ITrước Khi Đọc
Mở bộ Guru Granth Sahib ra ở trang đầu, thứ đầu tiên quý vị gặp không phải một lời chào, không phải một câu chuyện, mà là một con số. Con số một, viết liền với một chữ cái thành ký tự ੴ. Tiếp theo là mười hai chữ nói Đấng ấy là gì và không là gì. Người Sikh gọi đoạn ấy là Mul Mantar, câu gốc, và đó là những chữ đầu tiên họ đọc mỗi sáng từ lúc trời còn tối.
Chữ mul nghĩa là gốc rễ, chữ mantar là câu niệm, câu được đọc đi đọc lại. Tên Gurmukhi của đoạn này là ਮੂਲ ਮੰਤਰ. Đạo Sikh không có bản tín điều soạn theo lối hỏi đáp như sách giáo lý của nhiều đạo khác, và Mul Mantar là thứ gần nhất với một bản tín điều: nó nêu từng phẩm tính của thực thể tối cao bằng một chuỗi chữ đứng cạnh nhau, không có động từ, không có câu chuyện kèm theo.
Trang này trình bày Mul Mantar cùng tiêu đề Japu và câu salok mở đầu bài Japji, đúng như người Sikh đọc liền một mạch mỗi sáng. Nguyên văn chữ Gurmukhi được chia thành từng cụm nhỏ, mỗi cụm một dòng, kèm phiên âm Latinh, bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh của thư viện. Sau đó là phần giải nghĩa từng cụm, trong đó thư viện ghi thẳng những chỗ các nhà chú giải hiểu khác nhau, nhất là ở ký tự Ik Onkar, ở cụm Akal Murat và ở chữ Ajuni.
Có một điều cần nói ngay từ đầu. Các nhánh trong đạo Sikh không thống nhất Mul Mantar dừng ở đâu. Lối được bản quy tắc chung Sikh Rehat Maryada ghi lại cho dừng ở cụm ਗੁਰ ਪ੍ਰਸਾਦਿ. Một số dòng truyền thừa khác cho rằng câu gốc kéo dài tới hết câu salok, tức tới ਹੋਸੀ ਭੀ ਸਚੁ. Thư viện trình bày cả đoạn dài để quý vị thấy trọn phần tín đồ đọc, và dành riêng một mục để tả hai lối hiểu ấy.
Về lai lịch, truyền thống Sikh tin rằng Guru Nanak, sinh năm 1469 và mất năm 1539, nói ra Mul Mantar sau lần chứng ngộ bên sông Bein ở Sultanpur Lodhi, quãng năm 1499, khi ngài chừng ba mươi tuổi. The Sikh Encyclopedia, theo bộ Encyclopaedia of Sikhism của Đại học Punjabi, ghi lại điều này như lời truyền trong đạo. Nguồn kể chuyện đời Guru Nanak nhiều nhất là loại truyện đời gọi là janamsakhi, được soạn sau khi ngài mất nhiều thập niên, nên giới sử học nhận phần khung và xếp các chi tiết vào loại truyền tụng.
Về văn bản, Mul Mantar được chép thành sách trong bộ Adi Granth do Guru Arjan, vị Guru thứ năm, biên soạn tại Amritsar năm 1604, theo Britannica. Theo các bài của SikhNet, người chép tay bộ kinh là Bhai Gurdas, chép bằng chữ Gurmukhi theo lời Guru Arjan đọc. Cùng năm 1604 bộ kinh được đặt vào Harmandir Sahib, và năm 1708 vị Guru thứ mười trao ngôi Guru cho bộ kinh, nên từ đó nó mang tên Guru Granth Sahib. Bản in chuẩn ngày nay có 1.430 trang, và Mul Mantar nằm ở dòng đầu trang một.
Mul Mantar không chỉ xuất hiện một lần. Theo SikhiWiki và theo bài phân tích trên Gurparsad.com, dạng đầy đủ dừng ở ਗੁਰ ਪ੍ਰਸਾਦਿ xuất hiện 33 lần trong bộ kinh, chủ yếu ở chỗ mở đầu các phần theo điệu nhạc. Gurparsad.com đếm thêm các dạng rút gọn, trong đó dạng ngắn nhất xuất hiện 524 lần, và cộng lại cả bốn dạng được 568 lần. Con số có thể lệch đôi chút tùy cách đếm, nhưng các nguồn đều gặp nhau ở chỗ dạng dài có câu salok chỉ có một lần, ở trang đầu.
