kính ngữ của động từ nghe, ở dạng mệnh lệnh, nghĩa là xin Ngài hãy nghe. Chỗ này các bản chép khác nhau ở mặt chữ: bản thông dụng của Thần xã Bản sảnh viết 聞こし食せ, nhiều trang phổ thông viết 聞こし召せ, cả hai đọc như nhau. Tương tự, 白す事を có nơi viết 白すことを.

Cấu trúc hai tầng của câu đáng để ý: người khấn không nói thẳng xin hãy tẩy cho con, mà nói xin hãy nghe lời con thưa rằng xin hãy tẩy. Lối nói lùi một bậc như vậy là phép lịch sự của văn norito, để lời xin không thành lời sai khiến.

恐み恐みも白す
kashikomi kashikomi mo mōsu

Đây là câu khép của gần như mọi bài norito. Kashikomi 恐み là dạng liên dụng của động từ kashikomu, kính sợ, cúi mình. Chữ được lặp hai lần cho nặng thêm, rồi trợ từ mo nhấn, rồi động từ mōsu thưa. Cả câu nghĩa là: với lòng hết sức kính sợ, xin thưa.

Chữ kashikomi ở đây cùng gốc với chữ kashikoki ở dòng đầu. Bài khấn vì thế mở và khép bằng cùng một thái độ, kính sợ, và toàn bộ lời xin nằm lọt giữa hai lần cúi mình ấy. Khi đọc theo lối norito, câu này thường được kéo dài và hạ giọng ở chữ cuối.

IVIzanagi Tẩy Mình Ở Tachibana No Odo

Ba dòng đầu của bài khấn là một câu chuyện nén lại. Người Nhật nghe là biết ngay chuyện gì, nhưng người đọc tiếng Việt thì cần kể ra. Mục này thuật lại tích ấy theo Kojiki, rồi tách riêng phần sử liệu về văn bản và về địa danh.

Theo giáo nghĩa

Theo Kojiki, Izanagi và Izanami là cặp kami sinh ra các đảo và nhiều vị kami khác. Izanami mất khi sinh ra kami lửa và đi xuống Yomi 黄泉, cõi của người chết. Izanagi xuống tìm vợ, trái lời dặn mà nhìn thấy thân thể Izanami đã rữa nát, rồi bỏ chạy, lấy tảng đá lớn chặn lối giữa hai cõi.

Trở về, Izanagi nói rằng mình đã tới một xứ ô uế đáng ghê sợ, nên phải tẩy thân mình. Ngài tới cánh đồng Awagihara ở cửa nước Odo, đất Tachibana, xứ Himuka thuộc Tsukushi, và làm lễ misogi harae. Câu nguyên văn trong Kojiki viết 到坐竺紫日向之橘小門之阿波岐原而、禊祓也.

Việc tẩy đi theo từng bước. Trước hết Ngài vứt bỏ gậy, đai, túi, áo, quần, mũ và các vòng đeo tay, và từ mỗi vật vứt đi sinh ra một vị kami, tổng cộng mười hai vị. Rồi Ngài nhận thấy dòng trên chảy xiết, dòng dưới chảy yếu, bèn xuống dòng giữa mà gột mình. Từ chất bẩn của cõi Yomi rửa ra sinh hai vị kami của điều cong lệch, 八十禍津日神 và 大禍津日神. Để sửa điều cong ấy, lại sinh các vị 神直毘神, 大直毘神 và 伊豆能売. Tiếp đó, rửa mình ở đáy nước, giữa nước và mặt nước, sinh các vị kami biển.

Cuối cùng, Ngài rửa mắt trái thì sinh Amaterasu, kami mặt trời, rửa mắt phải thì sinh Tsukuyomi, kami mặt trăng, rửa mũi thì sinh Susanoo. Ba vị này được gọi là ba quý tử, và Izanagi chia cho mỗi vị một cõi để cai quản.