IIToàn Văn Đọc Mỗi Sáng
Bảng dưới trình bày từ ký tự ੴ tới hết câu salok có số ੧, tức đúng phần mà người Sikh đọc liền nhau khi mở đầu bài Japji mỗi sáng. Đoạn này cũng trùng với phạm vi của lối hiểu Mul Mantar dài, nên đọc trọn nó thì quý vị thấy được cả hai lối. Phiên âm giữ nguyên âm ngắn i và u ở cuối chữ, vốn là dấu ngữ pháp trong chữ Gurmukhi của bộ kinh, khi tụng gần như không đọc thành tiếng.
| Câu | Nguyên văn Gurmukhi | Phiên âm Latinh | Tiếng Việt | Tiếng Anh |
|---|---|---|---|---|
| 1 | ੴ | Ik Oaṅkār | Có Một, là Oankar, Thực Tại duy nhất, | One, Oankar, the sole Reality, |
| 2 | ਸਤਿ ਨਾਮੁ | sati nāmu | danh của Ngài là Chân Thật, | whose Name is Truth, |
| 3 | ਕਰਤਾ ਪੁਰਖੁ | kartā purakhu | Đấng tạo tác, hiện hữu thấm khắp muôn loài, | the Maker, the Being pervading all that is made, |
| 4 | ਨਿਰਭਉ | nirbhau | không sợ hãi, | without fear, |
| 5 | ਨਿਰਵੈਰੁ | nirvairu | không thù oán, | without enmity, |
| 6 | ਅਕਾਲ ਮੂਰਤਿ | akāl mūrati | hiện hữu vượt ngoài thời gian, | a Being beyond time, |
| 7 | ਅਜੂਨੀ | ajūnī | không vào thai sinh, | entering no womb, |
| 8 | ਸੈਭੰ | saibhaṅ | tự mình mà có, | existing of Itself, |
| 9 | ਗੁਰ ਪ੍ਰਸਾਦਿ ॥ | gur prasādi. | được biết tới nhờ ân điển của Guru. | known through the Guru's grace. |
| 10 | ॥ ਜਪੁ ॥ | Japu. | Bài Niệm. | The Recitation. |
| 11 | ਆਦਿ ਸਚੁ | Ādi sachu, | Chân thật từ thuở khởi đầu, | True at the very beginning, |
| 12 | ਜੁਗਾਦਿ ਸਚੁ ॥ | jugādi sachu. | chân thật qua mọi thời đại. | true through every age. |
| 13 | ਹੈ ਭੀ ਸਚੁ | Hai bhī sachu, | Ngay lúc này vẫn chân thật, | True even now, |
| 14 | ਨਾਨਕ ਹੋਸੀ ਭੀ ਸਚੁ ॥੧॥ | Nānak, hosī bhī sachu. | và, lời Nanak, mai sau vẫn sẽ chân thật. | and, says Nanak, true it shall ever be. |
IIIGiải Nghĩa Từng Cụm
Mul Mantar không có động từ chính. Nó là một chuỗi danh xưng đứng cạnh nhau, mỗi danh xưng nêu một phẩm tính, và người đọc phải tự nối chúng lại. Vì thế gần như cụm nào cũng có hơn một cách dịch, và các bản dịch ra tiếng Anh xưa nay khác nhau khá xa. Mười mục dưới đây đi theo đúng thứ tự nguyên văn. Ở mỗi mục, thư viện nói nghĩa chữ, nói cách chữ ấy vận hành trong câu, và ghi những chỗ các nhà chú giải đọc khác nhau.
Ký tự này ghép từ ba phần: chữ số một của Gurmukhi ੧, chữ cái đọc là oora viết ở dạng mở, và một nét cong kéo dài bên trên. Nó đọc là Ik Oankar. Phần ik là con số một, phần oankar là tiếng gọi thực thể tối cao, cùng gốc với âm Om quen thuộc trong các truyền thống tôn giáo của tiểu lục địa.
Chỗ đáng dừng lại là con số. Trong các văn bản xưa của vùng này, người ta thường đặt âm Om hay chữ Oankar lên đầu trang như một lời khai mở. Guru Nanak đặt con số một đứng trước nó. Theo cách các nhà chú giải Sikh thường đọc, con số ấy khóa nghĩa lại: Đấng được nói tới là một, không phải một trong nhiều, cũng không phải bộ ba hay một vị trong hàng chư thần.
Cách dịch khác nhau ở phần sau. Nhiều người dịch là Một Đấng Sáng Tạo, người khác dịch là Một Thực Tại, có bản dịch là Chỉ Có Một. Hardev Singh Virk, trong bài trên SikhNet, dẫn ý của D. S. Chahal đề nghị đọc ký tự này là Ek Oh Beant, nghĩa là Đấng Một ấy vô tận, với lý lẽ rằng nét cong kéo dài bên trên chỉ sự vô tận. Đa số người Sikh vẫn đọc là Ik Oankar. Mục riêng về ký tự này ở dưới nói kỹ hơn.
Chữ sati là chân thật, đúng thật, và cũng mang nghĩa đang hiện hữu. Chữ nāmu là danh, là tên gọi. Dấu u nhỏ ở cuối chữ nāmu là dấu ngữ pháp cho danh từ giống đực số ít ở vị trí chủ ngữ, không đọc thành âm riêng.
Có ít nhất ba cách hiểu. Cách thứ nhất đọc là danh của Ngài là Chân Thật, tức cụm này là một phẩm tính gắn vào Đấng vừa nói ở ký tự trước. Cách thứ hai đọc là Chân Lý chính là danh của Ngài, tức Đấng ấy không có tên riêng như một vị thần, và cái tên duy nhất đúng là chữ Chân Thật. Cách thứ ba, được The Sikh Encyclopedia nêu, hiểu sati theo nghĩa hiện hữu: Đấng ấy là cái có thật, bền vững, còn mọi thứ khác thì đổi thay.
Chữ naam trong đạo Sikh còn mang nghĩa rộng hơn tên gọi. Việc niệm nhớ danh, naam japna, là một trong ba nếp sống căn bản của người Sikh. Vì thế cụm từ này vừa là lời mô tả vừa chỉ ra đối tượng của việc niệm.
Chữ kartā là người làm ra, đấng tạo tác. Chữ purakhu cùng gốc với chữ purusha trong tiếng Phạn, nghĩa gốc là con người, nhân vị, và trong văn bản tôn giáo thường chỉ cái bản thể hiện hữu, cái tinh thần thấm khắp. Chữ này không mang nghĩa đàn ông theo giới tính.
Các nhà chú giải nhấn vào hai điều. Thứ nhất, Đấng tối cao là đấng làm ra muôn vật, tức không phải một nguyên lý đứng xa ngoài thế giới. Thứ hai, chữ purakhu cho thấy Đấng ấy có mặt bên trong những gì mình làm ra. The Sikh Encyclopedia gọi đây là niềm tin vào sự hiện diện nội tại của thực thể tối cao trong tạo vật.
Có người đọc hai chữ thành một cụm, Đấng Tạo Tác, có người tách thành hai phẩm tính, đấng làm ra và đấng hiện hữu khắp nơi. Bản dịch của thư viện giữ cả hai ý cho khỏi mất nghĩa nào.
Tiền tố nir nghĩa là không có, lìa khỏi. Bhau là sợ hãi, vair là thù oán. Hai chữ đứng liền nhau thành một cặp: không sợ ai và không thù ai.
Lẽ của cặp chữ này đi ra từ con số một ở đầu câu. Sợ là sợ một cái gì khác mình, thù là thù một cái gì khác mình. Nếu chỉ có Một thì không còn cái khác nào để sợ hay để thù. The Sikh Encyclopedia viết theo đúng mạch ấy: Đấng tối cao không thể thù nghịch ai vì chỉ có Ngài là tối thượng.
Trong cách đọc của nhiều người Sikh, hai phẩm tính này còn được xem như mẫu hình cho con người: người sống gần với Đấng ấy thì cũng tập không sợ và không thù. Đây là cách hiểu theo giáo nghĩa, thư viện ghi lại như lời người trong đạo nói về chính mình.
Đây là cụm được dịch khác nhau nhiều nhất trong Mul Mantar. Chữ akāl gồm tiền tố a là không và chữ kāl là thời gian, cũng là cái chết, vì thời gian là cái đưa mọi thứ tới chỗ mất. Chữ mūrati nghĩa gốc là hình, hình tướng, cũng chỉ tượng thờ.
Chỗ khó là đạo Sikh không thờ tượng và nói Đấng tối cao không có hình tướng, vậy mà ở đây lại có chữ mūrati. Các cách giải chia làm mấy hướng. Hướng thứ nhất dịch là hình tướng vượt thời gian, hiểu mūrati là sự hiện hữu, là thực thể, không phải hình dạng nhìn thấy được. Hướng thứ hai dịch là hiện hữu bất tử, nhấn vào nghĩa không chết của chữ akāl. Hướng thứ ba, SikhiWiki ghi lại, hiểu là một hình tướng không tồn tại trong thời gian, tức hình tướng ấy không phải loại hình mà mắt thấy và tay chạm được.
Bài trên Gurparsad.com chỉ ra một chi tiết ngữ pháp: chữ akāl không mang dấu nguyên âm ở cuối, nên nó không đứng riêng mà dựa vào chữ theo sau, và hai chữ phải đọc thành một cụm. Theo lẽ ấy thì không nên tách thành hai phẩm tính rời là vượt thời gian và có hình tướng. Bản dịch của thư viện theo cách đọc thành một cụm.
Chữ ajūnī gồm tiền tố a là không và chữ jūnī là kiếp loài, là dạng sống mà một linh hồn đi vào qua thai sinh. Cách hiểu thường gặp nhất là không vào thai, tức Đấng tối cao không sinh ra dưới hình người hay hình loài nào. The Sikh Encyclopedia đọc chữ này như lời bác bỏ thuyết hóa thân, tức niềm tin rằng thần linh giáng thế làm người. Cách hiểu thứ hai rộng hơn: Đấng ấy không thuộc về vòng sinh tử và không bị buộc vào bất kỳ loài nào. Hai cách này không chống nhau, chỉ khác chỗ nhấn.