Vì sao tích này đứng ở đầu bài khấn

Theo giáo nghĩa mà các thần xã giảng, tích Izanagi là lần tẩy uế đầu tiên, khuôn mẫu cho mọi lần tẩy uế về sau. Từ tích này rút ra mấy điều mà Thần Đạo giữ tới nay. Thứ nhất, ô uế là thứ bám vào từ bên ngoài, ở đây là từ cõi chết, chứ không phải bản chất của người. Thứ hai, ô uế thì rửa được, bằng nước và bằng việc cởi bỏ. Thứ ba, từ chính việc tẩy uế lại sinh ra những điều tốt lành nhất, mà cao nhất là Amaterasu.

Khi bài khấn gọi Izanagi rồi kể nơi Ngài tẩy mình, người khấn đặt việc tẩy hôm nay vào cùng một mạch với lần tẩy đầu tiên ấy. Các vị kami của chốn tẩy uế đã sinh ra trong lần đó, nên được mời tới làm lại việc của mình trong lần này. Đó là cách hiểu mà nhiều thần chức dùng khi giải thích bài khấn cho người đi lễ.

Có một chi tiết trong tích mà bài khấn không nhắc nhưng đáng biết: trong lần tẩy của Izanagi, những vị kami của điều cong lệch sinh ra trước, rồi mới tới những vị sửa cong thành thẳng. Nghĩa là tích truyện không giả vờ rằng việc tẩy uế diễn ra êm ả. Cái bẩn được rửa ra thì hiện hình, và phải có bước sửa lại.

Theo sử liệu

Về văn bản, Kojiki là bộ sách biên soạn năm 712, chép thần thoại và phổ hệ theo lệnh triều đình. Đoạn kể việc tẩy mình dùng mặt chữ 竺紫 và 小門, khác với 筑紫 và 小戸 trong bài khấn. Nihon Shoki có dị bản của cùng câu chuyện, ghi địa danh là 筑紫日向小戸橘之檍原, thứ tự khác và chữ Awagihara viết bằng một chữ Hán riêng.

Về địa danh, các nơi đều nhận mình là chốn tẩy uế đầu tiên, nhưng không có bằng chứng khảo cổ nào xác định. Ở thành phố Miyazaki có khu Awakigahara, có thần xã Eda 江田神社 và một cái ao gọi là ao misogi みそぎ池. Ở Fukuoka có vùng Odo và thần xã Odo Daijingū 小戸大神宮. Trang chú giải Kojiki của Đại học Kokugakuin ghi rằng vị trí thật chưa xác định, và nhiều nhà nghiên cứu đọc chuỗi địa danh này như một vùng đất nửa thực nửa thiêng, nơi giáp ranh với cõi khác, hơn là một tọa độ trên bản đồ.

VKegare Và Harae, Kamidana, Và Hai Bài Anh Em

Muốn hiểu vì sao một bài khấn tám dòng lại được đọc trước mọi nghi lễ, cần hiểu cái trục mà Thần Đạo dựng mọi việc lên trên: cặp trong sạch và ô uế. Mục này nói về hai khái niệm kegare và harae, về cái kệ thờ trong nhà nơi bài khấn được đọc mỗi sáng, và về hai bài khấn anh em, một ngắn hơn, một dài hơn.

Theo giáo nghĩa

Kegare 穢れ là sự ô uế, sự vẩn đục, có người giảng thêm là sự hao mòn của khí lực. Nó bám vào người qua tiếp xúc với cái chết, với máu, với bệnh tật, với tai họa, và cả qua việc lơ là lễ nghi. Điều then chốt trong giáo nghĩa Thần Đạo là kegare không phải một vết nhơ vĩnh viễn và không phải bản chất xấu của con người. Nó là thứ bám vào, nên là thứ rửa được.

Harae 祓 là phép trừ bỏ thứ bám vào ấy. Nó có nhiều dạng: lời khấn, chiếc gậy gắn giấy trắng mà thần chức vẫy, muối rắc, nước rửa tay ở cổng. Misogi 禊 là dạng tẩy bằng nước, gốc từ việc Izanagi dầm mình. Bể nước ở cổng thần xã, nơi khách rửa tay và súc miệng, là misogi thu nhỏ.