Chữ saibhaṅ cùng gốc với chữ svayambhu trong tiếng Phạn, nghĩa là tự có. The Sikh Encyclopedia đối chiếu nó với chữ svayambhu của các Upanishad. Cần phân biệt tự có với tự sinh ra mình: Đấng ấy không do ai làm ra và không nương vào cái gì để tồn tại, chứ không phải đã từng có lúc tự tạo ra chính mình. Vì thế thư viện dịch là tự mình mà có. Dấu nhỏ trên chữ này là dấu tippi, báo âm mũi ở cuối.
Chữ gur là Guru, người dẫn từ bóng tối ra ánh sáng. Chữ prasādi là nhờ ân điển, dấu i ở cuối chỉ cách: bởi, nhờ. Cả cụm thường dịch là nhờ ân điển của Guru.
Cụm này nằm ở cuối chuỗi, và nó đổi giọng cả đoạn. Những cụm trước nói Đấng tối cao là gì. Cụm này nói con người biết tới Đấng ấy bằng cách nào: không phải nhờ tự lực, không phải nhờ nghi lễ hay khổ hạnh, mà nhờ ân điển. The Sikh Encyclopedia viết rằng sự hiểu biết về Đấng tối cao đến qua ân điển của Guru chứ không qua nghi lễ.
Các nhà chú giải hiểu chữ Guru ở đây theo hai hướng. Hướng thứ nhất hiểu là Guru của đạo, tức mười vị Guru và nay là bộ kinh Guru Granth Sahib. Hướng thứ hai, SikhiWiki ghi lại, hiểu Guru là chính Đấng tối cao trong vai người soi sáng, nên cụm này là một phẩm tính nữa của Ngài: Đấng là Guru và là ân điển. Chữ gur không mang dấu nguyên âm cuối, nên theo lẽ ngữ pháp Gurparsad.com nêu, nó đọc liền với chữ prasādi thành một cụm.
Chữ này đứng giữa hai dấu ngắt, như một tiêu đề. Nó là tên bài: Japu, nghĩa là niệm, đọc thầm, đọc lặp lại. Người Sikh thêm hai chữ kính xưng ji và Sahib, thành Japji Sahib, là tên quen gọi của bài này.
Có hai cách đọc chữ ấy. Cách phổ biến xem nó là tên của bài thơ mở đầu bộ kinh, không phải một phần của Mul Mantar. Cách thứ hai, theo những dòng truyền thừa cho rằng Mul Mantar kéo dài tới hết câu salok, hiểu chữ japu như một lời bảo: hãy niệm. Theo cách đọc ấy thì sau khi nêu các phẩm tính, văn bản dặn người đọc niệm, rồi nói điều phải niệm là Đấng chân thật từ đầu tới cuối.
Chữ ādi là khởi đầu, thuở ban sơ. Chữ jugādi ghép từ jug là thời đại, kỷ nguyên, với ādi là khởi đầu, thường hiểu là từ khi các thời đại bắt đầu, hoặc xuyên suốt các thời đại. Chữ sachu là chân thật, cùng gốc với chữ sati ở đầu Mul Mantar.
Chỗ các bản dịch khác nhau là chủ ngữ. Có người hiểu chủ ngữ là Đấng tối cao: Ngài chân thật từ thuở đầu. Có người hiểu sachu như một danh từ: Chân Lý có từ thuở đầu. Nguyên văn không có đại từ nào, nên cả hai cách đọc đều đứng được.
Câu salok này là một câu thơ ngắn hai dòng đặt trước ba mươi tám khổ pauri của bài Japji. The Sikh Encyclopedia ghi rằng nó xuất hiện lần nữa trong bộ kinh, ở chỗ mở đầu một phần của bài Sukhmani do Guru Arjan soạn, trang 285. Ở chỗ ấy chữ ਭੀ ở dòng sau được viết là ਭਿ, khác một dấu nguyên âm, nghĩa không đổi.
Chữ hai là đang là, bhī là cũng, vẫn, hosī là sẽ là. Câu thứ hai nối tiếp câu thứ nhất thành trọn ba thì: đã chân thật từ khởi đầu, đang chân thật lúc này, và sẽ còn chân thật về sau.
Chữ Nānak đứng giữa câu là chữ ký của người soạn. Trong thơ tôn giáo của vùng này, nhà thơ thường đặt tên mình vào câu cuối như một con dấu. Trong Guru Granth Sahib, cả sáu vị Guru có bài trong kinh đều ký bằng tên Nanak, nên chữ ký ấy báo rằng lời này thuộc về dòng Guru. Các bản dịch xử lý chữ này khác nhau: có bản dịch là hỡi Nanak, như thể Guru tự gọi mình, có bản dịch là Nanak nói. Thư viện chọn lối lời Nanak cho gần với chức năng chữ ký.
Hai dấu gạch đôi và con số ੧ ở cuối đánh dấu hết câu salok thứ nhất. Những người theo lối Mul Mantar dài coi chính dấu này là chỗ kết của câu gốc.