Vì trục đạo nằm ở sạch và bẩn, mọi nghi lễ Thần Đạo đều bắt đầu bằng một bước tẩy, và Haraekotoba là lời của bước ấy. Người ta không đến trước kami để xưng tội, mà đến để trở lại trong sạch rồi mới thưa chuyện.

Kamidana, bàn thờ trong nhà

Kamidana 神棚, nghĩa đen là kệ thần, là một kệ thờ nhỏ đặt cao trên tường trong nhà hay trong cửa hàng. Ở giữa thường là một mô hình điện thờ nhỏ bằng gỗ, bên trong đặt bùa của các thần xã. Tấm bùa phổ biến nhất là Jingū Taima 神宮大麻 của Thần cung Ise, chuyển qua các thần xã địa phương tới từng nhà, đặt cạnh bùa của thần xã vùng mình ở. Trước điện nhỏ bày gạo, muối, nước, có nơi thêm rượu gạo, và hai bình cành sakaki.

Người Việt sẽ thấy nhiều chỗ gần với bàn thờ thần linh trong nhà mình. Chỗ khác nằm ở lệ thay bùa: bùa của Thần Đạo được coi là có hạn, hết hạn thì mang trả thần xã để hóa, vì cái sạch hao mòn theo thời gian. Chính quan niệm ấy giải thích vì sao lời tẩy uế được đọc lại mỗi sáng, chứ không đọc một lần là xong.

Ba lời tẩy, ngắn, vừa và dài

Haraekotoba đứng ở giữa hai bài khác cùng một việc. Bài ngắn hơn là lời khấn tóm lược 祓へ給へ 清め給へ, đọc harae tamae kiyome tamae, nghĩa là xin trừ đi, xin làm cho sạch. Đây chính là cặp động từ ở dòng thứ sáu của Haraekotoba, rút riêng ra. Nhiều thần xã dạy cho gia đình một bản dài hơn đôi chút, 祓へ給へ 清め給へ 守り給へ 幸へ給へ, đọc harae tamae kiyome tamae mamori tamae sakihae tamae, thêm hai lời xin che chở và xin ban điều lành. Trang hỏi đáp của thần xã Musashi Mitake ghi bài này là lời khấn ngắn dùng trước kamidana.

Bài dài hơn là Ōharae no kotoba 大祓詞, lời đại tẩy. Gốc của nó là bài norito đọc ở lễ đại tẩy cuối tháng sáu chép trong Engishiki. Bài dài hơn Haraekotoba nhiều lần, kể chuyện kami giáng xuống mặt đất, kể các loại tsumi, rồi tả bốn vị kami của chốn tẩy uế lần lượt đưa tội lỗi ra khỏi thế gian: một vị mang theo dòng thác ra biển cả, một vị nuốt lấy ở chỗ các dòng nước gặp nhau, một vị thổi xuống cõi sâu, một vị mang đi lang thang cho tới khi tan mất. Ở các thần xã, bài này được đọc trong lễ đại tẩy vào cuối tháng sáu và cuối tháng mười hai, và có người đọc hằng ngày. Bản đọc ở thần xã ngày nay đã lược bớt đoạn kể tên từng loại tội có trong bản Engishiki.

Ba lời tẩy thường gặp, xếp từ ngắn tới dài. Số chữ của Haraekotoba do thư viện tự đếm trên nguyên văn ở mục Toàn Văn.
BàiĐộ dài và nội dungKhi nào đọc
Lời khấn tóm lược 祓へ給へ 清め給へMột câu, hai lời xin trừ bỏ và làm sạch. Bản thêm 守り給へ 幸へ給へ có bốn lời xinTrước kamidana, lúc đi lễ ở nhà bái, khi không đọc được bài dài hơn
Haraekotoba 祓詞Tám dòng, 87 chữ. Kể gốc tích từ Izanagi, xin các vị kami chốn tẩy uế trừ bỏ ô uếMở đầu phần tẩy của mọi nghi lễ ở thần xã, và trước kamidana buổi sáng
Ōharae no kotoba 大祓詞Bài dài, kể thần thoại, các loại tsumi và bốn vị kami tẩy uếLễ đại tẩy cuối tháng sáu và cuối tháng mười hai, và việc đọc hằng ngày của một số người

Kana cổ và lối đọc ngày nay

Bài khấn được in theo lối chính tả kana cổ, gọi là rekishiteki kanazukai 歴史的仮名遣. Vì thế trên mặt chữ có 祓へ chứ không phải 祓え, có 給ひし chứ không phải 給いし. Nhưng khi đọc thì thần chức đọc theo âm ngày nay: へ đọc là e, ひ giữa từ đọc là i, まをす đọc là mōsu, おほかみ đọc là ōkami. Cột phiên âm Hepburn ở mục Toàn Văn theo âm đọc ấy. Bảng dưới đặt hai lối cạnh nhau, dòng nào theo dòng nấy.

Kana cổ đối chiếu với cách đọc ghi trên oharae.jp. Trang của Thần xã sảnh Hokkaidō ghi cách đọc bằng kana hiện đại, khớp với cột phải.
DòngViết theo kana cổĐọc theo lối norito
1かけまくもかしこき いざなぎのおほかみKakemaku mo kashikoki Izanagi no Ōkami
2つくしのひむかのたちばなのをどのあはぎはらにTsukushi no Himuka no Tachibana no Odo no Awagihara ni
3みそぎはらへたまひしときにmisogi harae tamaishi toki ni
4なりませるはらへどのおほかみたちnarimaseru Haraedo no Ōkamitachi
5もろもろのまがごとつみけがれあらむをばmoromoro no magagoto tsumi kegare aramu o ba
6はらへたまひきよめたまへとharae tamai kiyome tamae to
7まをすことをきこしめせとmōsu koto o kikoshimese to
8かしこみかしこみもまをすkashikomi kashikomi mo mōsu

VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao

Haraekotoba có hai chỗ đứng chính: trong nghi lễ ở thần xã, do thần chức đọc, và trước kamidana trong nhà, do người trong gia đình đọc. Hai chỗ ấy khác nhau về người đọc, về tư thế và về những việc đi kèm, nhưng cùng một vị trí trong trình tự: bài được đọc trước, để mở đường cho phần còn lại.

Ở thần xã

Một nghi lễ ở thần xã, dù là lễ lớn theo mùa hay một buổi cầu riêng cho một gia đình, thường mở đầu bằng phần gọi là shūbatsu 修祓, tức làm lễ tẩy. Người dự lễ ngồi hay đứng ở chỗ đã định, và khi thần chức báo thì cúi đầu xuống. Một vị thần chức đứng trước chỗ tẩy, đọc Haraekotoba bằng giọng norito: chậm, đều, âm cuối các vế được kéo dài và hạ xuống.

Đọc xong, thần chức cầm chiếc gậy tẩy gọi là ōnusa 大麻, một cán gỗ gắn nhiều dải giấy trắng gấp khúc, vẫy qua lễ vật, qua các vị thần chức khác, rồi qua người dự lễ, thường theo nhịp trái, phải, trái. Chỉ sau bước ấy người ta mới mở cửa điện, dâng lễ vật và đọc bài norito chính của buổi lễ.

Khách đi lễ bình thường, chỉ đứng trước nhà bái bỏ tiền, rung chuông, lạy và vỗ tay, thì không nghe bài này. Bài chỉ vang lên khi có một buổi lễ do thần chức cử hành. Tại các thần xã lớn như Thần cung Ise hay Fushimi Inari, phần tẩy ở đầu mỗi buổi lễ đều có, nhưng lời đọc cụ thể do từng thần xã định, và thư viện không có nguồn xác nhận từng nơi dùng đúng bản chép ở trang này.