IVKý Tự Ik Onkar Và Chỗ Dừng Của Mul Mantar
Mục này nói về hai đầu của đoạn văn: ký tự mở đầu mà ai đi qua một gurdwara cũng thấy, và chỗ kết mà các nhánh trong đạo không đồng ý với nhau.
Một ký tự, ba phần
Chữ số một của bảng số Gurmukhi, đặt ở vị trí đầu tiên. Các nhà chú giải Sikh đọc nó là lời khẳng định rằng Đấng tối cao là một, và rằng điều đầu tiên cần biết không phải một tên gọi mà là một con số.
Chữ cái đầu tiên trong bảng chữ Gurmukhi, viết ở dạng mở, gợi âm O của chữ Oankar. Theo bài của Hardev Singh Virk trên SikhNet, lối đặt chữ Oankar hay âm Om lên đầu trang vốn là nếp chung của văn bản thời ấy.
Nét cong vươn lên phía trên ký tự. Cách đọc phổ biến coi nó là phần đuôi của chữ Oankar. Cách đọc của D. S. Chahal, được bài trên SikhNet dẫn lại, coi nó là dấu chỉ sự vô tận.
Ký tự ੴ có mặt ở khắp nơi trong đời sống người Sikh: trên cổng gurdwara, trên trang đầu mọi cuốn sách kinh nhỏ, trên thiệp cưới, trên tấm treo tường trong nhà. Vì vậy nó thường bị xem như một biểu tượng hình ảnh. Với người Sikh, nó trước hết là một chữ để đọc, và là chữ đầu tiên của bộ kinh.
Về quan hệ với âm Om, các nguồn nói khác nhau về chỗ nhấn. Một hướng nhấn vào chỗ liên tục: Guru Nanak dùng một chữ quen thuộc với người nghe thời ấy, và bài trên SikhNet ghi rằng giới thần học Sikh thường đọc ký tự này là Ek Oankaar chính vì lẽ đó. Hướng khác nhấn vào chỗ khác biệt: con số một được đặt thêm vào để chữ quen ấy mang một nghĩa mới, gắn chặt với ý niệm một Đấng duy nhất, không hình tướng, không nhập thế. Guru Nanak cũng có một bài dài mang tên Oankar, xếp trong phần điệu Ramkali của bộ kinh, thường được gọi là Dakhni Oankar, cho thấy chữ này là một đề tài ngài trở lại nhiều lần.
Mul Mantar dừng ở đâu
Đây là chỗ các nhánh trong đạo Sikh khác nhau thật sự, và mỗi bên có lý lẽ của mình. Thư viện tả cả hai, không chọn bên nào.
| Điểm so sánh | Lối ngắn, dừng ở Gur Prasad | Lối dài, dừng ở Hosi Bhi Sach |
|---|---|---|
| Phạm vi | Từ ੴ tới ਗੁਰ ਪ੍ਰਸਾਦਿ, mười hai chữ và một ký tự. | Từ ੴ qua tiêu đề ਜਪੁ tới hết câu salok có số ੧. |
| Ai giữ lối này | Bản quy tắc chung Sikh Rehat Maryada, và đa số các gurdwara theo bản quy tắc ấy. | Theo trang Sikh Answers: các dòng Nihang, Nirmala, Udasi và Damdami Taksal. |
| Lý lẽ chính | Dạng dừng ở Gur Prasad lặp lại 33 lần trong kinh như một khối trọn vẹn. Chữ Japu là tên bài. Nghi thức nhập đạo trong Rehat Maryada ghi Mul Mantar dừng ở Gur Prasad. | Đoạn từ Ik Onkar tới Gur Prasad là lời khai kinh, còn câu gốc trọn vẹn phải có cả câu salok. Dấu ngắt kép cùng số một ở cuối salok mới là dấu hết đoạn. Bên này dẫn thêm Var thứ 39 của Bhai Gurdas. |
| Chữ Japu | Tên bài Japji, không thuộc Mul Mantar. | Có thể hiểu là lời dặn: hãy niệm. |
Văn bản Sikh Rehat Maryada, ở điều khoản về lễ nhập đạo, ghi rằng năm người được chọn làm lễ, gọi là Panj Pyare, cùng đọc to Mul Mantar cho người nhận lễ đọc theo, và bản ấy chép Mul Mantar từ Ik Onkar tới Gur Prasad. Đây là căn cứ văn bản rõ nhất cho lối ngắn.
Về phía lối dài, trang Sikh Answers dẫn rằng ở lối vào Harmandir Sahib có một bản khắc Mul Mantar theo lối dài, đặt từ thế kỷ mười chín. Thư viện chưa tự kiểm được chi tiết này bằng một nguồn thứ hai nên chỉ ghi lại như lời dẫn của bên giữ lối dài.