Trước kamidana buổi sáng

Trong nhà, người ta đọc Haraekotoba trước kamidana, thường vào buổi sáng. Theo trang hỏi đáp của thần xã Musashi Mitake, việc dâng lễ nên làm mỗi sáng nếu được, và ít nhất vào ngày mùng một và ngày mười lăm mỗi tháng. Trang của Thần xã sảnh Hokkaidō đưa Haraekotoba và bài khấn kamidana 神棚拝詞 làm hai ví dụ lời khấn cho gia đình dùng.

Dâng lễ

Người trong nhà rửa tay, súc miệng, rồi thay gạo, muối, nước trên kệ, có nơi dâng thêm rượu gạo. Nếu có cành sakaki thì thay nước bình.

Cúi lạy

Đứng hay ngồi ngay ngắn trước kệ, cúi lạy trước khi đọc lời khấn. Trang của thần xã Musashi Mitake tả trình tự hai lạy trước, đọc lời khấn, rồi hai lạy, hai vỗ tay, một lạy.

Đọc lời khấn

Người đọc cúi đầu, đọc Haraekotoba, rồi có thể đọc tiếp bài khấn kamidana. Người không thuộc bài thì đọc lời khấn ngắn xin trừ bỏ, làm sạch, che chở và ban điều lành.

Giọng đọc

Trong nhà, phần đông đọc nhỏ tiếng hoặc đọc thầm, không cần giọng norito như thần chức. Có gia đình để tờ lời khấn ngay dưới kệ và đọc theo giấy.

Khác nhau giữa các nơi

Vì Thần Đạo không có một bộ kinh bắt buộc, cách đọc bài này khác nhau khá nhiều. Các thần xã trong hệ thống của Thần xã Bản sảnh dùng bản thông dụng như chép ở trang này, nhưng tờ lời khấn in cho gia đình ở mỗi tỉnh có thể khác nhau ở mặt chữ. Các thần xã độc lập và các giáo phái Thần Đạo có thể có bản riêng, như bài tẩy của Shintō Shūseiha đã nói ở trên. Có nhà đọc Haraekotoba rồi tới bài khấn kamidana, có nhà chỉ đọc lời khấn ngắn, có người đọc thêm Ōharae no kotoba mỗi ngày. Thư viện tả lại những khác biệt ấy để quý vị hiểu điều mình thấy, còn cách làm cụ thể thì thần xã của mỗi vùng hướng dẫn cho người trong vùng.

VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm

Bài khấn ngắn, được đọc nhiều, lại viết bằng tiếng Nhật cổ, nên dễ bị hiểu theo những khuôn quen của các đạo khác. Năm điểm dưới đây là những chỗ lệch thường gặp nhất.

Đây là lời xưng tội xin tha

Chữ tsumi trong bài thường bị dịch là tội, và từ đó bài khấn bị đọc như một lời sám hối. Trong khuôn Thần Đạo, tsumi gần với chỗ hỏng, việc làm lệch trật tự, còn kegare là thứ bám vào từ ngoài. Bài khấn không kể lỗi, không nhận lỗi, chỉ xin rằng nếu có thì trừ đi. Nó gần với việc rửa tay trước khi vào nhà hơn là với việc xưng tội.

Bài khấn cầu xin Izanagi

Izanagi được gọi tên đầu tiên, nhưng các vị được thưa chuyện là Haraedo no Ōkami, các Đại Thần của chốn tẩy uế. Izanagi xuất hiện để kể gốc tích của các vị ấy. Đọc sai chỗ này thì mất cái ý trung tâm của bài: lần tẩy hôm nay nối vào lần tẩy đầu tiên trong thần thoại.

Haraekotoba và Ōharae no kotoba là một

Hai tên gần nhau nên hay bị lẫn. Haraekotoba là bài ngắn tám dòng đọc mở đầu mọi nghi lễ. Ōharae no kotoba là bài dài đọc ở lễ đại tẩy cuối tháng sáu và cuối tháng mười hai, có gốc trong Engishiki và kể tên bốn vị kami tẩy uế. Bài ngắn không phải bản rút gọn của bài dài.

Chỉ thần chức mới được đọc

Trong nghi lễ ở thần xã, bài do thần chức đọc. Nhưng chính các thần xã sảnh cấp tỉnh đăng bài này lên trang của họ làm lời khấn cho gia đình đọc trước kamidana. Hai việc cùng tồn tại: bài đọc trong lễ thuộc về thần chức, còn bài đọc ở nhà thuộc về người trong nhà.

Chỗ Izanagi tẩy mình đã được xác định

Miyazaki và Fukuoka đều có nơi mang tên gắn với tích này, có thần xã và có ao nước. Nhưng không có bằng chứng nào xác định vị trí, và trang chú giải Kojiki của Đại học Kokugakuin ghi rằng vị trí thật chưa rõ. Đây là chuyện của tín ngưỡng địa phương, không phải kết luận của sử học.

?Hỏi Đáp Nhanh

Haraekotoba là gì

Là bài khấn ngắn tám dòng của Thần Đạo, tên chữ là 祓詞, nghĩa là lời tẩy uế. Bài nhắc lại việc Izanagi tẩy mình ở cánh đồng Awagihara theo Kojiki, rồi xin các Đại Thần của chốn tẩy uế trừ bỏ mọi tai ương, lỗi lầm và ô uế nếu có. Bài được đọc mở đầu phần tẩy của các nghi lễ ở thần xã, và được nhiều gia đình đọc trước kamidana vào buổi sáng.

Nguyên văn Haraekotoba bắt đầu thế nào

Bản thông dụng của Thần xã Bản sảnh mở đầu bằng 掛けまくも畏き 伊邪那岐大神, đọc là Kakemaku mo kashikoki Izanagi no Ōkami, nghĩa là Đại Thần Izanagi, đấng mà nhắc tới thôi cũng đã thấy kính sợ. Bài khép lại bằng 恐み恐みも白す, kashikomi kashikomi mo mōsu, kính sợ, kính sợ mà thưa lên. Theo thư viện tự đếm, toàn bài có 87 chữ, gồm 49 chữ Hán và 38 chữ kana.

Chữ misogi harae trong bài nghĩa là gì

Misogi là phép tẩy bằng nước, harae là phép trừ bỏ ô uế nói chung. Có người hiểu cặp chữ này là một việc gọi bằng hai tên, tức Izanagi dầm mình trong nước để tẩy uế. Có người hiểu là hai việc nối nhau, trước cởi bỏ đồ đạc mang từ cõi chết về, sau xuống nước gột rửa. Thư viện ghi cả hai cách hiểu và giữ nguyên hai chữ trong phần văn xuôi.

Haraekotoba khác Ōharae no kotoba thế nào

Haraekotoba là bài ngắn tám dòng đọc ở đầu mọi nghi lễ và trước kamidana. Ōharae no kotoba 大祓詞 là bài dài, gốc ở bài norito đọc trong lễ đại tẩy chép trong Engishiki, kể thần thoại và tả bốn vị kami tẩy uế, được đọc trong lễ đại tẩy cuối tháng sáu và cuối tháng mười hai. Ngắn hơn cả hai là lời khấn tóm lược 祓へ給へ 清め給へ, xin trừ đi, xin làm cho sạch.

Vì sao mặt chữ trong bài khác với cách đọc

Vì bài được in theo lối chính tả kana cổ, còn cách đọc theo âm ngày nay. Trong kana cổ, chữ へ ở cuối từ đọc là e, chữ ひ giữa từ đọc là i, và まをす đọc là mōsu. Vì thế 祓へ給ひし đọc là harae tamaishi. Phiên âm Hepburn trên trang này theo cách đọc của thần chức khi đọc norito.

›Đọc Tiếp