Bài trên Gurparsad.com đưa thêm một lý lẽ ngữ pháp nghiêng về lối ngắn: các chữ mang dấu nguyên âm cuối như nāmu, purakhu, nirvairu là những phẩm tính đứng trọn, còn các chữ không mang dấu như akāl, gur thì dựa vào chữ sau. Chuỗi phẩm tính khép lại ở prasādi, và theo tác giả thì kéo dài thêm sẽ làm vỡ mạch ấy. Bên giữ lối dài đọc cùng văn bản ấy theo cách khác, như bảng trên đã tả.
Dù hiểu Mul Mantar dừng ở đâu, cả hai bên đều đọc trọn đoạn từ Ik Onkar tới hết câu salok mỗi khi bắt đầu bài Japji, vì đó là thứ tự của văn bản. Chỗ khác nhau nằm ở việc gọi tên và ở chuyện khi đọc riêng Mul Mantar thì đọc tới đâu, chẳng hạn trong nghi thức nhập đạo hay khi niệm lặp đi lặp lại.
VGuru Nanak, Bài Japji Và Năm Bài Buổi Sáng
Mul Mantar là lời mở của bài Japji, và Japji là bài đầu tiên trong chuỗi kinh buổi sáng mà người Sikh gọi là Nitnem, nghĩa là nếp thường ngày. Muốn hiểu vì sao câu gốc được đọc mỗi sáng thì cần đặt nó vào hai khung ấy.
Bài Japji của Guru Nanak
Theo The Sikh Encyclopedia, Japji gồm một câu salok mở đầu, ba mươi tám khổ gọi là pauri và một câu salok kết, câu kết này có người cho là của Guru Angad. Bài được mọi người thừa nhận là của Guru Nanak, dù trong kinh nó không ghi tên riêng vị Guru nào ở tiêu đề. Khác hẳn gần như mọi bài khác trong bộ kinh, Japji không được xếp vào điệu nhạc nào. Nó được đọc thành lời chứ không hát theo điệu, và đó là một lý do nó hợp với giờ tụng riêng lúc sáng sớm.
Về thời điểm soạn, The Sikh Encyclopedia ghi hai ý kiến. Một ý kiến cho rằng bài được sắp thành dạng hiện nay vào những năm cuối đời Guru Nanak ở Kartarpur, có thể do Bhai Lahina, tức Guru Angad sau này, gom lại. Ý kiến kia dựa vào một đoạn của bộ Puratan Janamsakhi, kể rằng Guru Nanak nói ra bài này ngay lúc chứng ngộ. Hai ý kiến chưa được ngã ngũ.
Ở khổ pauri thứ tư, bài Japji có câu ਅੰਮ੍ਰਿਤ ਵੇਲਾ ਸਚੁ ਨਾਉ ਵਡਿਆਈ ਵੀਚਾਰੁ, phiên âm amrit velā sachu nāu vaḍiāī vīchāru, thư viện tạm dịch là: vào giờ cam lộ, hãy nhớ Danh chân thật và suy ngẫm sự lớn lao của Ngài. Chữ amrit vela, giờ cam lộ, là tên người Sikh gọi quãng thời gian trước bình minh. Như vậy chính bài kinh đọc lúc sáng sớm đã nói tới giờ sáng sớm. Ở trang 305 của bộ kinh, trong bài Var điệu Gauri, Guru Ram Das còn tả người tự nhận là học trò của Guru thì dậy sớm, tắm gội và niệm danh.
Năm bài buổi sáng
Bản Sikh Rehat Maryada ghi Nitnem buổi sáng gồm ba bài: Japji, Jaap và mười khổ Savaiye bắt đầu bằng chữ sarawag sudh. Buổi chiều tối đọc Sodar Rehras, trước khi ngủ đọc Sohila. Tuy vậy, rất nhiều người Sikh đọc năm bài vào buổi sáng, thêm Chaupai và Anand Sahib. Năm bài này trùng với năm bài được đọc khi pha nước amrit trong lễ nhập đạo, nên chúng quen được gọi chung là năm bài. Bản quy tắc đăng trên trang của Akhand Kirtani Jatha liệt kê bảy bài thường ngày, trong đó có đủ năm bài này. The Sikh Encyclopedia cũng ghi rằng các cộng đồng thêm bài theo lệ riêng, có nơi đọc Sukhmani, có nơi đọc thêm bài khác.
| Bài | Người soạn theo truyền thống | Nằm trong | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Japji Sahib | Guru Nanak | Guru Granth Sahib, mở đầu bộ kinh | Mở bằng Mul Mantar và câu salok, gồm 38 pauri, không theo điệu nhạc. |
| Jaap Sahib | Guru Gobind Singh | Dasam Granth | Một chuỗi dài các danh xưng và phẩm tính của Đấng tối cao. |
| Tav Prasad Savaiye | Guru Gobind Singh | Dasam Granth | Mười khổ savaiya bắt đầu bằng sarawag sudh, theo Rehat Maryada. |
| Chaupai Sahib | Guru Gobind Singh | Dasam Granth | Rehat Maryada ghi đoạn đọc trong lễ nhập đạo. Nhiều người đọc trọn bài vào buổi sáng. |
| Anand Sahib | Guru Amar Das | Guru Granth Sahib, điệu Ramkali | Năm khổ đầu và khổ cuối được đọc trong kinh chiều Rehras. Buổi sáng có người đọc trọn bài. |
Ba bài Jaap, Savaiye và Chaupai nằm trong bộ Dasam Granth, bộ sách tập hợp các sáng tác gắn với Guru Gobind Singh, khác với Guru Granth Sahib. Truyền thống ghi ba bài này là của Guru Gobind Singh. Giới nghiên cứu còn trao đổi về quyền tác giả của một số phần trong Dasam Granth, nhưng các bài dùng trong Nitnem được chính bản Rehat Maryada đưa vào nếp đọc hằng ngày.
VITín Đồ Đọc Khi Nào Và Ra Sao
Mul Mantar có mặt ở rất nhiều thời điểm trong đời sống người Sikh, nhưng thời điểm quen thuộc nhất là lúc rạng sáng. Những gì tả dưới đây là nếp thường thấy, và mỗi gia đình, mỗi gurdwara có thể khác đôi chút.
Bản Sikh Rehat Maryada ghi rằng người Sikh thức dậy vào giờ cam lộ, tức khoảng ba giờ trước bình minh, tắm gội, rồi hướng tâm về Đấng duy nhất và niệm Waheguru. Sau đó là Nitnem buổi sáng, mà bài đầu tiên là Japji, nên chữ đầu tiên được đọc thành tiếng trong ngày là Ik Onkar.
Người đọc thường ngồi xếp bằng trên sàn, ở chỗ sạch và yên, đầu che bằng khăn hay turban, theo mục Nitnem của The Sikh Encyclopedia. Nhiều người đọc thuộc lòng, người khác đọc từ gutka, cuốn sách kinh nhỏ được bọc vải và cất ở chỗ cao. Japji đọc thành lời, không hát theo điệu, giọng vừa đủ nghe hoặc đọc thầm.
Mọi lần đọc Guru Granth Sahib từ đầu, dù là đọc liên tục không ngắt hay đọc dần qua nhiều ngày, đều bắt đầu ở trang một, tức bắt đầu bằng Mul Mantar. Các phần theo điệu nhạc trong bộ kinh cũng mở bằng Mul Mantar hoặc một dạng rút gọn của nó, nên người đọc gặp lại câu gốc nhiều lần trong một bộ kinh.
Theo Rehat Maryada, sau khi người nhận lễ đã uống nước amrit, năm vị Panj Pyare cùng đọc to Mul Mantar và người nhận lễ đọc lặp lại theo. The Sikh Encyclopedia gọi Mul Mantar là công thức nhập đạo, và ghi rằng nó được đọc trong nhiều dịp để cầu phúc và thánh hóa.
Ngoài việc đọc một lần ở đầu Japji, có người và có nhóm đọc riêng Mul Mantar nhiều lần liền nhau như một cách niệm. Đây là chỗ câu hỏi đọc tới đâu trở nên thực tế: người theo lối ngắn niệm tới Gur Prasad, người theo lối dài niệm tới hết câu salok.
Mỗi sớm, Guru Granth Sahib được rước vào Harmandir Sahib bằng kiệu trong lễ Prakash và mở ra đọc, rồi tiếng hát kinh kéo dài suốt ngày tới lúc rước kinh về nghỉ đêm. Nhịp ngày ấy của ngôi đền bắt đầu cùng giờ với Nitnem buổi sáng của tín đồ ở nhà.
Giữa các nhánh, chỗ khác nhau thấy rõ nhất là số bài đọc buổi sáng, ba bài theo Rehat Maryada hay năm bài theo lối nhiều người giữ, và chỗ dừng khi đọc riêng Mul Mantar. Giờ đọc thì các nguồn thư viện đã tra đều ghi giống nhau: trước bình minh, sau khi tắm. Cũng có một khác biệt về cách gọi. Người theo lối ngắn gọi đoạn từ tiêu đề Japu trở đi là phần đầu của bài Japji, còn người theo lối dài gọi cả đoạn ấy là Mul Mantar, nhưng tai người nghe thì không thấy khác, vì chuỗi chữ được đọc lên vẫn y như nhau.
Thư viện tả những việc này như người quan sát, để quý vị hiểu điều mình thấy khi bước vào một gurdwara hay khi nghe một gia đình Sikh đọc kinh buổi sáng. Chuyện đọc bài nào, đọc tới đâu là việc của mỗi dòng truyền thừa và mỗi gurdwara.
VIINhững Chỗ Hay Hiểu Lầm
Vì Mul Mantar ngắn và được in ở khắp nơi, nó cũng hay bị đọc lướt rồi hiểu lệch. Năm điểm dưới đây là những chỗ thường gặp.
Chữ Oankar cùng gốc với âm Om, nhưng Guru Nanak đặt con số một đứng trước. Theo cách đọc của các nhà chú giải Sikh, con số ấy làm cho chữ quen thuộc mang một nghĩa riêng: một Đấng duy nhất, không hình tướng, không nhập thế. Nói hai chữ giống hệt nhau là bỏ qua chính phần mà ký tự này thêm vào.
Chữ mūrati có thể chỉ tượng, nhưng đạo Sikh không thờ tượng, và trong gurdwara thứ đặt ở chỗ cao nhất là quyển kinh. Các cách giải đều hiểu chữ này là sự hiện hữu hay thực thể vượt thời gian, không phải một hình dạng làm bằng tay người.
Chữ purakhu cùng gốc với purusha, nghĩa là nhân vị, bản thể hiện hữu. Trong Mul Mantar nó chỉ Đấng tối cao như một thực thể có mặt khắp nơi trong tạo vật, không nói gì về giới tính. Các phẩm tính ngay sau nó, không vào thai sinh và tự mình mà có, cũng loại bỏ việc gán cho Đấng ấy một thân người.
Chữ Nanak trong câu salok là chữ ký của người soạn, theo lối các nhà thơ tôn giáo của vùng này đặt tên mình vào câu thơ. Câu ấy không nói Nanak chân thật mãi mãi, mà nói Đấng tối cao chân thật mãi mãi, và chữ Nanak báo rằng đó là lời của Guru.
Mul Mantar không chứa lời xin nào. Nó là một chuỗi phẩm tính, nói Đấng tối cao là gì và con người biết tới Đấng ấy bằng ân điển. Lời cầu xin trong nếp sống Sikh có chỗ riêng, là bài Ardas đọc cuối buổi lễ. Việc niệm Mul Mantar, theo giáo nghĩa của đạo, là để nhớ tới Đấng ấy, không phải để đổi lấy một điều gì.
?Hỏi Đáp Nhanh
Mul Mantar là gì
Mul Mantar, nghĩa là câu gốc, là những dòng đầu tiên của Guru Granth Sahib, kinh sách của đạo Sikh. Nó mở bằng ký tự ੴ Ik Onkar rồi nêu một chuỗi phẩm tính của thực thể tối cao: danh là Chân Thật, là Đấng tạo tác, không sợ hãi, không thù oán, vượt thời gian, không vào thai sinh, tự mình mà có, và được biết tới nhờ ân điển của Guru. Truyền thống Sikh tin rằng Guru Nanak nói ra câu này sau lần chứng ngộ bên sông Bein.
Mul Mantar kết thúc ở đâu
Các nhánh hiểu khác nhau. Bản quy tắc chung Sikh Rehat Maryada ghi Mul Mantar dừng ở cụm Gur Prasad, và đa số gurdwara theo lối này. Một số dòng truyền thừa, theo trang Sikh Answers là các dòng Nihang, Nirmala, Udasi và Damdami Taksal, cho rằng câu gốc kéo dài qua tiêu đề Japu tới hết câu salok, tức tới chữ hosi bhi sach. Khi đọc bài Japji thì cả hai bên đều đọc trọn đoạn ấy liền nhau.
Ik Onkar nghĩa là gì
Ik là con số một, Onkar là tiếng gọi thực thể tối cao, cùng gốc với âm Om. Ký tự ੴ ghép chữ số một với chữ cái oora và một nét cong kéo dài. Cách hiểu phổ biến là chỉ có Một Đấng duy nhất. Có học giả, như D. S. Chahal được dẫn trong một bài trên SikhNet, đề nghị đọc là Đấng Một ấy vô tận, coi nét cong là dấu chỉ sự vô tận.
Người Sikh đọc Mul Mantar khi nào
Mỗi sáng vào giờ amrit vela, mà bản Sikh Rehat Maryada ghi là khoảng ba giờ trước bình minh, sau khi tắm gội, người Sikh bắt đầu Nitnem bằng bài Japji, và Japji mở bằng Mul Mantar. Mul Mantar cũng mở đầu mọi lần đọc Guru Granth Sahib từ trang một, được năm vị Panj Pyare đọc cho người nhận lễ đọc theo trong lễ nhập đạo, và được một số người niệm lặp lại riêng.
Mul Mantar xuất hiện bao nhiêu lần trong Guru Granth Sahib
Theo SikhiWiki và bài phân tích trên Gurparsad.com, dạng đầy đủ dừng ở Gur Prasad xuất hiện 33 lần, chủ yếu ở chỗ mở các phần theo điệu nhạc. Gurparsad.com đếm cả các dạng rút gọn thì được 568 lần, trong đó dạng ngắn nhất chiếm 524 lần. Dạng dài có cả tiêu đề Japu và câu salok chỉ có một lần, ở trang đầu bộ kinh, còn câu salok thì lặp lại một lần nữa ở trang 285 trong bài Sukhmani.